CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT KĨ THUẬT DẠY VIẾT SÁNG TẠO VĂN KỂ CHUYỆN Ở LỚP 4, 5 1. Quan niệm về sáng tạo và các đặc điểm căn bản Viết được coi là sáng tạo khi người ta sử dụng nó để định hình một suy nghĩ - nhào nặn nó, gói ghém nó trong một định dạng văn bản cụ thể và chia sẻ cho người khác. Viết sáng tạo không chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng hoặc cảm hứng, cảm xúc, mặc dù nó có thể bắt đầu từ trí tưởng tượng. Nó cũng có thể bắt đầu bằng một cuộc phỏng vấn hay là trải qua một thời gian nghiên cứu miệt mài.
Thứ khiến cho viết lấp đầy sự sáng tạo là khi bản thân người viết có một cái nhìn sâu sắc, sự quan sát tinh tế, lắng nghe thận trọng để viết về những ý tưởng và sự thật. Một cây viết tốt sẽ chau chuốt một suy nghĩ, kết hợp các sự kiện, ý tưởng để tạo ra những câu chuyện, những thông điệp và thể hiện được một cái nhìn sâu sắc. Theo tâm lí học hiện đại, năng lực tư duy sáng tạo - bậc cao nhất của hoạt động trí tuệ con người, có tầm quan trọng vô cùng đặc biệt đối với sự phát triển các nền văn minh của loài người. Năng lực tư duy sáng tạo không chỉ giúp con người giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống một cách thích hợp mà còn đảm bảo cho việc hiện thực hóa những năng lực tiềm tàng của mỗi cá nhân.
Vì vậy sáng tạo luôn là một thuộc tính nhân cách mong muốn của con người và được coi là một trong những mục đích giáo dục toàn cầu. Tầm quan trọng của năng lực tư duy sáng tạo trong hoạt động học tập và hoạt động thực tiễn được nhận thức sâu sắc và đang từng bước thực hiện thành chương trình hành động cụ thể trong giáo dục và dạy học. Việc phát triển năng lực tư duy sáng tạo nói riêng, hoạt động sáng tạo nói chung trong chương trình học tập của HS là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách không chỉ bởi đòi hỏi của xã hội ngày nay: “đổi mới tư duy”, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của HS mà còn là yêu cầu tự thân của quá trình dạy 13 học, quá trình đổi mới phương pháp dạy và học, đổi mới giáo dục. Đặc biệt, vấn đề năng lực tư duy sáng tạo của học sinh tiểu học đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu.
Thứ nhất, hoạt động của trẻ có được gọi là hoạt động sáng tạo không và tư duy sáng tạo đã có ở trẻ hay chưa? Nếu có thì nó đã phát triển chưa hay mới chỉ là bước đầu hình thành? Vugotxky L.X - nhà tâm lí học Nga, trong nghiên cứu “Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi”, cho rằng: “Sự sáng tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm lịch sử vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa so với sự sáng tạo của các bậc thiên tài” [42, tr. Và ông cũng khẳng định: “Một trong những vấn đề quan trọng nhất của tâm lý học thiếu nhi và giáo dục học là vấn đề sự sáng tạo ở thiếu nhi, sự phát triển của các năng lực sáng tạo và ý nghĩa của công việc sáng tạo đối với sự phát triển chung và sự trưởng thành của trẻ em”[42, tr. Như vậy hoàn toàn có sự tương đồng giữa quá trình sáng tạo của HS và quá trình sáng tạo của các nhà khoa học, nhà sáng chế. Chẳng hạn với nhà khoa học, khởi nguồn cho sự sáng tạo là niềm say mê với vấn đề khoa học thì với HS tiểu học, nguồn cảm hứng, kích thích cho hoạt động sáng tạo được biểu hiện qua dấu hiệu: thích hỏi, tò mò và hay thắc mắc.
Với nhà khoa học bắt đầu công việc sáng tạo từ một câu hỏi thì với HS tiểu học, sự sáng tạo thể hiện qua việc đưa ra những câu hỏi khó và sâu về một chủ đề học tập. Quá trình sáng tạo của HS tiểu học được biểu hiện trong quá trình học tập như đưa ra những lý do hợp lý cho những câu trả lời; tìm ra cách giải quyết vấn đề hay và độc đáo (chẳng hạn giải được các bài toán khó với cách giải hay, mới lạ và độc đáo; viết được các bài văn hay, súc tích và giàu hình ảnh); tìm ra câu trả lời chính xác và sắc sảo cho câu hỏi hoặc yêu cầu của GV; tìm ra nhiều cách giải quyết cho cùng một vấn đề học tập (chẳng hạn tìm ra nhiều cách giải cho một bài toán, đưa ra nhiều câu trả lời khác nhau và độc đáo cho một vấn đề); 14 biết phát hiện, giải quyết vấn đề, biết cách học và tự học. Tóm lại, có thể khẳng định HS tiểu học đã thể hiện được năng lực tư duy sáng tạo. Thứ hai, mức độ tư duy sáng tạo của HS tiểu học như thế nào? Theo tác giả Nguyễn Huy Tú, việc phân biệt các mức độ sáng tạo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục và đào tạo con người.
