CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. MỐI LIÊN HỆ GIỮA TOÁN HỌC VÀ THỰC TIỄN 1. Toán học với đời sống hàng ngày của con người Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên phải đối mặt với những hoàn cảnh, trong đó có những tình huống cần đến tính toán, lựa chọn cách thức giải quyết, trả lời cho những câu hỏi đặt ra trong cuộc sống. Cuộc sống của con người ngày càng phong phú, với nhiều biến động cần phải ứng phó, giải quyết, vì vậy nhu cầu sử dụng toán học để tính toán, định lượng và tìm phương án giải quyết những vấn đề trong thực tiễn.
Con người có thể dễ dàng bắt gặp những “hình ảnh” của toán học trong thiên nhiên: mặt hồ yên ả là hình ảnh của mặt phẳng; những đóa hoa hướng dương hình tròn, có số cánh được bố trí theo các số hạng của dãy Fi-bô- na-xi; những chiếc tổ ong được xây dựng một cách khéo léo theo những hình lục giác đều,… Galilê nói: “Thiên nhiên cũng biểu đạt bằng ngôn ngữ toán thông qua hình tròn, hình tam giác và các hình toán học khác”. Thiên nhiên thật đẹp theo một cách hấp dẫn con người, khiến con người không ngừng khám phá và cải tạo thế giới. Trong lao động, chúng ta càng dễ bắt gặp những vấn đề toán học dễ thấy và thiết thực nhất là để tạo ra của cải cho xã hội, con người đã phải tính toán đến vấn đề tiêu thụ để thu lãi về là lớn nhất. Bởi vậy, họ phải tính toán đến tất cả các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp chất lượng và giá thành sản phẩm, nguồn nguyên liệu,.
Tất cả những vấn đề đó đều vai trò của toán học thể hiện trong đó. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các khoa học - trong đó có Toán học ngày càng phát triển, được ứng dụng và phổ biến đối với mọi người. Nếu như nhà khoa học có nhiều điều kiện để nghiên cứu và phát triển toán học ở mức độ trừu tượng cao, thì với đa số chúng ta, nhất là với các em HS thì điều quan trọng là hiểu bản chất, sử dụng được Toán học như một công cụ để 8 ước lượng, đo lường, tính toán,. trong những tình huống thông thường như đi đường, xác định kích thước (chiều cao, chiều rộng,.
Trong quá trình hội nhập và phát triển ngày càng mạnh mẽ của xã hội 4.0 hiện nay ngày càng trở nên nhân tạo và vai trò của toán học cũng vì thế mà ngày càng lớn. Tuy không phải hiện tượng thiên nhiên, hoạt động xã hội nào cũng có thể được mô phỏng qua mô hình toán học nhưng không gì có thể ngăn cản sự tìm tòi, sáng tạo và khao khát chinh phục những miền kiến thức mới trong thực tế của các nhà toán học. Nhà triết học Socrates đã nói một câu nói rất nổi tiếng cách đây hàng nghìn năm: “Hãy đo, hãy đo, dù không phải lúc nào cũng đo được”. Với vai trò và ứng dụng to lớn của mình, toán học đã trở thành một khoa học cơ bản, là công cụ hữu ích giúp loài người giải quyết được nhiều bài toán thực tiễn.
Mối quan hệ giữa Toán học và các khoa học khác Vai trò của toán học được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, công nghệ, kinh tế, y học, sinh học, văn học… nó được thể hiện rõ ràng và dễ thấy nhất qua những mối quan hệ bằng nhau, lớn hơn, nhỏ hơn của hai đại lượng là mối quan hệ cơ bản về số lượng và hình dạng không gian của thế giới khách quan và trong thực tiễn khoa học đời sống. Khoa học và toán học có mối liên hệ mật thiết với nhau, đặc biệt là trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên như hóa học, thiên văn học và vật lý (bao gồm cả cơ học, nhiệt học, điện học, quang học). Học sinh không nắm vững các kỹ năng toán học cơ bản sẽ gặp khó khăn trong việc đọc các biểu đồ và đồ thị. Toán học có thể giúp học sinh giải quyết các vấn đề hóa học, hiểu chuyển động của các hành tinh và phân tích các nghiên cứu khoa học.
Toán học cũng quan trọng trong khoa học thực tế, chẳng hạn như kỹ thuật và khoa học máy tính. Học sinh có thể phải giải phương trình khi viết chương trình máy tính và 9 tìm ra thuật toán. Toán học - trong đó phải kể đến Xác suất - Thống kê có tác dụng quan trọng trong những nghiên cứu khoa học sức khỏe thuộc lĩnh vực Y - Dược học. Toán học trợ giúp thiết lập những mô hình toán học tối ưu trong kinh tế học, trực tiếp là công cụ tính toán, giải bài toán kinh tế một cách rất hiệu quả.
Văn học có vẻ khác xa so với toán học, nhưng việc nắm vững số học cơ bản có thể giúp học sinh hiểu thơ tốt hơn. Số câu, số chữ cần viết trong một dòng và ảnh hưởng của nhịp điệu nhất định đối với người đọc đều có liên quan tới toán học. Ở một mức độ bình thường hơn, toán học có thể giúp học sinh lập kế hoạch cho các bài tập đọc trong các lớp văn bằng cách xác định thời gian đọc trung bình của các em và ước tính xem các em sẽ mất bao lâu để đọc một tác phẩm cụ thể. Tư duy logic, tuyến tính được sử dụng trong các bài toán cũng có thể giúp học sinh viết rõ ràng và logic hơn.
