Đặt vấn đề (iii) Đƣa ra giả thuyết (iv) Xây dựng kế hoạch nghiên cứu (v) Thực hiện kế hoạch, tìm hiểu các mối liên hệ giữa hiện tƣợng đang nghiên cứu với các hiện tƣợng khác. (vi) Trình bày cách giải quyết vấn đề. (vii) Kiểm tra cách giải. (viii) Rút ra kết luận thực tiễn về việc vận dụng kiến thức đã đƣợc tiếp thu.
Phương pháp tìm tòi từng phần Giáo viên giúp học sinh tự mình giải quyết từng giai đoạn, từng khâu trong quá trình nghiên cứu. Phương pháp trình bày nêu vấn đề Giáo viên giới thiệu cho học sinh cách giải quyết vấn đề, giúp các em hiểu logic các vấn đề và cách giải quyết các vấn đề đó. Có 2 hình thức thực hiện : (i) Hình thức thứ nhất: Giáo viên tự mình hoặc dùng phƣơng tiện dạy học thay thế để trình bày trình tự logic của việc tìm kiếm cách giải quyết vấn đề. (ii) Hình thức thứ hai: Giáo viên vạch ra các cách giải quyết vấn đề đang nghiên cứu.
Mỗi hình thức nói trên đều đòi hỏi học sinh phải bộc lộ tính tích cực ở các mức độ khác nhau: sáng tạo, tìm tòi và tái hiện. Do đó chủ thể học tập (là học sinh) sẽ bộc lộ tính độc lập cao nhất ở dạng 1 và thấp nhất ở dạng 3. Trong dạy học ở trƣờng phổ thông, phƣơng tiện chủ yếu là hệ thống câu hỏi, lời gợi ý của giáo viên và các câu hỏi, hành động đáp lại của học sinh. Theo quan điểm của Nguyễn Bá Kim 23,tr.189-191, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có thể đƣợc thực hiện dƣới những hình thức sau: 1.
Người học độc lập phát hiện và giải quyết vấn đề Đây là một hình thức dạy học mà tính độc lập của ngƣời học đƣợc phát huy cao độ. Thầy giáo chỉ tạo ra những tình huống gợi vấn đề, ngƣời học tự phát hiện và giải quyết vấn đề đó. Nhƣ vậy trong hình thức này, ngƣời học độc lập nghiên cứu vấn đề và thực hiện tất cả các khâu cơ bản của quá trình nghiên cứu này. Người học hợp tác phát hiện và giải quyết vấn đề Hình thức này chỉ khác hình thức thứ nhất ở chỗ quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề không diễn ra một cách đơn lẻ một ngƣời học, mà là có sự hợp tác giữa những ngƣời học với nhau, chẳng hạn dƣới hình thức học nhóm, học tổ, làm dự án.
Thầy trò vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề Trong vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề, học trò làm việc không hoàn toàn độc lập mà có sự gợi ý dẫn dắt của thầy khi cần thiết. Phƣơng tiện 19 z để thực hiện hình thức này là những câu hỏi của thầy và những câu trả lời hoặc hành động đáp lại của trò. Nhƣ vậy có sự đan kết, thay đổi sự hoạt động của thầy và trò dƣới hình thức vấn đáp. Với hình thức này, ta thấy dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có phần giống với phƣơng pháp vấn đáp, Tuy nhiên hai cách dạy học này thật ra không đồng nhất với nhau.
Nét quan trọng của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề không phải là những câu hỏi mà là tình huống gợi vấn đề. Trong một giờ học nào đó, thầy giáo có thể đặt nhiều câu hỏi, nhƣng nếu các câu hỏi này chỉ đòi hỏi tái hiện tri thức đã học thì giờ học đó vẫn không phải là dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề. Ngƣợc lại, trong một số trƣờng hợp, việc phát hiện và giải quyết vấn đề của học sinh có thể diễn ra chủ yếu là nhờ tình huống gợi vấn đề, chứ không phải là nhờ những câu hỏi mà thầy đặt ra. Giáo viên thuyết trình phát hiện và giải quyết vấn đề Ở hình thức này, mức độ độc lập của học sinh thấp hơn ở các hình thức trên.
