CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC YẾU TỐ HÌNH HỌC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA HOẠT ĐỘNG BIẾN ĐỔI HÌNH 1. Điểm qua một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Vấn đề dạy học biến đổi hình cũng như việc rèn luyện, nâng cao kĩ năng giải toán cho học sinh tiểu học từ trước đến nay đã có rất nhiều nhà sư phạm quan tâm, bởi họ thấy được vai trò của hệ thống bài tập biến đổi hình và tính thiết thực của việc rèn luyện kĩ năng giải toán hình học cho học sinh tiểu học. Các tác giả như Trần Diên Hiển trong "giáo trình Bồi dưỡng Học Sinh Giỏi Toán Tiểu Học", đã xây dựng các bài tập thuộc dạng tính dện tích hình bằng cách tính gián tiếp để giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giải toán cơ bản và nâng cao phục vụ đào tạo sinh viên ngành giáo dục tiểu học. Các tác giả như: Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Hà Sỹ Hồ, Nguyễn Thị Kim Thoa, Nguyễn Hoài Anh cũng nghiên cứu các bài tập biến đổi hình nhằm bồi dưỡng học sinh có năng khiếu toán ở tiểu học.
Ngoài ra còn nhiều tác giả khác như tác giả Trần Thị Kim Cương, Nguyễn Ngọc Hải, Đỗ Trung Kiên cũng đã nghiên cứu một số bài tập về biến đổi hình, các tác giả đều cho rằng hệ thống bài tập biến đổi hình có tác dụng quan trọng củng cố các kiến thức hình học cho học sinh. Tuy nhiên số lượng bài tập cò chưa nhiều và chưa được tập hợp thành hệ thống. Với đề tài này, chúng tôi mong muốn xây dựng hệ thống bài tập có sử dụng phương pháp biến đổi hình để nhằm khai thác sâu hơn về vấn đề này. Ở nước ngoài, các bài toán về hình học đã nghiên cứu từ lâu và đã được các trường phổ thông, đặc biệt là ở Liên Xô cũ chương trình toán học được xây dựng dưới sự chỉ đạo của viện sĩ A.
Kolmogorov được áp dụng rộng rãi từ năm 1969 đến năm 1976 trong giáo trình toán học các lớp tiểu học đặc biệt lớp 4 - 5 được coi là thống nhất, liên kết các yếu tố của hình học với nhau. Đặc điểm của học sinh tiểu học 1. Tri giác Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và có tính không ổn định. Ở cấp tiểu học, tri giác thường gắn với các hành động trực quan, cụ thể (nhìn, nghe, nắm, sờ,…).
Vì vậy, để dạy học yếu tố hình học hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập và tạo cơ hội để học sinh được trực tiếp thực hiện các hoạt động trên đồ dùng nhằm phát huy tối đa sự hoạt động của các giác quan trong quá trình thu thập, tích lũy những kinh nghiệm cảm tính, phục vụ cho việc tiếp thu những kiến thức, kĩ năng hình học mới. Sự chú ý Ở cấp tiểu học, chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Trẻ chỉ quan tâm đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,.
Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập. Biết được điều này, giáo viên nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian. Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của trẻ.3 Sự ghi nhớ Giai đoạn bậc tiểu học ghi nhớ máy móc của học sinh phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu.
Do đó, giáo viên phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ 6 thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức. Tư duy Tư duy của trẻ giai đoạn đầu tiểu học mang đậm tính trực quan, cụ thể. Trong đó, tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế. Hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng.
Chính vì vậy, việc dạy học yếu tố hình học cần được tiến hành qua các hoạt động biến đổi hình, nhằm tăng cường hoạt động trên các đồ dùng (bìa giấy, sợi dây, kéo,…), giúp học sinh tạo ra, nhận dạng các đối tượng hình học ngay trong thực tế. Trí tưởng tượng Trí tưởng tượng của học sinh tiểu học, đặc biệt là trí tưởng tượng không gian đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn. Tuy nhiên, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. Qua nội dung dạy học yếu tố hình học, giáo viên cần phát triển trí tưởng tượng không gian cho các em, giúp các em có cơ hội thể hiện sự sáng tạo của bản thân.
Một trong những cách làm là: giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động biến đổi hình để tạo ra các đối tượng hình học, con vật, đồ vật khác nhau trong thực tế. Ngôn ngữ Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 2, 3 ngôn ngữ viết đã tương đối thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm.
Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ. Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ. 7 Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên giáo viên phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các hình thức hay hoạt động phong phú, giúp trẻ được tiếp nhận và phản hồi thông tin.
Tất cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng vì thế việc học trở nên dễ dàng hơn. Định hướng dạy học yếu tố hình học ở tiểu học 1. Mục tiêu ( Chương trình tiểu học) * Lớp 1: - Hình thành biểu tượng ban đầu về một số hình đơn giản: điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình tròn, hình tam giác, điểm ở trong một hình, điểm ở ngoài một hình. - Bước đầu rèn luyện kĩ năng: nhận dạng hình, vẽ đoạn thẳng có độ dài cho trước.
- Bước đầu rèn luyện óc quan sát, trí tưởng tượng, phát triển vốn từ vựng về hình học. * Lớp 2: - Nhận dạng và gọi tên đúng: Hình chữ nhật, hình tứ giác, đường thẳng, đường gấp khúc (nhận dạng tổng thể, chưa yêu cầu nhận ra hình chữ nhật cũng là hình tứ giác, hình vuông cũng là hình chữ nhật). - Biết tính độ dài đường gấp khúc khi cho độ dài mỗi đoạn thẳng của nó, tính chu vi khi cho độ dài đoạn thẳng của hình tam giác, hình tứ giác. - Biết thực hành vẽ hình theo mẫu trên giấy kẻ ô vuông, xếp ghép các hình đơn giản.
- Bước đầu làm quen với các thao tác chọn, phân tích, tổng hợp phát triển tư duy, trí tưởng tượng không gian…. * Lớp 3 - Có được một số biểu tượng về góc, góc vuông, góc không vuông; về trung điểm của đoạn thẳng; về hình tròn, tâm, bán kính đường kính của hình tròn; một số đặc điểm về các yếu tố cạnh, góc, đỉnh của hình chữ nhật, hình vuông. - Biết nhận dạng các hình chữ nhật. hình vuông theo đặc điểm về các yếu tố góc, cạnh của hình đó; nhận biết trung điểm của đoạn thẳng.
biết vẽ hình tròn bằng 8 compa, biết kiểm tra góc vuông bằng ê ke. Biết vẽ trang trí hình tròn đơn giản và biết gấp hình. Biết tính chu vi và diện tích hình chữ nhật, hình vuông theo quy tắc. - Học sinh tích cực, hứng thú học tập trên cơ sở phát triển các năng lực trí tuệ, đặc biệt là phát triển trí tưởng tượng không gian (thông qua các bài toán vẽ hình, vẽ trang trí hình tròn, về xếp ghép, phân tích, tổng hợp…).
* Lớp 4 - Nhận biết được góc vuông, góc nhọn, góc tù, góc bẹt (bằng trực giác hoặc bằng ê – ke) - Có biểu tượng về đường thẳng vuông góc, kiểm tra được đường thẳng vuông góc bằng ê – ke, đường thẳng song song, biết vẽ đường thẳng đi qua một điểm và vuông góc với một đường thẳng cho trước. - Nhận biết hình bình hành và đặc điểm của nó, biết cách tính diện tích hình bình hành. - Nhận biết hình thoi và đặc điểm của nó, biết cách tính diện tích hình thoi. * Lớp 5 - Nhận biết các dạng hình tam giác, biết cách tính diện tích hình tam giác - Nhận biết hình thang và một số đặc điểm của nó, biết cách tính diện tích hình thang - Biết cách tính chu vi và diện tích của hình tròn - Nhận biết được hình hộp chữ nhật, hình lập phương và một số đặc điểm của nó.
Biết cách tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật, hình lập phương. Biết cách tính thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương - Nhận biết được hình trụ, hình cầu 1. Đối tượng hình học Các đối tượng hình học ở giai đoạn tiểu học gồm: Hình tròn Hình tứ giác Hình chữ nhật 9 Góc vuông, góc không vuông Đường gấp khúc Đường thẳng Hình tam giác Hình vuông Góc nhọn, góc tù, góc bẹt Hai đường thẳng vuông góc Hai đường thẳng song song Hình bình hành Hình thoi Hình thang Hình hộp chữ nhật Hình lập phương Hình trụ Hình cầu b.