Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Vấn đề phát triển năng lực nhận thức 1. Vấn đề cơ bản nhận thức Theo tâm lí học cá nhân của A. Covalop[12] thì nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người, ba mặt đó gồm nhận thức, tình cảm và ý chí.
Trong đó nhận thức được xem là tiền đề của hai mặt kia và có quan hệ chặt chẽ đồng thời với chúng cũng như các hiện tượng tâm lý khác. Hoạt động nhận thức được thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau, tuy nhiên hoạt động nhận thức có thể được chia thành hai mức độ lớn đó là: - Nhận thức cảm tính gồm: Cảm giác và tri giác. - Nhận thức lí tính gồm: Tưởng tượng và tư duy. Nhận thức cảm tính Nhận thức cảm tính [12],[13] là một quá trình tâm lý, là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng thông qua tri giác của các giác quan.
Cảm giác: Là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng. Tri giác: Phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn và theo cấu trúc nhất định. Trong quá trình nhận thức, cảm giác và tri giác đóng vai trò rất quan trọng. Nếu như coi hình thức nhận thức đầu tiên của con người là cảm giác thì khi đó một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh chính là tri giác của con người.
Nhận thức lý tính Tư duy: Là một quá trình tâm lý mà nhờ đó con người phản ánh được các đối tượng và hiện tượng của hiện thực thông qua những dấu hiệu bản chất của chúng, đồng thời con người vạch ra được những mối liên hệ khác nhau trong mỗi đối tượng, hiện tượng và giữa các đối tượng, hiện tượng với nhau. Tưởng tượng: Là một quá trình tâm lý phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. Nhận thức lý tính được thể hiện thông qua các thao tác tư duy như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa để hình thành khái niệm. Từ tư duy khái niệm, con người tiếp tục phát triển tư duy qua các hình thức phán đoán và suy luận để tạo ra hệ thống lý thuyết [12],[13],[16],[29].
Diễn biến của quá trình nhận thức Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan và các quy luật của nó vào đầu óc con người. Sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng. Quá trình vận động này tuân theo quy tắc riêng nổi tiếng của Lênin : “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”[29].
Lênin cho rằng: Ba yếu tố của cùng một quá trình thống nhất là trực quan sinh động, tư duy trừu tượng, thực tiễn. Vì vậy quá trình nhận thức có thể được chia ra ba giai đoạn: - Giai đoạn nhận thức và cảm tính (trực quan sinh động) : Là giai đoạn nhận thức trực tiếp các sự vật, hiện tượng các mức độ thấp, chưa đi vào bản chất. Giai đoạn này có các mức độ : Cảm giác và biểu tượng. - Giai đoạn tư duy trừu tượng : Là giai đoạn cao của quá trình nhận thức (lí tính).
Dựa vào những tài liệu cảm tính phong phú đã có ở giai đoạn đầu và trên cơ sở của thực tiễn được lặp đi lặp lại nhiều lần, nhận thức chuyển lên một giai đoạn cao. Khi đó trong đầu óc con người nảy sinh ra một loạt các hoạt động tư duy như : Phân tích, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa, tạo ra khái niệm rồi vận dụng khái niệm để phán đoán, suy lý thành hệ thống lý luận. - Giai đoạn vận dụng vào thực tiễn: Theo Lênin : “Thực tiễn là cơ sở nhận thức. Vì nó không có những ưu điểm là phổ biến mà còn có ưu điểm thể hiện trực tiếp”[29].
Mặt khác, thực tiễn còn là tiêu chuẩn đề xác định chân lý. Tất cả những hiểu biết con người được khảo nghiệm lại trong thực tiễn mới trở nên sâu sắc và vững chãi được. Thông qua hoạt động thực tiễn thì trình độ nhận thức của con người ngày càng phong phú và trở thành hệ thống lý luận. Năng lực nhận thức và những nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức của học sinh qua bộ môn hóa học 1.
Khái niệm về năng lực Xét về bản chất, năng lực có tính nội hàm rộng và có tính thực tiễn. Cụ thể, năng lực được xem là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức, thái độ và kỹ năng. Chính vì thế khả năng để thực hiện một công việc chuyên môn được làm nên bởi năng lực và được thể hiện trong hoạt động thực tiễn. Trong chương trình của Indonesia đã xác định rằng: “Năng lực là những kiến thức, kỹ năng và các giá trị được phản ánh trong suy nghĩ, thói quen và hành động của mỗi người.
để giúp một người trở nên có năng lực là nhờ thói quen tư duy và hành động liên tục, kiên trì, với ý nghĩa là làm một việc gì đó trên trên cơ sở có kiến thức, kỹ năng và các giá trị cơ bản”. Cho nên dù có rất nhiều cách dùng câu chữ để phát biểu năng lực bằng nhiều cách khác nhau nhưng có thể khẳng định: năng lực là khả năng thực hiện, năng lực không phải chỉ có 5 biết và hiểu mà phải biết làm. Tuy nhiên hành động làm ở đây phải gắn chặt chẽ với ý thức và thái độ, cũng như phải có kiến thức và kỹ năng chứ không nên làm một cách mù quáng, máy móc, hình thức[5]. Năng lực nhận thức Thông qua việc thực hiện các thao tác tư duy để đánh giá năng lực nhận thức như: Sự phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát hóa.