Thầy giáo tạo ra tình huống gợi vấn đề, sau đó là bản thân thầy phát hiện vấn đề và trình bày quá trình suy nghĩ giải quyết (chứ không phải đơn thuần nêu lời giải). Trong quá trình đó, có việc tìm tòi, dự đoán, có lúc thành công, có lúc thất bại, phải điều chỉnh phƣơng hƣớng mới đi đến kết quả. Nhƣ vậy, tri thức đƣợc trình bày không phải dƣới dạng có sẵn mà là trong quá trình ngƣời ta khám phá ra chúng, quá trìng này là một sự mô phỏng và rút gọn quá trình khám phá thật sự. Hình thức này đƣợc dùng nhiều hơn ở những lớp trên của trung học phổ thông và đại học.
Những hình thức nêu trên đẫ đƣợc sắp xếp theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề, vì vậy đó cũng đồng thời là những cấp độ dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề về phƣơng diện này. Tuy nhiên, để phát hiện đúng các cấp độ khác nhau nói trên, ta cần lƣu ý các điều sau: 20 z Thứ nhất, các cấp độ nêu trên đã đƣợc sắp xếp thứ tự chỉ về một phƣơng diện : mức độ độc lập của học sinh trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề. Về phƣơng diện này thì cấp độ 1 cao hơn cấp độ 2, nhƣng nếu xét về mặt phƣơng diện khác thì mức độ, giao lƣu hợp tác của học sinh thì cấp độ 2 lại cao hơn cấp độ 1. Thứ hai, khi nói cấp độ này cao hơn cấp độ kia về một phƣơng diện nào đó, ta ngầm hiểu là với giả định xem xét cùng một vấn đề, còn nếu xét về những vấn đề khác nhau thì việc ngƣời học độc lập phát hiện và giải quyết vấn đề dễ không hẳn đã đƣợc đặt cao hơn việc thầy trò vấn đáp và phát hiện và giải quyết một vấn đề khó.
Đƣơng nhiên còn có sự pha trộn giữa những hình thức khác nhau và tồn tại những nấc trung gian giữa những cấp độ khác nhau. Chẳng hạn, có thể có sự pha trộn giữa hình thức 1 và 2, mặt khác giữa 1 và 3 cùng tồn tại một cấp độ trung gian khác (ngoài cấp độ 2), đó là thầy đặt vấn đề, trò giải quyết vấn đề đó. Các bước thực hiện dạy học giải quyết vấn đề Theo quan điểm của Nguyễn Bá Kim [23,tr.192-195], hạt nhân của kiểu dạy học này là điều khiển quá trình nghiên cứu vấn đề của học trò. Quá trình này có thể chia thành các bƣớc sau, trong đó bƣớc nào khâu nào do học trò tự làm hoặc có sự gợi ý của thầy hoặc chỉ theo dõi sự trình bày của thầy là tuỳ thuộc sự lựa chọn một cấp độ thích hợp đã nêu trong mục 2.
Phát hiện hoặc thâm nhập vấn đề - Phát hiện vấn đề từ một tình huống gợi vấn đề (thoả mãn các điều kiện đã nêu ở mục 2.2) thƣờng là do thày tạo ra. Có thể liên tƣởng những cách suy nghĩ tìm tòi, dự đoán, gợi động cơ mở đầu. - Giải thích và chính xác hoá tình huống (khi cần thiết) để hiểu đúng các vấn đề đƣợc đặt ra. - Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.
