mở đầu cho cụm bài VBND, của tác giả Thúy Lan đăng trên báo “Ngƣời Hà Nội”. + Giới thiệu về cây cầu Long Biên, một di tích lịch sử nổi tiếng và thân quen ở Thủ đô Hà Nội, với vai trò là một nhân chứng đau thƣơng của việc Thực dân Pháp xây dựng cây cầu với qui mô lớn, nhằm phục vụ cho cuộc cai trị và đặt ách đô hộ, khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Cây cầu cũng đã trở thành nhân chứng lịch sử của những tháng năm gian lao mà hào hùng suốt hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ của dân tộc ta. 19 hể loại, đ hƣơng thức biểu đạt chính là thuyết minh kết hợp miêu tả và biểu cảm.
Bằng các sự kiện, các tƣ liệu chính xác, sinh động về cây cầu, đan xen các hình ảnh lịch sử tái hiện trên nền của cảm xúc, suy tƣ của tác giả, cầu Long Biên hiện lên nhƣ một hình tƣợng sống động và chân thực, vừa gần gũi bình dị, vừa thân thƣơng, thiêng liêng trong kí ức và cảm nhận của ngƣời đọc nói riêng, của mỗi ngƣời Việt Nam nói chung. + Từ đó, tác giả cùng “Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử” khơi dậy và bồi đắp trong chúng ta tình yêu, niềm tự hào dành cho cầu Long Biên; xây dựng ý thức tự hào, cùng gìn giữ và góp tiếng nói quảng bá về di tích lịch sử cầu Long Biên nói riêng, các di tích lịch sử trên đất nƣớc ta nói chung. - Văn bản “Bức thƣ của thủ lĩnh da đỏ”: + Các nhà soạn sách lựa chọn và dẫn từ nguồn tài liệu “Quản lí môi trƣờng phục vụ phát triển bền vững” (Dự án VIETPRO – 2020, Hà Nội, 1995), in trong cuốn Chào năm 2000, NXB Đà Nẵng, 1999. + Đây là một bức thƣ nổi tiếng, đƣợc nhiều ngƣời xem là một trong những văn bản hay nhất về thiên nhiên và môi trƣờng.
Thủ lĩnh Xi-at-tơn đã gởi thƣ trả lời khi tổng thống thứ 14 của nƣớc Mĩ là Phreng-klin Pi-ơ-xơ (năm 1854) tỏ ý muốn mua đất của ngƣời da đỏ. + Ở góc độ thể loại, đây không phải là một văn bản văn học mà là một bức thƣ phúc đáp, có tính chất ngoại giao, phƣơng thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp miêu tả và nghị luận. + Xuất phát từ tình yêu thiên nhiên đất nƣớc, Thủ lĩnh đã nêu lên một vấn đề bức xúc có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống: đó là việc bảo vệ và giữ gìn sự trong lành của thiên nhiên, môi trƣờng. Qua VB, HS nhận ra thông điệp sâu sắc: con ngƣời phải biết sống hòa hợp với thiên nhiên, biết chăm lo bảo vệ môi trƣờng và thiên nhiên nhƣ bảo vệ chính mạng sống của mình.
20 - Văn bản “Động Phong Nha”: + Đây là bài viết của tác giả Trần Hoàng, đăng trong Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung bộ, NXB GD, 1998, giới thiệu về “Đệ nhất kì quan Phong Nha” của tỉnh Quảng Bình. + Phong Nha nằm trong quần thể hang động thuộc khối núi đá vôi Kẻ Bàng, v là hang động đẹp nhất ở gần con đƣờng mòn Hồ Chí Minh xuyên Trƣờng Sơn. Điều đó càng làm cho kì quan Phong Nha mang thêm nhiều giá trị, ý nghĩa. Giá trị tuyệt mĩ của Phong Nha bảy cái nhất: hang động dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất, bãi cát bãi đá rộng và đẹp nhất, hang khô rộng và đẹp nhất, thạch nhũ tráng lệ và đẹp nhất, sông ngầm dài nhất, có những hồ đẹp nhất.
