phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2: Biện pháp tổ chức hoạt động học tập chủ đề “Rút gọn phân thức” theo hƣớng phát triển TDLG cho HS THCS Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 10 CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm tƣ duy Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm TD: Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng phê [26]: TD là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán và suy lí. Theo giáo trình tâm lí học của GS Phạm Minh Hạc [14]: TD là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và mối quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tƣợng trong hiện thực khách quan mà trƣớc đó chủ thể nhận thức chƣa biết. Theo từ điển triết học [25]: TD là sản phẩm cao nhất của cái vật chất đƣợc tổ chức một cách đặc biệt là não bộ, phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, suy luận,… TD xuất hiện trong qua trình HĐ sản xuất xã hội của con ngƣời và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối quan hệ của thực tại.
Theo Trần Ngọc Lan và Trƣơng Thị Tố Mai [20]: TD là một hiện tƣợng tâm lí, là một quá trình nhận thức bậc cao có ở con ngƣời, phản ánh hiện thực khách quan và bộ não dƣới dạng khái niệm, phán đoán, suy lí,… TD nảy sinh trong HĐ xã hội, là sản phẩm HĐ xã hội, bao hàm những quá trình nhận thức gián tiếp tiêu biểu: phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa, khái quát hóa,… Kết quả của quá trình TD là sự nhận thức về một đối tƣợng nào độ mức độ cao hơn, sâu sắc hơn. Có thể thấy có nhiều quan niệm khác nhau về TD nhƣng ta có thể hiểu TD là HĐ của não bộ, hoạt động TD là hoạt động trí tuệ, nó đƣợc diễn ra khi có sự kích thích của các giác quan nhƣ: thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác, vị giác. Sản phẩm của TD là các triết lý, lý luận, PP luận và các giải 11 pháp trong các tình huống HĐ của con ngƣời. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chọn hƣớng tiếp cận theo định nghĩa từ điển tiếng việt của Hoàng Phê (2000): “Tƣ duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật bằng những hình thức nhƣ biểu tƣợng, khái niệm, pháp đoán và suy lí” [26].
Khái niệm tƣ duy logic Theo A. Itenxơn, TDLG đƣợc hiểu là: “Tƣ duy thay thế các hành động với các sự vật có thật bằng sự vận dụng các khái niệm theo quy tắc của logic học gọi là tƣ duy logic” [10]; [11]. Theo nhóm tác giả TOM.Ozahecrh trong giáo trình “Phương pháp dạy toán ở trung học” [24], cho rằng: TD logic là loại TD trong đó yêu cầu chủ thể phải có kĩ năng rút ra các hiệu quả từ những tiên đề cho trƣớc; kĩ năng phân chia những trƣờng hợp riêng biệt và hợp chúng lại; kĩ năng dự đoán kết quả cụ thể bằng lý thuyết, kĩ năng tổng quát những kết quả thu đƣợc. Theo Vũ Văn Viên [30], trong cuốn “Tư duy logic các bộ phận hợp thành của tư duy khoa học”, tác giả đã nghiên cứu và cho rằng tƣ duy logic là giai đoạn nhận thức lý tính, sử dụng các hình thức cơ bản nhƣ: khái niệm, phán đoán, suy luận cùng các thao tác logic xác định của chủ thể, nhằm sản xuất các tri thức với mục đích phản ánh ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về hiện thực khách quan.
Theo Vƣơng Tấn Đạt [9], TDLG là TD chính xác, theo các quy luật, không phạm phải những sai lầm trong lập luận, biết phát hiện ra những mâu thuẫn, phẩm chất đó của TD có giá trị lớn trong bất kì lĩnh vực HĐ khoa học và thực tiễn nào. TD logic của con ngƣời không phải là bẩm sinh, nó phải đƣợc hình thành, rèn luyện, củng cố và phát triển thƣờng xuyên. Trong đề tài này, chúng tôi tiếp cận khái niệm về TDLG theo quan điểm sau: “Tƣ duy logic là quá trình nhận thức đối tƣợng, xác định các yếu tố 12 liên quan để hình thành và kết nối các ý tƣởng, nhằm tìm kiếm giải pháp và hành động phù hợp với ngữ cảnh của đối tƣợng”. Các bƣớc của quá trình tƣ duy logic Theo nhà tâm lí học K.
Platônôp đã tóm tắt các giai đoạn của một quá trình TDLG bằng sơ đồ 1. Các giai đoạn tư duy logic Trong sơ đồ trên, trong những trƣờng hợp cụ thể số lƣợng các giai đoạn có thể không cần đầy đủ, nhƣng thứ tự các giai đoạn phải tuân thủ theo đúng sơ đồ trên. Các giai đoạn của TD chỉ phản ánh mặt bên ngoài, cấu trúc bên ngoài của TD. Về bản chất mỗi giai đoạn của quá trình TD là một quá trình phức tạp, diễn ra trên cơ sở của các thao tác TD để giải quyết vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra.