Tìm giải pháp - Tìm một cách giải quyết vấn đề. Việc này thƣờng đƣợc thực hiện theo sơ đồ 1. Giải thích sơ đồ: + Khi phân tích vấn đề, cần làm rõ những mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm. Trong môn Toán, ta thƣờng dựa vào những vốn tri thức đã học, liên tƣởng tới những định nghĩa và định lý thích hợp.
+ Khi đề xuất và thực hiện hƣớng giải quyết vấn đề, cùng với việc thu thập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức. Trong khâu này thƣờng hay sử dụng những phƣơng pháp, kỹ thuật nhận thức, tìm đoán, suy luận, nhƣ hƣớng đích, và chiến lƣợc nhận thức nhƣ sau: Quy lạ về quen; đặc biệt hoá và chuyển qua những trƣờng hợp suy biến; xem xét tƣơng tự, khái quát hoá; xét những mối liên hệ phụ thuộc; suy ngƣợc (tiến ngƣợc, lùi ngƣợc) và suy xuôi. Phƣơng hƣớng đƣợc đề xuất không phải là bất biến, trái lại có thể phải điều chỉnh, thậm chí bác bỏ và chuyển hƣớng khi cần thiết. Khâu này có thể làm nhiều lần cho đến khi tìm ra hƣớng đi đúng.
Bắt đầu Phân tích vấn đề Đề xuất và thực hiện hƣớng giải quyết Hình thành giải pháp Giải pháp đúng + Kết thúc Sơ đồ 1.1 22 z Kết quả của việc đề xuất và thực hiện hƣớng giải quyết vấn đề là hình thành đƣợc một giải pháp. Việc tiếp theo là kiểm tra giải pháp xem nó có đúng đắn hay không. Nếu giải pháp đúng thì kết thúc ngay, nếu không đúng thì lặp lại nhƣ khâu phân tích vấn đề cho đến khi tìm đƣợc giải pháp đúng. - Sau khi tìm ra đƣợc một giải pháp, có thể tiếp tục tìm thêm những giải pháp khác (theo sơ đồ trên), so sánh chúng với nhau để có thể tìm ra giải pháp hợp lý nhất.
Trình bày giải pháp Khi đã giải quyết đƣợc vấn đề đặt ra, ngƣời học trình bày lại toàn bộ từ việc phát biểu vấn đề cho tới giải pháp. Nếu vấn đề là một đề bài cho sẵn thì có thể không cần phát biểu lại vấn đề. Trong khi trình bày, cần tuân thủ các chẩn mực đề ra trong nhà trƣờng nhƣ ghi rõ giả thiết, kết luận đối với bài toán chứng minh, phân biệt các phần: phân tích, cách dựng, chứng minh, biện luận đối với bài toán dựng hình, giữ gìn vở sạch, chữ đẹp, v. Nghiên cứu sâu giải pháp - Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả.
- Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tƣơng tự, khái quát hoá, lật ngƣợc vấn đề,.và giải quyết nếu có thể. Về dạy học giải quyết vấn đề, nếu chỉ nói tới việc phát hiện và nêu vấn đề thì chƣa đủ. Học trò còn phải tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề nữa. Nói cách khác, bƣớc 2 vừa trình bày ở trên là không thể bỏ qua.
Hạt nhân của quá trình điều khiển sự nghiên cứu của học sinh là giáo viên phải tạo ra những tình huống gợi vấn đề, trong đó ở mỗi giai đoạn, hành động của thầy và trò diễn ra nhƣ thế nào còn tuỳ thuộc vào hình thức dạy học mà ngƣời thầy lựa chọn. Các câu hỏi đƣa ra để tạo tình huống gợi vấn đề cần căn cứ vào khả năng hiện có của học sinh và những biện pháp tìm tòi đƣợc sử dụng còn phụ thuộc vào cấu trúc logíc của vấn đề đƣợc nghiên cứu. Những cách thông dụng để tạo tình huống gợi vấn đề Theo Nguyễn Bá Kim [23, tr.197-201], để thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, điểm xuất phát là tạo ra tình huống gợi vấn đề.