+ Phƣơng thức biểu đạt chính của VB là thuyết minh kết hợp miêu tả và biểu cảm. VB khơi gợi lòng yêu quí, tự hào, thích khám phá và có ý thức chăm lo bảo thắng cảnh Việt Nam trong mỗi HS. * Các VBND của khối lớp 7: Nội dung hƣớng vào những vấn đề về quyền trẻ em, vai trò của ngƣời mẹ, gia đình và nhà trƣờng, về văn hóa. - Văn bản “Cổng trƣờng mở ra”: + Đây là bài kí của tác giả Lí Lan, trích từ báo Yêu trẻ số 166 – 1/9/2000, TP.
Văn bản không có cốt truyện, phƣơng thức biểu đạt chính là tự sự kết hợp biểu cảm. VB tâm trạng hồi hộp của ngƣời mẹ trong đêm chuẩn bị cho con bƣớc vào ngày khai trƣờng đầu tiên. + VB thể hiện những cảm xúc đan xen của ngƣời mẹ: không chỉ là sự hồi hộp, lo lắng đến không ngủ đƣợc mà còn có cả niềm vui với hồi ức của một tuổi thơ áo trắng mẹ đƣợc đến trƣờng, đƣợc hòa mình dƣới mái trƣờng thân yêu, nơi lƣu giữ bao kỉ niệm thân thƣơng của đời mẹ. Mẹ gởi gắm niềm hi vọng vào trong ƣớc mơ của con trẻ, vào ngôi trƣờng sẽ mở ra tƣơng lai tƣơi sáng cho con, và cho bao trẻ thơ khác.
21 - Văn bản “Mẹ tôi”: + VB mang tính tự truyện nhƣng đƣợc trình bày dƣới dạng một bức thƣ của nhà văn Ét – môn – đô đơ A- mi -xi ( nhà văn Italia ). + Về thể loại, đây là bài tùy bút phƣơng thức biểu đạt chính là biểu cảm tâm trạng và suy nghĩ của ngƣời bố qua bức thƣ gửi cho con – ngƣời phạm lỗi vì thốt ra lời thiếu lễ độ với mẹ khi cô giáo đến thăm. + Qua bức thƣ, ngƣời cha bộc lộ sự đau buồn và tức giận, đồng thời chia sẻ với con những suy tƣ về tình nghĩa sâu nặng của ngƣời mẹ, tác động đến nhận thức, tƣ tƣởng, tình cảm của ngƣời con ( và cả ngƣời đọc ). Những lời tâm tình, khuyên nhủ của ngƣời cha đối với con đã làm hiện lên hình ảnh một ngƣời mẹ cao cả và lớn lao: có thể hi sinh tất cả, có thể chịu mọi đau khổ bất hạnh để con đỡ đau đớn và đƣợc sống hạnh phúc.
+ Từ VB, HS thấm thía sâu sắc rằng: công lao to lớn và tình cảm sâu nặng của ngƣời mẹ có ý nghĩa nhƣ thế nào đối với con cái; đồng thời nhận ra trong cuộc đời của mỗi chúng ta, ngƣời mẹ có một vị trí và ý nghĩa hết sức thiêng liêng, cao cả. - Văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê”: + VB là truyện ngắn viết phƣơng thức tự sự với miêu tả và biểu cảm về quyền trẻ em. Trẻ em có rất nhiều quyền và điều đó đã đƣợc ghi trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc, năm 1989. Tuy vậy, hiện nay, đề tài sáng tác về quyền trẻ em không nhiều.
Đặc sắc về nội dung và hình thức thể hiện đã đem lại giải nhì cho truyện ngắn trong cuộc thi thơ – văn viết về quyền trẻ em do Viện khoa học giáo dục và Tổ chức cứu trợ trẻ em Radda Barnen – Thụy Điển – tổ chức năm 1992. + VB chủ yếu đƣợc khai thác theo tinh thần của một VBND. Truyện đề cập đến một vấn đề khá tế nhị, phức tạp hết sức đáng quan tâm (li hôn, li dị), đó là nỗi đau tinh thần mà trẻ thơ phải chấp nhận do cha mẹ gây 22 nên. Nhƣng chính từ bi kịch tan vỡ gia đình, phải sống thiếu tình cảm của cha mẹ, những đứa trẻ vẫn giữ đƣợc tâm hồn trong sáng; tình cảm anh em càng thêm yêu thƣơng, gắn bó máu thịt.
