Luận án tiến sĩ về phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh dự bị đại học ở Tây Nguyên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh dự bị đại học tại vùng Tây Nguyên, nâng cao chất lượng giáo dục.

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

186
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Ngôn ngữ toán học

1.3. Tư duy và tư duy toán học

1.4. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, ngôn ngữ toán học và tư duy toán học

1.5. Kĩ năng giao tiếp và kĩ năng giao tiếp toán học. Phát triển và phát triển ngôn ngữ toán học

1.6. Cơ sở thực tiễn

1.7. Chương trình môn Toán dùng cho học sinh Dự bị đại học

1.8. Nhận xét chương trình môn Toán hệ Dự bị đại học

1.9. Đặc điểm học sinh Dự bị đại học

1.10. Khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ toán học của học sinh Dự bị đại học

1.11. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ TOÁN HỌC CHO HỌC SINH DỰ BỊ ĐẠI HỌC Ở VÙNG TÂY NGUYÊN

2.1. Một số nguyên tắc trong việc xây dựng và thực hiện biện pháp

2.2. Phù hợp với đặc điểm dạy học môn Toán trong chương trình Dự bị đại học

2.3. Phù hợp với nguyên tắc dạy học môn Toán trong chương trình Dự bị đại học

2.4. Phù hợp với tâm lí của học sinh Dự bị đại học và đặc điểm chuyên biệt về đối tượng học sinh đồng bào dân tộc thiểu số

2.5. Đảm bảo tính khả thi trong điều kiện thực tế dạy học toán hiện nay ở các trường Dự bị đại học

2.6. Một số định hướng trong việc xây dựng và thực hiện biện pháp

2.7. Tổ chức các hoạt động học tập để tạo điều kiện cho học sinh nhận thức vai trò của môn Toán trong chương trình Dự bị đại học

2.8. Khai thác triệt để vốn kiến thức, sự trải nghiệm, kinh nghiệm của học sinh để làm cơ sở cho việc kiến tạo tri thức mới

2.9. Xây dựng môi trường học tập hợp tác tích cực, luôn khuyến khích học sinh trao đổi, thảo luận, tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề

2.10. Chú trọng giúp học sinh tạo mối liên hệ giữa các nội dung lí thuyết, liên hệ vận dụng lí thuyết với thực tiễn

2.11. Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên

2.11.1. Nhóm biện pháp 1: Củng cố vốn tri thức ngôn ngữ toán học và bồi dưỡng năng lực chuyển đổi ngôn ngữ cho học sinh

2.11.2. Nhóm biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ toán học qua luyện tập sử dụng trong các tình huống dạy học điển hình

2.11.3. Nhóm biện pháp 3: Phát triển ngôn ngữ toán học qua rèn luyện các kĩ năng giao tiếp toán học (nghe, nói, đọc và viết)

2.11.4. Nhóm biện pháp 4: Phát triển ngôn ngữ toán học qua các phương pháp dạy học tích cực

2.12. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm

3.2.1. Tổ chức thực nghiệm

3.2.2. Nội dung thực nghiệm

3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.3.1. Đánh giá định tính

3.3.2. Đánh giá định lượng

3.3.3. Kết quả kiểm tra định lượng của 2 đợt thực nghiệm

3.4. Kết luận chương 3

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Nghiên cứu về ngôn ngữ toán học (NNTH) cho thấy vai trò quan trọng của nó trong việc phát triển tư duy toán học. NNTH không chỉ là công cụ giao tiếp giữa giáo viên và học sinh mà còn ảnh hưởng đến chất lượng dạy học môn Toán. Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng việc sử dụng NNTH có thể là rào cản trong việc tiếp thu kiến thức toán học, đặc biệt là đối với học sinh Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên. Thực trạng cho thấy học sinh gặp khó khăn trong việc chuyển đổi giữa ngôn ngữ tự nhiên và NNTH, điều này ảnh hưởng đến khả năng giải quyết bài toán và tư duy logic. Chương trình môn Toán hiện tại không có nội dung cụ thể về NNTH, dẫn đến việc giáo viên phải lồng ghép kiến thức này một cách ngầm ẩn. Do đó, việc phát triển NNTH cho học sinh Dự bị đại học là cần thiết để nâng cao chất lượng học tập và giúp học sinh tự tin hơn trong việc học tập ở bậc đại học.

