Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học các bài Ngữ cành và Nghĩa của câu ở khối 11 trường THPT Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 11 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp Tích hợp là một cách tiếp cận khoa học, tích hợp ban đầu có tên gọi là: Liên hệ (permeatition), kết hợp (Combination), phối hợp (coordination), tích hợp (integration). Quan điểm tích hợp xuất phát từ cách nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và con người như một chỉnh thể thống nhất, nó đối lập với cách nhìn chia tách, rạch ròi đối với sự vật, hiện tượng trong hiện thực. Có nhiều cách nhìn nhận và nghiên cứu vấn đề tích hợp từ góc độ khác nhau.
- Theo từ điể n Tiế ng Viê ̣t tić h hơ ̣p là sự kết hợp những hoạt động khác nhau thành một khố i chức năng. Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất , sự hòa hợp, sự kế t hợp. - Theo Từ điển Giáo dục học tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy [14]. Kế hoạch giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học.
Cũng theo các tác giả của từ điển này, có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau. Tích hợp dọc là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau còn tích hợp ngang là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề [14]. - Trong chương trình THPT môn Ngữ văn năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc [5]. - Theo Dương Tiến Sỹ [21]: Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức( khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành 12 z một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó.
- Theo Nguyễn Thanh Hùng [15] thì: Tích hợp là quan điểm hòa nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóa những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất. Dạy học tích hợp các khoa học được UNESCO định nghĩa là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau. Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận khái niệm và nguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung. Quan điể m tić h hơ ̣p trong da ̣y ho ̣c thường đươ ̣c thể hiê ̣ n ở các khiá cạnh sau: - Tích hợp nhiều kĩ năng trong một môn học.
- Tích hợp kiến thức các môn học khác nhau qua môn học đang dạy - Tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa. - Tích hợp kiến thức lí thuyết và thực tiễn. - Tích hợp những kiến thức , kĩ năng, thái độ cần được dạy trong tất cả các môn học, bao gồ m khả năng sử du ̣ng ngôn ngữ, tình cảm với gia đình, quê hương, đấ t nước, những hiể u biế t cơ bản về môi trường , khoa ho ̣c, năng lực suy nghi ̃ và năng lực tìm tòi, nghiên cứu… Với những khía ca ̣nh trên , dạy học tích hợp là hoạt động dạy học đòi hỏi nhiều sự đầu tư của GV cho mỗi bài dạy , không chỉ về kiế n thức , về phương pháp mà còn cả về ho ạt động tìm hiểu HS. GV cầ n biế t HS đã đươ ̣c trang bi ̣những kiế n thức gì trước khi ho ̣c mô ̣t bài cu ̣ thể , HS cầ n đươ ̣c ho ̣c cái gì trong bài học này, làm thế nào để HS có thể hứng thú với kiến thức mới ấy , PP GV đưa ra có phù hợp với đối tượng HS chưa… Về mă ̣t nô ̣i dung , dạy học tích hợp cần bắt đầu từ việc dạy những kiến thức cơ bản nhấ t và hữu du ̣ng nhấ t.
Kiế n thức dù ở thời đa ̣i nào cũng sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu nếu không đượ c thường xuyên bổ sung câ ̣p nhâ ̣t , trong 13 z khi đó thời gian ho ̣c sinh ho ̣c trong nhà trường phổ thông la ̣i có ha ̣n chế cho nên nhà trường không thể da ̣y HS theo lố i “nhồ i nhét” kiế n thức. Viê ̣c trang bi ̣ cho HS những kiế n thức cơ bản và cùng với nó là PP học tập khoa học là rất cầ n thiế t để giúp HS có khả năng tự ho ̣c , tự làm giàu thêm tri thức của bản thân. Về mă ̣t PP , dạy học tích hợp dựa trên cơ sở vận dụng những gì HS đã biế t để hướng dẫn HS tiế p câ ̣n mô ̣t kiế n thức mới , tức là da ̣y HS cách đi đế n kiế n thức , chiế m liñ h kiế n thức. Muố n khơi gơ ̣i đươ ̣c thái đô ̣c ho ̣c tâ ̣p chủ đô ̣ng của HS, GV cầ n ta ̣o ra đươ ̣c những vấ n đề có sự mâu thuẫn giữa cái đã biế t và cái chưa biế t, sau đó dẫn dắ t HS tim ̀ câu trả lời cho cái chưa biế t.
Khi tham gia vào hoa ̣t đô ̣ng ho ̣c tâ ̣p , HS cùng lúc phải thực hiê ̣n nhiề u thao tác : quan sát, phân tić h, nêu nhâ ̣n xét…và nhiề u ki ̃ năng như: cách ửng xử khi làm viê ̣c với tâ ̣p thể , cách tranh luận, bày tỏ ý kiến, huy đô ̣ng kiế n thức đã biế t về môn ho ̣c hoă ̣c những kiế n thức có liên quan để giải quyế t vấ n đề …Còn GV có vai trò là người hướng dẫn , điề u chin̉ h, nhâ ̣n xét để giúp HS nhâ ̣n ra vấ n đề (về kiế n thức , về cách thức làm viê ̣c , về thái đô ̣ cầ n có khi tham gia thảo luâ ̣n…). Thêm vào đó , trong quá triǹ h ho ̣c , HS cầ n đươ ̣c rèn luyê ̣n phát triể n năng lực tư duy để luôn biế t cách đă ̣t ra và tìm câu trả lời cho cá c tình huố ng nảy sinh như : Tại sao? Như thế nào? Có tác dụng gì? Nó có những biểu hiện như thế nào trong thực tế ?.Nhu cầ u về viê ̣c mở rô ̣ng kiế n thức sẽ tự đế n với HS qua các câu hỏi đó. Vì vậy, HS vừa đươ ̣c ho ̣c cách suy nghi ̃, vừa đươ ̣c trang bi ̣thêm mô ̣t kiế n thức mới và đồ ng thời cảm thấ y hứng thú , có thể tự mình tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về kiến thức ấy. Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất.
Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh 14 z hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống. Luâ ̣n văn lấy quan điểm này làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm. Các cách dạy học tích hợp Trong quá trình học tập, học sinh có thể được học lần lượt những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống và trong phạm vi từng môn học cũng như các môn học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú, tính hệ thống càng phải cao, có như vậy, các em mới thật sự làm chủ được kiến thức và vận dụng được kiến thức đã học trong những tình huống cụ thể của cuộc sống.
Vì thế, cần phải thấy được vai trò của môn học và những tương tác của môn học khác nhau. Theo d’Hainaut (1977), có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học: Quan điểm đơn môn: Có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ thống nội dung của mỗi môn học riêng biệt. Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ. Quan điểm đa môn: Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan đến kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau.
Các môn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài, nội dung. Quan điểm liên môn: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống, đòi hỏi muốn giải quyết học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của những môn học khác nhau. Quan điểm xuyên môn: Nội dung học tập hướng vào phát triển các kĩ năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết các tình huống khác nhau. Nhu cầu của xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường phải hướng tới hai quan điểm liên môn và xuyên môn trong dạy học.
Trong đó quan điểm liên môn phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi 15 z tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi. Theo Xavier Roegiers, có 4 cách tích hợp môn học: + Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học. Ví dụ các môn Văn – Sử - Địa vẫn được dạy riêng rẽ nhưng ở thời điểm cuối năm học hay cuối cấp học có những chương/ phần nói về những vấn đề chung của các môn học xã hội, học sinh được đánh giá bằng một bài thi kiến thức.