Nội dung chính của truyện không khai thác và miêu tả cảnh đổ vỡ giữa bố mẹ mà tập trung khắc họa tình cảm chân thành, gắn bó yêu thƣơng và tấm lòng vị tha, nhân hậu, trong sáng của anh em Thành, Thủy. Điều này có ý nghĩa giáo dục rất lớn không chỉ với HS khi tiếp nhận VB mà còn tác động sâu sắc đến các bậc làm cha mẹ. Sức hút của câu chuyện toát lên từ đây, dẫn dắt ngƣời đọc HS đến gần với cuộc sống một cách hiệu quả hơn là thế! + Từ câu chuyện, vấn đề quyền sống của trẻ em đang bị đe dọa trong XH hiện đại đƣợc đặt ra, rất cần đến trách nhiệm của các bậc làm cha làm mẹ ý thức trân trọng và cùng vun đắp tổ ấm gia đình. Khi lựa chọn VB này để đƣa vào chƣơng trình Ngữ văn 7, các nhà biên soạn đã có những băn khoăn khi chƣơng trình cho HS tiếp cận một vấn đề khá tế nhị và có tính “nhạy cảm” của ngƣời lớn.
Thế nhƣng xuất phát từ vấn đề trong cuộc sống thƣờng nhật, nhất là tiếp cận với một vấn đề XH, liên quan đến quyền cần thiết. - Văn bản “Ca Huế trên sông Hƣơng”: + VB là bài viết của tác giả Hà Ánh Minh, đăng trên báo Người Hà Nội. Đây không phải là một sáng tác văn học có tính hƣ cấu, mà chỉ là bài bút kí, phƣơng thức biểu đạt chính là thuyết minh, kết hợp yếu tố biểu cảm, giới thiệu về một sản phẩm văn hóa nổi tiếng của một địa danh cố đô Huế. Đó là thú nghe ca Huế trên sông Hƣơng thơ mộng – một nét đẹp văn hóa cần đƣợc mọi ngƣời biết đến, cần đƣợc bảo tồn, giữ gìn và phát triển.
+ VB giúp ngƣời đọc cảm nhận ca Huế không chỉ phong phú ở các điệu hò, điệu lí, là sự kết hợp hài hòa giữa dòng nhạc dân gian và nhạc cung 23 đình, mà còn là cách sinh hoạt độc đáo giữa không gian đêm trăng thanh trên dòng Hƣơng Giang thơ mộng, hòa trong không gian âm nhạc với nhạc công, ca công và tâm hồn ngƣời thƣởng thức. + Qua VB, HS hiểu thêm không chỉ có các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng mà còn làm say lòng ngƣời bởi các làn điệu dân ca và âm nhạc cung đình. Ca Huế là một sản phẩm tinh thần quí giá cần đƣợc bảo tồn và phát triển. Từ đó, HS hiểu hơn về các làn điệu dân ca của đất nƣớc, văn hóa dân tộc.
* Các VBND của khối lớp 8: Tập trung vào các vấn đề cơ bản nhƣ môi trƣờng, dân số, các tệ nạn xã hội. - Văn bản “ Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000” : + VB là tài liệu khoa học của Sở Khoa học Công nghệ Hà Nội, thuộc đề tài bảo vệ môi trƣờng. VB đƣợc soạn thảo dựa trên bức thông điệp của 13 cơ quan nhà nƣớc và tổ chức phi chính phủ, phát đi ngày 22 tháng 4 năm 2000, nhân lần đầu tiên Việt Nam tham gia hoạt động Ngày Trái Đất. + Đây là VB thuyết minh về một vấn đề khoa học thể hiện dƣới hình thức lời kêu gọi, nên từ ngữ trong VB đƣợc sử dụng tƣơng đối dễ hiểu, góp phần đem lại hiệu quả cao khi tác động nhận thức và thống nhất hành động ở mỗi bao bì ni lông đối với môi trƣờng và sức khỏe của con ngƣời.