Dựa theo quy trình TD của K. Platônôp, chúng tôi đã thống nhất với quá trình TDLG theo 5 giai đoạn dƣới đây: 13 Giai đoạn 1: Nhận diện về đối tƣợng cần nghiên cứu/ tìm hiểu: Là những nhận biết sơ bộ, đƣa ra một nhận định sơ bộ hay một giả định có giá trị về đối tƣợng. Giai đoạn 2: Tự đặt câu hỏi, câu trả lời liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu/ tìm hiểu: Là đƣa ra các câu hỏi, những thắc mắc liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đối tƣợng và dự kiến các câu trả lời… nghĩa là xuất hiện các liên tƣởng. Giai đoạn 3: Hình thành, kết nối các ý tƣởng: Từ các câu hỏi, thắc mắc đã đƣợc đƣa ra, ngƣời học nhóm các câu hỏi đơn l thành các câu hỏi lớn rồi đề xuất các phƣơng án giải quyết, biện pháp thực hiện.
Đƣa ra các giả định cho các phƣơng án đề xuất. Giai đoạn 4: Tìm kiếm giải pháp và hành động: Từ các giả định về các phƣơng án/ biện pháp giải quyết, chủ thể chọn ra một cách thực hiện đƣợc cho là khả thi nhất hoặc sẽ cho kết quả tốt nhất. Đồng thời chủ thể cũng lý giải tại sao các phƣơng án còn lại không khả thi, không hiệu quả…Sau đó, hành động theo giải pháp đã lựa chọn. Giai đoạn 5: Phân tích, đánh giá và rút kinh nghiệm: Từ các kết quả thu đƣợc sau khi thực hiện giải pháp lựa chọn, ngƣời học phân tích kết quả, đánh giá mức độ đạt đƣợc của giải pháp.
Suy ngẫm lại quá trình nghiên cứu/ tìm hiểu đối tƣợng, quá trình thực hiện giải pháp, rút ra những kinh nghiệm và kết luận, khái quát thành quy trình để vận dụng giải quyết các đối tƣợng tƣơng tự. Các thao tác tƣ duy logic Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc [18], Nguyễn Quang Uẩn [29] TDLG đƣợc xác định bởi các thao tác sau: Thao tác phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tƣợng nhận thức thành các bộ phận, các thành phần khác nhau, từ đó vạch ra đƣợc những thuộc tính, những đặc điểm của đối tƣợng nhận thức hay xác định các 14 bộ phận của một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu làm cho tổng thể đƣợc hiển minh. Thao tác tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tƣợng nhận thức đã đƣợc tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể, từ đó nhận thức đối tƣợng một cách bao quát, toàn diện hơn. Trong TD, tổng hợp là thao tác đƣợc xem là mang dấu ấn sáng tạo, khi nói ngƣời có "đầu óc tổng hợp" thì cũng tƣơng tự nhƣ nói ngƣời có "đầu óc sáng tạo".
Thao tác so sánh - tƣơng tự: là thao tác TD nhằm "xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tƣợng của hiện thực" [1]. Nhờ so sánh ngƣời ta có thể tìm ra các dấu hiệu bản chất giống nhau và khác nhau của các sự vật. Ngoài ra còn tìm thấy những dấu hiệu bản chất và không bản chất thứ yếu của chúng. Thao tác trừu tƣợng hóa – khái quát hóa: Trừu tƣợng hoá: là dùng trí óc để gạt bỏ những yếu tố, những thuộc tính, những liên hệ thứ yếu, không cần thiết của sự vật, hiện tƣợng và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho TD.
Khái quát hóa: là quá trình dùng trí óc, để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung, bản chất của sự vật, hiện tƣợng. Kết quả của khái quát hóa là cho ra một đặc tính chung của hàng loạt các đối tƣợng cùng loại hay tạo nên nhận thức mới dƣới hình thức khái niệm, định luật và quy tắc. Tóm lại: Các thao tác TD cơ bản đƣợc xem nhƣ quy luật bên trong của mỗi hành động TD, các thao tác đan chéo vào nhau mà không theo trình tự máy móc. Tùy theo từng nhiệm vụ TD, điều kiện TD, không phải mọi hành động TD nào cũng nhất thiết phải thực hiện tất cả các thao tác trên; Khi có TD tốt thì ngƣời học sẽ phát huy đƣợc tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong 15 việc chiếm lĩnh kiến thức mới ở quá trình học tập và rèn luyện của bản thân.
Từ đó, nâng cao chất lƣợng dạy và học. Vai trò của việc phát triển tƣ duy logic trong dạy học Theo R.Nickerson dạy ngƣời học TD là làm cho họ có kĩ năng TD hiệu quả hơn, có ý thức phê phán, logic, sáng tạo và sâu sắc hơn. Nói cách khác, dạy cho ngƣời học có kiến thức đủ để TD tốt (dẫn theo [2]). Ngƣời TD tốt là ngƣời có khả năng: + Sử dụng tốt các kĩ năng TD nhƣ: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và hệ thống hóa để chuyển các tri thức sang một tình huống mới.
Khi HS độc lập chuyển tải tri thức vào tình huống mới chứng tỏ ở họ đã có biểu hiện phát triển TDLG. + Tái hiện kiến thức, thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất và giải quyết hiệu quả những tình huống cụ thể. + Phát hiện cái chung của các hiện tƣợng khác nhau, sự khác nhau giữa các hiện tƣợng tƣơng tự. + Áp dụng kiến thức vào thực tiễn một cách nhanh chóng, nhuần nhuyễn.
+ Luôn suy nghĩ về cách TD, cách giải quyết vấn đề, từ đó rút ra những nhận xét về quy trình TD.