Cho nên năng lực nhận thức có thể được phân thành bốn cấp độ nắm vững kiến thức, kỹ năng và bốn cấp độ về năng lực tư duy[5]. Bốn cấp độ nắm vững kiến thức, kĩ năng - Cấp độ 1: là khả năng tìm hiểu hay ghi nhớ sự kiện, nhờ khả năng này mà HS biết xác định, phân biệt những kiến thức cần tìm. - Câp độ 2: Là khả năng tái hiện lại thông báo theo trí nhớ. - Cấp độ 3: Là khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ở những tình huống quen thuộc.
- Cấp độ 4: :Là khả năng biến hóa hay nói cách khác là sự vận dụng kiến thức vào thực tiễn từ những đối tượng chưa quen biết hoặc quen biết nhưng đã bị biến đổi. Bốn cấp độ của năng lực tư duy - Cấp độ 1: Năng lực tư duy cụ thể là sự suy luận từ thực thể cụ thể này đến thực thể cụ thể khác. - Cấp độ 2: Năng lực tư duy logic là sự suy luận chặt chẽ theo một chuỗi logic khoa học có nhận xét, có phê phán, có diễn đạt theo một logic nhất định các quá trình giải quyết vấn đề. - Cấp độ 3: Năng lực tư duy hệ thống là sự suy luận có hệ thống và có cái nhìn mọi vấn đề một cách khái quát hơn.
- Cấp độ 4: Năng lực tư duy trừu tượng là sư suy luận một vấn đề nào đó sáng tạo, ngoài khuôn khổ có sẵn. Hóa học là môn học đặc thù của bộ môn khoa học tự nhiên, cũng là môn khoa học trong đó lý thuyết đi đôi với thực nghiệm. Trong bộ môn hóa học thì quá trình nhận thức của HS được thể hiện bằng việc quan sát, mô tả từ đó đi đến giải thích các hiện tượng quan sát được, các quá trình biến đổi của chất. và tư duy hóa học được hiểu là kỹ năng quan sát các hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạp nào đó thành những bộ phận thành phần đơn giản, xác lập mối quan hệ định tính và định lượng, đoán trước được hệ quả của lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình vào học tập cũng như thực tiễn.
Nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức của học sinh trong dạy học hóa học [13]Hai quá trình liên quan mật thiết với nhau trong dạy học hóa học đó là quá trình dạy học và phát triển nhận thức cho học sinh. Để thực hiện được mục tiêu phát triển cần phải xác định được các nhiệm vụ tương ứng của nó. Nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức 6 của học sinh được giải quyết đồng thời với nhiệm vụ trí dục và đức dục. Nhiệm vụ phát triển năng lực nhận thức của học sinh trong dạy học hóa học được tiến hành qua một số nhiệm vụ cụ thể sau đây: a.
Phát triển trí nhớ và tư duy Dễ thấy rằng, một khi học sinh có sự định hướng trước thì tiến hành dạy học sẽ có hiệu quả hơn, quan trọng nhất vẫn là sự phát triển trí nhớ và tư duy của học sinh vì nếu như thiếu nó thì học sinh sẽ không nắm được các cơ sở lý thuyết hiện đại của bộ môn hóa học. Trí nhớ và tư duy góp phần tham gia vào quá trình tâm lý tích cực bao gồm cả sự tích lũy vốn kiến thức và lựa chọn các thao tác trí tuệ. Hoạt động nhận thức tích cực của HS ở từng khâu, từng hoạt động của quá trình dạy học làm cho sự phát triển trí nhớ và tư duy được thực hiện một cách có hiệu quả nhất. Rèn luyện toàn diện trong từng giai đoạn phát triển các kĩ năng khái quát trí tuệ và thực nghiệm hóa học Để nắm vững kiến thức hóa học phải thông qua hoạt động nhận thức hóa học bao gồm nhiều hoạt động học tập như phân tích và tổng hợp chất, tiến hành các thí nghiệm hóa học, quan sát các hiện tượng thực tế, mô tả bằng kí hiệu và biểu đồ, khả năng dự đoán hiện tượng, giải các BT hóa học…v.v… Kết quả của sự nắm vững kiến thức là kỹ năng.
Thực nghiệm hóa học là biện pháp quan trọng để tiếp thu hóa học một cách hiệu quả cùng với các kĩ năng trí tuệ như : Các thao tác so sánh, phân tích tổng hợp, suy diễn, qui nạp loại suy…các kĩ năng này được hình thành trong quá trình dạy học hóa học, được phát triển và khái quát ở dạng chung nhất và dễ dàng được chuyển thành năng lực học tập.