Ông đã phân chia sáng tạo thành năm mức độ sau: 1) Sáng tạo biểu hiện là mức sáng tạo cơ bản nhất không đòi hỏi kĩ năng quan trọng nào; 2) Sáng tạo chế tạo là mức sáng tạo cao hơn sáng tạo biểu hiện; 3) Sáng tạo phát kiến là sự đề xuất sáng kiến hay phát kiến; 4) Sáng tạo cải biến là mức sáng tạo cao, thể hiện sự hiểu biết sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc các kiến thức chuyên môn; 5) Sáng tạo phát minh là mức độ sáng tạo cao nhất, có đặc trưng là tạo ra những sản phẩm vật chất hay tinh thần hoàn toàn mới, những cách thức hành động chưa từng có trong kinh nghiệm [40, tr. Theo nhận định của ông, sáng tạo của HS tiểu học chủ yếu ở cấp độ đầu tiên: sáng tạo biểu hiện. Đồng thời cũng có những biểu hiện của sáng tạo chế tạo và sáng tạo phát kiến. Đây là những dạng cơ bản nhất và là bậc quan trọng nhất của sáng tạo vì không có nó thì sẽ không có một sự sáng tạo nào cao hơn.
Thứ ba, biểu hiện một số yếu tố của tư duy sáng tạo ở HS tiểu học như thế nào? Bộ trắc nghiệm sáng tạo TSD - Z của Klaus K.Urban được ứng dụng ở Việt Nam (do nhóm nghiên cứu, đứng đầu là Nguyễn Huy Tú thực hiện năm 2006) đã đưa ra nhiều kết luận, trong đó khẳng định: “Mức độ sáng tạo của nam và nữ HS tiểu học ở Việt Nam là tương đương nhau nhưng có sự khác biệt về mức độ sáng tạo ở từng nhóm đối tượng HS: khá, giỏi, trung bình, yếu (cùng độ tuổi)”. Tóm lại, có thể khẳng định HS tiểu học, đặc biệt là HS cuối cấp đã có có đầy đủ các điều kiện cần thiết cho hoạt động nhận thức nói chung, hoạt động sáng tạo nói riêng. Tuy nhiên, các khả năng này mới ở mức độ ban đầu, sơ đẳng nên hoạt động sáng tạo của các em cũng chỉ dừng ở mức tạo ra những cái mới đối với bản thân, kể cả tri thức, kinh nghiệm tích luỹ được cũng như cách thức, con đường chiếm lĩnh những 15 tri thức, kinh nghiệm ấy. Cùng với sự phát triển các khả năng nhận thức khác, tư duy sáng tạo của HS tiểu học, đặc biệt là HS các lớp cuối cấp tiểu học tuy ở mức đầu sơ giản nhưng cũng đã mang những nét đặc trưng cơ bản nhất của tư duy sáng tạo như tính mềm dẻo, linh hoạt, độc đáo và thể hiện ở các mức độ khác nhau giữa các nhóm đối tượng HS.
Trong dạy học, việc phân biệt mức độ không phải là vấn đề quan trọng, mà quan trọng hơn, người GV phải nhận diện được những yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo thể hiện ở mỗi cá nhân HS để có tác động phù hợp làm cho nó phát triển toàn diện hơn. Đặc điểm về nhận thức, giao tiếp và năng lực sáng tạo của học sinh tiểu học a) Đặc điểm nhận thức Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người: nhận thức, tình cảm và hành động. Mỗi lứa tuổi có những đặc điểm riêng biệt về mặt tâm lí. Điểm đặc biệt của giai đoạn tiểu học: chuyển dần từ hoạt động vui chơi là chủ yếu sang hình thành và phát triển hoạt động học tập, chuyển dần nhận thức cảm tính sang nhận thức lí tính.
Tìm hiểu sự phát triển nhận thức của học sinh là việc làm cần thiết và hữu ích để có cách thức, phương pháp dạy học phù hợp. Sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học có những điểm cần lưu ý. - Về tri giác: còn mang tính chất đại thể và tính không chủ định. Học sinh tri giác những yếu tố mang lại xúc cảm như màu sắc, sự chuyển động hơn là dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng.
Những lớp đầu cấp, tri giác cần gắn với hành động cụ thể như cầm, nắm, nghe. Càng về sau, học sinh biết tri giác các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, nhận biết mối liên hệ giữa đối tượng và thuộc tính của chúng. - Về tư duy: học sinh tiểu học vẫn gắn nhận thức với hành động nên tư duy trực quan hành động vẫn phát triển. Ở các em đang có sự chuyển từ tư duy hành động sang tư duy trực quan và phát triển dần tư duy trừu tượng.
Giai đoạn đầu, các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, 16 trừu tượng hoá… vẫn còn sơ khai, được màu sắc của xúc cảm nhưng dần dần sẽ được hình thành và phát triển trong quá trình học tập và tưởng tượng: phát triển từ tưởng tượng dựa trên đối tượng cụ thể đến tưởng tượng trên cơ sở của ngôn từ. Thời gian đầu, tưởng tượng của học sinh còn tản mạn, về sau logic hơn. Các em đã có thể kể một câu chuyện dựa trên trí tưởng tượng của mình. Đó không phải là nói dối như người lớn vẫn nhầm tưởng, mà đó là biểu hiện của sự hòa quyện giữa tưởng tượng phóng khoáng với hiện thực.
- Về trí nhớ: mang tính chất hình ảnh, cụ thể và trực tiếp nhưng về sau trí nhớ dựa trên ngôn ngữ sẽ xuất hiện và hành động hiệu quả hơn. Tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong ghi nhớ lẫn tái hiện và khả năng ghi nhớ máy móc của các em là rất tốt.