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về NNTH đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới và trong nước. Các nghiên cứu cho thấy rằng NNTH có ảnh hưởng sâu sắc đến việc phát triển khái niệm toán học. Nhiều tác giả đã chỉ ra rằng việc hiểu và sử dụng chính xác NNTH là điều kiện tiên quyết để học sinh có thể nắm vững kiến thức toán học. Đặc biệt, trong bối cảnh vùng Tây Nguyên, nơi có nhiều học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, việc phát triển NNTH càng trở nên quan trọng. Học sinh cần được trang bị kiến thức về NNTH để có thể vận dụng vào thực tiễn và giải quyết các bài toán một cách hiệu quả.

II. Phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên

Việc phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên cần được thực hiện thông qua các biện pháp sư phạm cụ thể. Đầu tiên, cần củng cố vốn tri thức về NNTH cho học sinh, giúp các em hiểu rõ về cú pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ này. Thứ hai, việc luyện tập sử dụng NNTH trong các tình huống dạy học điển hình sẽ giúp học sinh làm quen và tự tin hơn khi sử dụng NNTH. Thứ ba, rèn luyện các kỹ năng giao tiếp toán học như nghe, nói, đọc và viết cũng là một phần quan trọng trong quá trình phát triển NNTH. Cuối cùng, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo ra môi trường học tập hợp tác, khuyến khích học sinh trao đổi và thảo luận, từ đó nâng cao khả năng sử dụng NNTH trong học tập.

2.1. Các biện pháp phát triển ngôn ngữ toán học

Các biện pháp phát triển NNTH cho học sinh Dự bị đại học bao gồm việc củng cố vốn tri thức ngôn ngữ toán học và bồi dưỡng năng lực chuyển đổi ngôn ngữ. Việc phát triển NNTH qua luyện tập sử dụng trong các tình huống dạy học điển hình sẽ giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Đồng thời, việc rèn luyện các kỹ năng giao tiếp toán học sẽ giúp học sinh tự tin hơn trong việc trình bày và giải quyết các bài toán. Cuối cùng, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình học tập một cách chủ động.

III. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là bước quan trọng để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp phát triển NNTH đã đề xuất. Mục đích của thực nghiệm là đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong việc sử dụng NNTH sau khi áp dụng các biện pháp sư phạm. Kết quả thực nghiệm sẽ được đánh giá qua các bài kiểm tra định lượng và định tính, từ đó rút ra những nhận xét về hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện. Việc thực nghiệm không chỉ giúp xác định tính khả thi của các biện pháp mà còn cung cấp thông tin quý giá cho giáo viên trong quá trình giảng dạy.

3.1. Đánh giá kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm sẽ được phân tích dựa trên các tiêu chí cụ thể như sự tiến bộ trong việc sử dụng NNTH, khả năng giải quyết bài toán và sự tự tin của học sinh trong học tập. Đánh giá định tính sẽ dựa trên phản hồi của học sinh và giáo viên về quá trình học tập, trong khi đánh giá định lượng sẽ dựa trên kết quả các bài kiểm tra. Qua đó, có thể xác định được mức độ hiệu quả của các biện pháp phát triển NNTH và điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với nhu cầu của học sinh.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ góp phần phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh dự bị đại học ở vùng tây nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận án đƣợc trình bày trong ba chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2. Phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm.

5 luan an Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới NNTH có vai trò quan trọng trong phát triển tƣ duy toán học cũng nhƣ trong trình bày và lập luận toán học. NNTH là phƣơng tiện giao tiếp giữa GV và HS trong lớp học toán.

