phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng sau đây: CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHƢƠNG 2. DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHƢƠNG TRÌNH Ở BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA CÁC BÀI TOÁN THỰC TẾ CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Một số vấn đề về dạy học 1. Khái niệm về dạy học Dạy học là gì? Các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”, một số khác dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công nghệ cho rằng “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”. Các hoạt động giảng dạy dựa trên quan điểm hoạt động bao gồm hai hoạt động: hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh. Hoạt động giảng dạy với vai trò chủ đạo của giáo viên là tổ chức và kiểm soát tối ƣu quá trình truyền đạt nội dung của hệ thống kiến thức, kỹ năng và kỹ thuật khoa học để học sinh tiếp thu (nhận thức).
Các hoạt động giảng dạy phải chịu sự tác động của giáo viên và tác động đến các đối tƣợng và hoạt động nhận thức của học sinh. Hoạt động học tập với vai trò tích cực của học sinh là quá trình tự kiểm soát tối ƣu để có đƣợc (hiểu) hệ thống nội dung kiến thức, kỹ năng, tự lực, tự chủ mà giáo viên truyền đạt để phát triển và hình thành nhân cách của học sinh. Các hoạt động học tập thuộc sở hữu của học sinh và tác động đến đối tƣợng là nội dung kiến thức mới có trong tài liệu học tập. Mối quan hệ giữa hoạt động dạy học và hoạt động học tập trong quá trình dạy học Thông qua việc phân tích khái niệm trên, chúng ta thấy rằng các hoạt động giảng dạy thuộc sở hữu của giáo viên có hai chức năng: truyền đạt thông 4 tin và kiểm soát quá trình nhận thức cho học sinh; trong khi hoạt động học tập dựa trên chủ đề có hai chức năng, đó là thu thập thông tin và tự kiểm soát các quá trình nhận thức của họ.
Sự tƣơng tác của các chức năng này làm cho các hoạt động dạy và học có mối quan hệ tác động biện chứng trong một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất và làm cho khái niệm dạy học xuất hiện: Dạy học là một quá trình hợp tác giữa giáo viên và học sinh luôn tƣơng tác, bổ sung cho nhau để truyền đạt - kiểm soát và thấu hiểu - bản thân -Kiểm soát kiến thức để cung cấp cho ngƣời học khả năng phát triển trí thông minh và tính cách hoàn hảo. Chúng ta có thể vẽ sơ đồ các chức năng của hoạt động dạy và học nhƣ sau: Sơ đồ 1. Các chức năng của hoạt động dạy và hoạt động Các khái niệm dạy học khác nhau trong việc nhấn mạnh yếu tố chức năng nào của hoạt động dạy và học là quan trọng hơn. Theo quan niệm truyền thống về dạy học, chức năng giao tiếp của hoạt động dạy học và chức năng hiểu của hoạt động học tập đã đƣợc nhấn mạnh mà không chú ý đúng mức đến các chức năng kiểm soát và tự kiểm soát.
Ngƣợc lại, theo quan niệm mới về dạy học tích cực, giáo viên rất coi trọng chức năng kiểm soát sƣ phạm, tôn trọng môi trƣờng hợp tác giữa dạy và học, học sinh phải biết tự kiểm soát quá trình. nhận thức của họ thông qua việc chủ động, chủ động và tự chủ trong nội dung học tập với sự hỗ trợ của giáo viên. Cấu trúc quá trình dạy học Quá trình phát triển các khái niệm dạy học là quá trình nghiên cứu và khám phá để xác định các khái niệm dạy và học từ đó hình thành cấu trúc của quá trình dạy học. Các tác giả đã đƣa ra các cấu trúc quá trình giảng dạy khác nhau theo các phƣơng pháp khác nhau.
Nói chung, cấu trúc của quá trình dạy học có thể đƣợc phân thành hai loại: kiểu giới thiệu nội dung giảng dạy và kiểu giới thiệu quá trình dạy học (hoặc logic của quá trình dạy học). Cấu trúc bề mặt nội dung giảng dạy Tiếp cận từ quan điểm hệ thống, quá trình giảng dạy là một hệ thống (một cấu trúc - một tổng thể) bao gồm các thành phần cơ bản. Mặc dù cấu trúc nội dung của quá trình dạy học có nhiều khái niệm khác nhau, nhƣng hầu hết chúng đều phù hợp với khái niệm: quan sát sự xuất hiện của quá trình dạy học, chúng ta thấy 3 yếu tố: nội dung giảng dạy, hoạt động của giáo viên, hoạt động của ngƣời học. Mỗi hoạt động đều có một mục đích, cần sử dụng một số phƣơng tiện nhất định và cuối cùng sẽ đạt đƣợc kết quả.
