CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỒNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của người học, xem người học là chủ thể của quá trình nhận thức đã có từ lâu. Ở Châu Âu, vào thế kỷ XVII, A.Komenxki (1592 – 1670) đã viết cuốn “Lý luận dạy học vĩ đại”. Trong đó, ông đã phác họa những phương pháp giáo dục phổ thông của nguyên lý giáo dục toàn trí. Theo ông, giáo dục toàn trí là sự cần thiết cho sự cứu rỗi linh hồn con người.
Komenski đã phác họa ra phương pháp giáo dục phổ cập, hay là những nguyên lý giáo dục cơ bản. Đây chính là công cụ hữu hiệu nhất để trao đổi tri thức giữa giáo viên và người học. Cũng trong quyển sách này Ông đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, người học học nhiều hơn”. Tư tưởng này bắt đầu rõ nét từ thế kỷ 18-19 và đã trở nên rất đa dạng trong thế kỷ XX.
Đặc biệt, trào lưu giáo dục hướng vào người học xuất hiện đầu tiên ở Mỹ sau đó lan sang Tây Âu và sang châu Á. Tư tưởng này được thể hiện qua các thuật ngữ “Dạy học hướng vào người học”, “Dạy học lấy người học làm trung tâm”. Tuy nhiên, thuật ngữ “dạy học lấy người học làm trung tâm” (dạy học tập trung vào người học) chỉ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây.Barry và King (1993), đặt cơ sở cho dạy học lấy người học làm trung tâm là những công trình của John Dewey (Experience and education, 1938) và Carl Rogers (Freedom to learn, 1986). Các tác giả này đề cao nhu cầu, lợi ích của người học, đề xuất việc để cho người học lựa chọn nội dung học tập, được tự lực tìm tòi nghiên cứu.[5] Trong những thập kỷ qua, các nước trên thế giới đã nghiên cứu và vận dụng nhiều lý thuyết và PPDH theo hướng hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập 6 của người học, trong đó có lý thuyết kiến tạo nhận thức của J.Piaget và mô hình dạy học khám phá của J.Bruner, mô hình dạy học tạo tác của B.
Lý thuyết kiến tạo nhận thức của J.Piaget cho rằng: ‘‘Tri thức được kiến tạo một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức’’ và ‘‘Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của chính người học’’. Như vậy lý thuyết kiến tạo coi trọng vai trò tích cực và chủ động của người học trong quá trình học tập để tạo nên tri thức cho bản thân. Từ những quan điểm của lý thuyết kiến tạo có thể tạo ra những cơ hội thuận lợi hơn cho việc áp dụng các PPDH mới vào thực tiễn. Lý thuyết kiến tạo nhận thức của J.
Piaget ( 1896 – 1980) là cơ sở tâm lý học của nhiều hệ thống dạy học.[8,57] Trong dạy học khám phá của J.Bruner, người học được thực hiện những hoạt động trí tuệ như quan sát, phỏng đoán và sắp xếp, điều chỉnh, chứng minh.Bruner, nhà GD Mỹ, đã dành nhiều công sức nghiên cứu và vận dụng lý thuyết của J.Piaget để xây dựng mô hình dạy học dựa vào sự học tập khám phá của người học.Bruner đề xuất mô hình dạy học được đặc trưng bởi ba yếu tố chủ yếu: hành động tìm tòi, khám phá của người học, cấu trúc tối ưu nhận thức và cấu trúc của chương trình dạy học. Trong đó cấu trúc tối ưu nhận thức là yếu tố then chốt. [8, 59] Mô hình của B. Skinner (1904 - 1990 ), ông cho rằng cả động vật và con người có ba dạng hành vi: hành vi không điều kiện, hành vi có điều kiện và hành vi tạo tác.
Trong đó hành vi tạo tác là chủ yếu. Hành vi tạo tác là hành vi được hình thành từ một hành vi trước đó của chủ thể, do tác động vào môi trường và được cũng cố, đóng vai trò là tác nhân kích thích. Hành vi tạo tác đặc trưng cho việc học tập hàng ngày. Điều này lý giải tại sao nhiều nhà nghiên cứu lý luận dạy học coi sơ đồ hành vi có điều kiện cổ điển là cơ sở của đường lối dạy học truyền thống, hướng vào người dạy, còn sơ đồ hành vi tạo tác là cơ sở của đường lối dạy học tích cực, hướng vào người học.[8, 40] Học tập là một quá trình chủ động nên thầy không thể học thay trò.
Trong Hội nghị quốc tế về giáo dục y học ở Edinbourg (8-1988) và Hội nghị thượng đỉnh về giáo dục y học (8-1993) ở Edinbourg, với hai bản tuyên ngôn nổi tiếng thì 7 phương pháp dạy và học tích cực được khẳng định và được tổ chức Y tế Thế giới (WHO/OMS) hết sức khuyến nghị.2 Trong nước Nhận thức được tầm quan trọng của sự phát triển giáo dục gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội, từ năm 1986 nước ta tiến hành công cuộc đổi mới và đến nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006 và là thành viên chính thức năm 2007 đã mở ra cho nước ta nhiều cơ hội phát triển nhưng trong đó cũng tồn tại nhiều thách thức mà thách thức lớn nhất là nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Để giải quyết nhiệm vụ đó đòi hỏi giáo dục có sự phát triển phù hợp để đào tạo mẫu người phù hợp với yêu cầu mới. Qua nhiều lần cải cách giáo dục, nền giáo dục nước ta có nhiều thay đổi tích cực phục vụ cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.