Các môn học xã hội, chẳng hạn như lịch sử, thường yêu cầu học sinh xem lại các biểu đồ và đồ thị cung cấp dữ liệu lịch sử hoặc thông tin về các nhóm dân tộc. Trong các lớp học địa lý, học sinh có thể cần hiểu độ cao của một khu vực ảnh hưởng như thế nào đến dân số của khu vực đó hoặc lập biểu đồ mức độ mà các nhóm dân cư khác nhau có tuổi thọ trung bình khác nhau. Kiến thức về các thuật ngữ và công thức toán học cơ bản giúp thông tin thống kê có thể truy cập được. Học sinh quan tâm đến việc theo đuổi sự nghiệp trong sân khấu, âm nhạc, khiêu vũ hoặc nghệ thuật có thể được hưởng lợi từ kiến thức toán học cơ bản.
Nhịp điệu âm nhạc thường tuân theo các chuỗi toán học phức tạp và toán học có thể giúp học sinh học các nhịp điệu cơ bản của điệu múa được sử dụng trong các buổi biểu diễn múa ba lê và sân khấu. Nghệ thuật phát triển mạnh về hình học và học sinh hiểu các công thức hình học cơ bản có thể tạo 10 ra các tác phẩm nghệ thuật ấn tượng. Các nhiếp ảnh gia sử dụng toán học để tính toán tốc độ cửa trập, độ dài tiêu cự, góc chiếu sáng và thời gian phơi sáng,. Như vậy, có thể nói: Toán học là một khoa học có vai trò công cụ hữu hiệu trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, không chỉ thông qua những phương pháp tính toán cụ thể mà còn ở những mô hình toán học trong cuộc sống.
NĂNG LỰC MÔ HÌNH HÓA 1. Về năng lực Từ đầu thế kỉ XX đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa nhiều ý kiến khác nhau về bản chất và nguồn gốc của NL, tài năng. Trên cơ sở đó các ý kiến đó đã được tổng quát và thống nhất với cơ sở từ các quan điểm cơ bản, trọng tâm về lí luận cũng như thực tiễn: + Đầu tiên, ta phải công nhận những yếu tố liên quan đến di truyền, bẩm sinh là yếu tố cần thiết cho sự phát triển NL ban đầu. Có thể nói đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ mà đây chỉ là nền móng đầu tiên cho sự phát triển, để phát huy hết khả năng mỗi con người cần có sự học tập, rèn luyện và trải nghiệm để trở nên hoàn thiện những NL, năng khiếu của mỗi người.
Và ngược lại NL của mỗi cá thể còn có thể hình thành và phát triển trong suốt quá trình tìm tòi, khám phá bản thân. + Thứ hai, NL của con người có ảnh hưởng to lớn từ nguồn gốc của xã hội, lịch sử và hoàn cảnh sống. Mỗi người từ khi sinh ra đã tồn tại một số phẩm chất nhất định cho sự phát triển các NL tương ứng, nhưng các phẩm chất và tố chất đó cần có một môi trường để cấu thành nên các NL và phát huy nó. Qua quá trình hình thành và phát triển, xã hội được con người cải tạo, xây dựng tinh hoa và để lại các dấu ấn đó cho các thế hệ sau trong môi trường văn hóa - xã hội đây được coi là một môi trường lí tưởng để phát triển những 11 NL của mỗi người.
+ Thứ ba, nguồn gốc của NL còn có thể từ các hoạt động và các sản phẩm của các hoạt động. Môi trường xã hội tự nhiên được các thế hệ trước tạo ra và xây dựng và con người khi sống trong đó phải chịu sự tác động của xã hội, vì thế con người thế hệ sau không chỉ đơn giản tận dụng hay thích ứng với các thành tựu của các thế hệ trước để lại, mà còn cải tạo, phát triển xã hội để tạo ra kết quả mới hoàn thiện hơn cho các hoạt động của các thế hệ tiếp theo. Năng lực của người học Ngày nay, khi xây dựng chương trình giáo dục, xu hướng các nước không chỉ chú trọng đến phần kiến thức, kĩ năng mà ngày càng quan tâm hơn phát triển NL cho học sinh. Yêu cầu phát triển NL trong chương trình giáo dục ở các trình độ đã trở thành xu hướng chung của thời đại.
Về cơ bản, những kết quả nghiên cứu cho thấy: NL được hiểu là khả năng vận dụng một cách tổng hợp những kiến thức, kĩ năng, thuộc tính của con người, … để tiến hành một loại hoạt động nào đó, đạt được kết quả tốt. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, NL được phân chia thành hai loại. Một là NL chung, hai là các NL đặc thù của môn học. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, NL chung gồm có 3 thành phần cốt lõi là “NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL GQVĐ và sáng tạo” ([6]).
Đối với môn Toán, trong chương trình môn Toán 2018 ([7]), bên cạnh những những NL chung, đặc thù khoa học tính toán đã được cụ thể hóa thành 5 thành phần cốt lõi của NL toán học cần hình thành và phát triển qua môn Toán cho HS phổ thông, bao gồm: “NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hoá toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán”.