Về nội dung, một quá trình giảng dạy đƣợc tạo thành từ các yếu tố mục đích, nội dung, hoạt động của giáo viên và giảng dạy (phƣơng pháp và hình thức), học sinh và các hoạt động học tập (phƣơng pháp và hình thức), phƣơng tiện và kết quả. Những yếu tố này tồn tại trong các liên kết hữu cơ rất chặt chẽ và có hệ thống. Ở đâu và bất cứ khi nào quá trình giảng dạy diễn ra là cấu trúc này đƣợc hình thành. Cấu trúc quá trình dạy học 6 Cấu trúc khuôn mặt của quá trình giảng dạy Về mặt quy trình, dạy học là một quá trình dựa trên thời gian mô tả các hoạt động dạy và học tƣơng tác với nhau từ đầu đến cuối.
Cấu trúc của quy trình này thƣờng bao gồm các bƣớc cơ bản sau: - Khởi động: Kích thích động lực, thái độ học tập tích cực của học sinh. - Các bƣớc thực hiện nội dung: Tổ chức các hoạt động để kiểm soát học sinh nắm bắt kiến thức mới, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng. - Bƣớc cuối cùng: Kiểm tra và đánh giá kết quả về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh. Các bƣớc của cấu trúc bề mặt quá trình đƣợc liên kết với nhau và tổng hợp thành một tổng thể có hệ thống và tạo thành các giai đoạn logic của quá trình giảng dạy.
Quá trình giảng dạy có thể diễn ra trong một bài học, một lớp học, một tuần, một năm học hoặc một lớp và có thể diễn ra trong các không gian khác nhau nhƣ giờ học, ngoại khóa, các hoạt động. ngoài giờ học. Đặc điểm của dạy học Các hoạt động học tập của học sinh tích cực trên cơ sở nội dung giảng dạy ngày càng hiện đại. Thời đại hiện nay là thời đại siêu công nghiệp với những đặc điểm chung của cách mạng khoa học, kỹ thuật và xã hội.
Sự phát triển nhƣ vũ bão của xã hội, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, đã khiến nội dung giảng dạy trong các trƣờng học không ngừng đổi mới và hiện đại hóa. Từ thực tế đó, có một mâu thuẫn giữa lƣợng kiến thức trong nội dung giáo dục mà học sinh cần nắm bắt ngày càng phức tạp hơn trong khi thời gian học của học sinh trong quá trình giảng dạy không thể tăng lên. Giải pháp tích cực cho cuộc xung đột đã đƣợc triển khai tại trƣờng hiện nay là đổi mới phƣơng pháp giảng dạy nhằm tăng cƣờng các hoạt động học tập của học sinh. Trong các trƣờng học trong một thời gian dài, các kỹ năng học tập tích cực của học sinh ít đƣợc phát huy do dạy học thụ động.
Việc đổi mới chƣơng trình và sách giáo khoa hiện tại của Việt Nam đòi hỏi 7 học sinh phải có thái độ học tập tích cực; Học sinh phải tập trung vào việc học cách thu thập, xử lý và sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để đáp ứng các yêu cầu giáo dục và đào tạo của trƣờng. Do đó, giáo viên trong quá trình giảng dạy không chỉ là ngƣời cung cấp thông tin mà quan trọng hơn, họ phải là ngƣời hƣớng dẫn sinh viên cách thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của chính họ. Các giáo viên ngày nay phải liên tục tiếp cận, khám phá, lựa chọn và áp dụng các phƣơng pháp giảng dạy theo cách mà họ có thể tác động tích cực đến các hoạt động học tập của học sinh. Học sinh bây giờ có cuộc sống và năng lực nhận thức tốt hơn học sinh ở các thế hệ trƣớc (cùng tuổi).
Kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học trong và ngoài nƣớc đã cho thấy: So với học sinh cùng tuổi ở các thế hệ trƣớc, học sinh trung học hiện nay có kiến thức tốt hơn và thông minh để phát triển. Dạy học các phƣơng trình toán trung học cơ sở 1. Khái niệm phương trình Học sinh thực ra đã đƣợc học phƣơng trình từ khi học tiểu học. Nhƣng khi đó học sinh tiểu học chỉ mới hiểu là bài toán tìm x.
Tên gọi của bài toán này đƣợc sử dụng đến lớp 7. Học sinh sẽ đƣợc tiếp cận với một thuật ngữ “phƣơng trình” khi lên lớp 8. Đồng thời, trong chƣơng trình toán THCS chúng ta hay đề cập các phƣơng trình đa thức nhiều hơn mà ít phƣơng trình dạng siêu việt. Với dạng phƣơng trình siêu việt thƣờng chỉ dành cho học sinh giỏi hoặc cấp học cao hơn.
Các khái niệm về phƣơng trình hiện nay vẫn chƣa thống nhất trong chƣơng trình THCS. Sách giáo khoa hiện nay thì gắn khái niệm phƣơng trình với việc phải làm là giải phƣơng trình. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào nói đến phƣơng trình là cũng phải giải phƣơng trình. Vì vậy, để đơn giản các vấn đề nêu trên sách giáo khoa không xây dựng khái niệm phƣơng trình một cách hoàn chỉnh mà chỉ giới thiệu thuật ngữ “phƣơng trình” thông qua một số ví dụ.