Nó có ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng dạy học môn Toán ở trƣờng phổ thông. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về NNTH và những ảnh hƣởng của NNTH đến kết quả học tập của HS. Trong những năm gần đây, Hội nghị nghiên cứu Giáo dục toán học của Châu Âu (Congress of the European Society for Research in Mathematics Education (CERME)) đã thành lập ra các Tiểu ban nghiên cứu những vấn đề khác nhau, trong đó có một tiểu ban chuyên nghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ và toán học. Năm 1952, Hickerson đã nghiên cứu ý nghĩa của các kí hiệu số học đƣợc hình thành trong giờ học toán của HS.

Sang thập niên 70 của thế kỉ XX, Jesse Douglas (1897 - 1965) đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lực sử dụng NNTN và năng lực tƣ duy của HS. Năm 1986, Andrew Waywood đã nghiên cứu sự ảnh hƣởng của NNTH đến HS Trung học cơ sở. Năm 1986, Martin Hughes trong cuốn sách “Children and number” đã đề xuất một quan điểm về những nỗ lực có từ rất sớm của trẻ để hiểu toán học. Ông mô tả những kiến thức đáng kinh ngạc về con số mà trẻ tự biết trƣớc khi chúng bắt đầu đến lớp học.

Sự hiểu biết về những con số có trƣớc khi đến trƣờng là trở ngại trong quá trình trẻ học các kiến thức toán học trong lớp học. Năm 1988, trong công trình “Second international handbook of mathematics education”, hai nhà toán học Stigler và Baranes đã đề cập đến việc sử dụng NNTH của HS tiểu học ở Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Mỹ. Pimm (1987), Laborde (1990), Ervynck (1982) khẳng định năng lực sử dụng NNTH trong học tập toán của HS thực sự là một rào cản vì NNTH có nhiều khác biệt với ngôn ngữ sử dụng hàng ngày. 6 luan an Năm 1993, Diane L.

Miller đã kết luận rằng phát triển NNTH có ảnh hƣởng sâu sắc trong việc phát triển các khái niệm toán học [78]. Năm 1995, Eula Ewing Monroe và Robert Panchyshyn đã nghiên cứu vấn đề từ vựng của NNTH, sự cần thiết của từ vựng trong phát triển các khái niệm toán học. Năm 2007, Chard Larson đã nhấn mạnh vai trò của từ vựng toán học trong sự hiểu biết và học tập của HS trung học cơ sở. Ông tin rằng toán học là một ngôn ngữ và HS muốn thông thạo ngôn ngữ đó phải có khả năng sử dụng và hiểu đƣợc vốn từ vựng.

Với việc sử dụng các câu đố về từ vựng và các hoạt động liên quan đến từ vựng lấy từ toán học, HS sẽ tiếp thu tốt hơn sự hiểu biết về các khái niệm toán học [75]. Năm 2008, Charlene Leaderhouse đã nghiên cứu NNTH trong phân môn Hình học. Ông đã nghiên cứu về NNTH của HS lớp 6 trong học tập hình học và kết luận rằng khả năng hiểu, sử dụng chính xác thuật ngữ toán học sẽ giúp các em nắm chắc khái niệm toán học. Để học tốt môn Hình học thì trong dạy học các em cần có nhiều cơ hội thảo luận ý tƣởng cũng nhƣ thực hành sử dụng NNTH [80].

Năm 2008, Bill Barton [74] đã kết luận rằng ý tƣởng toán học hàng ngày đƣợc thể hiện khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau. Sự đa dạng xảy ra theo cách ngôn ngữ thể hiện các con số, ngôn ngữ mô tả vị trí các con số, ngữ pháp của cách diễn đạt nội dung toán học. Rubenstein đã nghiên cứu vấn đề làm thế nào để giúp GV giảng dạy môn Toán ở trƣờng Trung học phổ thông nhận ra những thách thức mà HS thƣờng gặp phải với các biểu tƣợng toán học để đề xuất các chiến lƣợc giảng dạy có thể làm giảm những khó khăn đó. Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp giúp GV biết cách sử dụng các biểu tƣợng khác nhau và xác định những khó khăn chung thƣờng gặp khi HS nói, đọc và viết kí hiệu; Đồng thời ông cũng cung cấp các phƣơng pháp giảng dạy để có thể tránh đƣợc hoặc khắc phục đƣợc những khó khăn này [93].

Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến khía cạnh NNTH và vấn đề NNTH trong dạy học môn Toán ở trƣờng Trung học phổ thông. Vấn đề phát triển năng lực sử dụng NNTH cũng đã đƣợc nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn giảng dạy ở các khía cạnh khác nhau. 7 luan an Năm 1970, Nguyễn Đức Dân viết giáo trình “Ngôn ngữ toán học”, trong đó có đề cập đến phƣơng pháp và cách trình bày một số khái niệm cơ bản, định lí và cách vận dụng logic toán, lí thuyết tập hợp để cho sinh viên mô tả và giải thích các hiện tƣợng ngôn ngữ khác nhau [20]. Năm 1981, Phạm Văn Hoàn (chủ biên), Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình khẳng định việc thể hiện đúng mối quan hệ giữa “nội dung tư tưởng toán học” và “hình thức NNTH” là cơ sở phƣơng pháp luận quan trọng của giáo dục toán học [30, tr.

Năm 1990, Hà Sĩ Hồ đã trình bày một số quan niệm và đặc điểm của NNTH. Theo đó NNTH chủ yếu là ngôn ngữ sử dụng kí hiệu, không phải là ngôn ngữ “lời nói” nhƣ trong NNTN. NNTH chủ yếu là ngôn ngữ “viết” mang đặc trƣng vừa chặt chẽ vừa uyển chuyển [31, tr. Năm 1992, Hoàng Chúng đã nghiên cứu về NNTH và việc dạy học kí hiệu toán học ở trƣờng Trung học phổ thông.

Theo tác giả thì các thuật ngữ, kí hiệu toán học đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình hình thành, phát triển của các khái niệm toán học và phƣơng pháp giải các bài toán; Một thuật ngữ, một kí hiệu phản ánh cùng một khái niệm, có thể đƣợc định nghĩa theo nhiều cách tƣơng đƣơng nhau. Tác giả lƣu ý khi dùng các kí hiệu toán học cần phân biệt: những kí hiệu phải dùng nguyên vẹn, không thay đổi; những kí hiệu nên dùng (tuy có thể thay bằng kí hiệu khác) vì đã quen thuộc với nhiều ngƣời; những kí hiệu có thể tùy ý chọn. Theo tác giả, quá trình phát triển toán học luôn đòi hỏi phải mở rộng, thay đổi một khái niệm, kéo theo việc mở rộng, thay đổi cách hiểu đối với một thuật ngữ, một kí hiệu. Trong toán học có thể dùng các kí hiệu khác nhau để chỉ cùng một đối tƣợng nhƣng không đƣợc dùng một kí hiệu để chỉ hai đối tƣợng khác nhau trong cùng một vấn đề [63, tr.

Năm 1998, các tác giả Hà Sĩ Hồ, Đỗ Đình Hoan, Đỗ Trung Hiệu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của NNTH. Theo đó, cần phải có một ngôn ngữ thích hợp với việc diễn đạt nội dung toán học, đồng thời phải khắc phục đƣợc các nhƣợc điểm của NNTH [32]. Năm 2004, trong luận án “Góp phần phát triển năng lực tư duy logic và sử dụng chính xác NNTH cho HS đầu cấp Trung học phổ thông trong dạy học đại số”, tác giả Nguyễn Văn Thuận đã đề xuất các biện pháp sƣ phạm: Tập cho HS diễn đạt một số định nghĩa, định lí theo những cách khác nhau; Rèn luyện cho HS sử dụng chính xác các phép biến đổi; Tập luyện sử dụng các thuật ngữ, kí hiệu của logic toán để diễn đạt các mệnh đề toán học [57, tr. 8 luan an Gần đây có nhiều nghiên cứu trực tiếp cũng nhƣ gián tiếp về ngôn ngữ trong dạy học môn Toán phổ thông, có thể kể đến là Trần Ngọc Bích [4], Vũ Thị Bình [5], Thái Huy Vinh [63],… Các công trình nghiên cứu này đã làm sáng tỏ quan niệm về NNTH, giao tiếp NNTH, những khó khăn, rào cản của HS khi tiếp cận với NNTH, ý nghĩa NNTH trong dạy học môn Toán ở trƣờng phổ thông.