Dù vậy, giáo dục nước nhà vẫn có nhiều mặt tồn tại cần phải khắc phục. Một trong những hạn chế đó là chất lượng giáo dục còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân: - Nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, kiến thức truyền đạt chủ yếu là lý thuyết ít mang tính ứng dụng, vì người học ít vận dụng được vào thực tế. - Phương pháp giáo dục chủ yếu là truyền thụ một chiều, không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình học tập.
- Thực tế người học chỉ chú trọng để đối phó với các kỳ thi nên ít chú ý đến phát triển kỹ năng, rèn luyện nhân cách người học. - Người học có xu hướng học lệch, học tủ, quan niệm tiến thân duy nhất bằng con đường đại học và bằng mọi cách vào đại học cũng dẫn đến cách học và sự phát triển không toàn diện của người học. Về chủ đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước: + Nguyễn Thu Hường, Đại học Sư phạm Hà Nội (2005), Tìm hiểu tính tích cực trong học tập của sinh viên đối với môn học, Đề tài NCKH đạt giải sinh viên Nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Tính tích cực của người học nẩy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại chịu nhiều tác động khác nhau nhưng nhìn chung phụ thuộc vào những nhân tố sau: 1.
Môi trường. Trong những nhân tố trên, có những nhân tố có thể hình thành ngay nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình dài lâu dưới ảnh hưởng của rất nhiều tác động. Do đó, việc tích cực hóa người học đòi hỏi một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động gia đình, nhà trường và xã hội. Tuy nhiên, ở đề tài này, tác giả không phân tích ảnh hưởng của những nhân tố này đến tính tích cực của sinh viên đại học mà chỉ nêu vấn đề ở góc độ lý luận là chủ yếu.s Nguyễn Văn Việt (2009), “Vận dụng PPDH tích cực trong QTDH môn Giáo Gục Học ở trường CĐSP Ngô Gia Tự - Bắc Giang”, Đề tài đã đưa ra quy trình xây dựng và sử dụng 2 PPDH tích cực (động não, thảo luận) trong QTDH môn Giáo Dục Học ở trường CĐSP Ngô Gia Tự - Bắc Giang.
Kết quả thu được: Sinh viên rất tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, trao đổi kinh nghiệm với người khác, hứng thú với giờ học, với vấn đề đang được học, khi người dạy tổ chức các hoạt động học tập khác nhau trên lớp. Thông qua hoạt động động não và thảo luận, sinh viên được làm việc nhiều hơn, phải suy nghĩ về những vấn đề đang nghiên cứu, do đó có thể nắm được vấn đề nhanh hơn khắc sâu được những gì cần nhớ. Vận dụng PPDH tích cực trong quá trình lên lớp thì việc truyền tải kiến thức đến một người học một cách nhẹ nhàng, người học cảm thấy thoải mái, dễ tiếp thu, hiểu sâu, nhớ lâu những vấn đề đã được học. Tác giả đã tiến hành thực nghiệm, kết quả cho thấy việc vận dụng PPDH tích cực đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường CĐSP Bắc Giang.s Nguyễn Phương Hà (2011), Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa theo hướng tích cực hóa người học tại Trường cao đẳng kỹ thuật Lý Tự Trọng, luận văn thạc sĩ.
Theo tác giả, chất lượng dạy học ảnh hưởng bởi nhiều thành tố trong đó và quan trọng là PPDH. Tác giả nêu ra các PPDH tích cực, những đặc trưng và điều kiện áp dụng. Từ đó đề xuất các giải pháp để nâng các yếu tố PPDH tích cực, tổ chức quản lý đào tạo và người học. Nguyễn Văn Tuấn, với PPDH môn kỹ thuật.
Trong đó, tác giả đề cập và phân tích các PPDH theo hướng tích cực hóa người học như: dạy học 9 khám phá, dạy học định hướng hoạt động, dạy học theo dự án, dạy học giải quyết tình huống. Đặng Thành Hưng với Vấn đề tích cực hóa và biện pháp tích cực hóa học tập trong Dạy học hiện đại Lý luận – Biện pháp – Kỹ thuật, nội dung về bản chất của tính tích cực, những biện pháp tích cực hóa học tập cho người học. + Ngô Anh Tuấn – Phân tích và đánh giá hiệu quả các PPDH tích cực hóa người học với sự hổ trợ của máy tính – Luận văn thạc sĩ khoa học, Tp. Hồ Chí Minh 2002 + Nguyễn Thị Uyên – Cải tiến PPDH môn khí cụ điện tại trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng theo hướng tích cực hóa người học – Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.
Hồ Chí Minh. + Lê Mậu Thành – Khai thác, sử dụng đa phương tiện nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học trong dạy học chương Một số thiết bị điện tử dân dụng Công nghệ lớp 12 – Khóa luận tốt nghiệp đại học, trường Đại học Sư Phạm Huế.