Nhấn mạnh ý nghĩa việc rèn luyện HS hiểu đúng, sử dụng chính xác, hợp lí ngôn ngữ của lí thuyết tập hợp và logic toán cùng các kí hiệu, thuật ngữ toán học để trình bày lời giải; phải kịp thời phân tích và sửa chữa sai lầm mà HS có thể mắc phải. Khẳng định tầm quan trọng việc rèn luyện HS sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu nhằm diễn đạt nội dung toán học phải theo nhiều cách khác nhau, từ đó chọn cách theo hƣớng thuận lợi cho vấn đề cần giải quyết. Cần thiết phải giúp HS biết chuyển từ NNTH thông thƣờng sang thuật ngữ, kí hiệu của logic toán và ngƣợc lại. Đồng thời phải rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức toán học vào các bài toán thực tiễn.

Tóm lại, việc rèn luyện kĩ năng sử dụng NNTH là một biện pháp tích cực để nâng cao chất lƣợng dạy học môn Toán. HS Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên chủ yếu là ngƣời Ê đê. Trong những năm qua đã có nhiều nghiên cứu về tiếng Ê đê dƣới góc độ ngôn ngữ, có thể kể đến là: Vài nét về các ngôn ngữ Malyô - Pôlynêxia ở Việt Nam của Rơmal Del và Trƣờng Văn Sinh [21]; Luận án tiến sĩ của Đoàn Văn Phúc (2009) với đề tài Ngữ âm tiếng Ê đê [46]; Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học của Trƣơng Thông Tuần với đề tài Phương thức so sánh trong văn bản luật tục tiếng Ê đê [61]; Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học của Nguyễn Minh Hoạt (2012) với đề tài Từ loại danh từ trong tiếng Ê đê. Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học của Đoàn Thị Tâm (2012) với đề tài Hệ thống từ ngữ chỉ người trong tiếng Ê đê.

Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu dƣới góc độ ngôn ngữ tiếng Ê đê - tiếng mẹ đẻ (phƣơng ngữ) của hầu hết HS Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên. Nhƣ vậy, trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề NNTH, vai trò và những ảnh hƣởng của NNTH đến quá trình học tập của HS. Phát triển NNTH cho HS Tiểu học, Trung học cơ sở cũng nhƣ Trung học phổ thông bƣớc đầu đã đƣợc đề cập đến nhƣng chƣa có tác giả và công trình khoa học nào nghiên cứu cho HS Dự bị đại học. Đặc biệt chƣa có tác giả nào nghiên cứu, đề xuất các biện pháp nhằm phát triển NNTH cho HS Dự bị đại học ở vùng Tây Nguyên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ về phát triển ngôn ngữ toán học cho học sinh dự bị đại học ở Tây Nguyên" của tác giả Kiều Mạnh Hùng, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Thuận và PGS. Nguyễn Thanh Hưng, tập trung vào việc nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học cho học sinh dự bị đại học tại khu vực Tây Nguyên. Luận án không chỉ phân tích các phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn đề xuất các chiến lược cụ thể nhằm cải thiện kỹ năng toán học cho học sinh, từ đó giúp họ tự tin hơn trong việc tiếp cận các kiến thức toán học phức tạp.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khám Phá Vẻ Đẹp Toán Học Trong Dạy Học Toán Trung Học Phổ Thông, nơi nghiên cứu về phương pháp dạy học toán và cách khai thác vẻ đẹp của toán học trong giáo dục. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về bài toán tối ưu không lồi và ứng dụng của các thuật toán cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về các ứng dụng của toán học trong việc giải quyết các bài toán thực tiễn. Cuối cùng, Luận Văn Về Toán Tử Tuyến Tính Không Bị Chặn sẽ cung cấp thêm thông tin về các khái niệm toán học nâng cao, hỗ trợ cho việc phát triển ngôn ngữ toán học trong giảng dạy.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau về việc giảng dạy và học tập toán học.