Phương pháp đào tạo nghề lái tàu tại trường cao đẳng nghề Đường Sắt gắn kết với doanh nghiệp

Tài liệu nghiên cứu Phương pháp đào tạo nghề lái tàu tại trường cao đẳng nghề đường sắt theo định hướng gắn nhà trường, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Cao Đẳng Nghề Đường Sắt

Chuyên ngành

Đào tạo nghề lái tàu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2017

153
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LÝ LỊCH KHOA HỌC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP

1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

1.2.1. Phương pháp đào tạo nghề

1.2.2. Phương pháp đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

1.3. MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1. Mô hình đào tạo kép của CHLBĐ

1.3.2. Mô hình đào tạo linh hoạt của Nauy

1.3.3. Mô hình đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương của Nhật

1.4. PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP

1.4.1. Đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

1.4.2. Mối quan hệ trong đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

1.4.3. Các thành phần tham gia đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

1.4.4. Đặc điểm về hiệu quả của đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

1.4.5. Quy trình thực hiện phương pháp đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ LÁI TÀU THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐƯỜNG SẮT

2.1. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐƯỜNG SẮT

2.1.1. Thông tin chung

2.1.2. Khái quát lịch sử và phát triển nhà trường

2.1.3. Chức năng nhiệm vụ

2.1.4. Cơ cấu tổ chức và nhân sự của nhà trường

2.2. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ PHỤC VỤ CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NGÀNH ĐƯỜNG SẮT

2.2.1. Đặc điểm mô hình hoạt động của tổng công ty Đường Sắt Việt Nam

2.2.2. Trường cao đẳng nghề Đường Sắt đào tạo, phát triển nguồn lực cho ngành Đường Sắt

2.3. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ LÁI TÀU TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐƯỜNG SẮT THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP

2.3.1. Nội dung và đối tượng

2.3.2. Phương pháp và công cụ

2.3.3. Kết quả đánh giá thực trạng

2.3.4. Thực trạng về hoạt động thiết kế xây dựng chương trình, nội dung đào tạo nghề trong nhà trường hiện nay

2.3.5. Thực trạng về hoạt động dạy học trong nhà trường hiện nay

2.3.6. Thực trạng về đánh giá chất lượng đào tạo trong nhà trường hiện nay

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ LÁI TÀU THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP VÀ VẬN DỤNG ĐÀO TẠO MÔ ĐUN KỸ THUẬT LÁI ĐẦU MÁY TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TRUNG CẤP NGHỀ LÁI TÀU

3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐƯỜNG SẮT Ở TỔNG CÔNG TY ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM

3.1.1. Chủ trương phát triển

3.1.2. Yêu cầu về đào tạo và phát triển nguồn lực lao động theo chủ trương phát triển của tổng công ty Đường Sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030

3.2. ĐẶC ĐIỂM ĐÀO TẠO TRUNG CẤP NGHỀ LÁI TÀU ĐƯỜNG SẮT

3.2.1. Đặc điểm chương trình đào tạo trung cấp nghề lái tàu

3.2.2. Đặc điểm nội dung mô đun kỹ thuật lái đầu máy

3.2.3. Tính cấp thiết trong hoạt động đào tạo nghề lái tàu

3.2.4. Tính đổi mới

3.2.5. Tính ứng dụng thực tiễn

3.2.6. Tính kế thừa và sáng tạo

3.3. THỰC HIỆN ĐÀO TẠO MÔ ĐUN KỸ THUẬT LÁI ĐẦU MÁY THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP

3.3.1. Quy trình tổ chức thực hiện hoạt động đào tạo mô đun kỹ thuật lái đầu máy

3.3.2. Ví dụ minh họa

3.3.3. Thực nghiệm sư phạm

3.3.3.1. Mục tiêu đào tạo của mô đun cần đánh giá
3.3.3.2. Công cụ đánh giá
3.3.3.3. Phạm vi, cơ sở và sản phẩm thực nghiệm
3.3.3.3.1. Phạm vi thực nghiệm
3.3.3.3.2. Cơ sở thực nghiệm
3.3.3.4. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm
3.3.3.4.1. Đối tượng thực nghiệm
3.3.3.4.2. Phương pháp thực nghiệm
3.3.3.5. Xử lý và phân tích kết quả thực nghiệm
3.3.3.5.1. Kết quả học tập của học sinh các lớp TN và ĐC
3.3.3.5.2. Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm
3.3.3.5.3. Lập bảng và tính trung bình cộng về điểm số
3.3.3.5.4. Phương sai, độ lệch chuẩn và hệ số biến thiên
3.3.3.5.5. Kiểm nghiệm sự khác nhau giữa x ĐC và xTN sử dụng giá trị thống kê t
3.3.3.5.6. Kiểm nghiệm sự khác nhau σ ĐC 2 và σ TNC 2 sử dụng giá trị F
3.3.3.5.7. Đồ thị tần suất
3.3.3.5.8. Đồ thị tần suất hội tụ tiến

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phương pháp đào tạo nghề lái tàu gắn kết nhà trường và doanh nghiệp

Phương pháp đào tạo nghề lái tàu gắn kết nhà trường và doanh nghiệp là một trong những xu hướng quan trọng trong giáo dục nghề nghiệp hiện nay. Sự kết hợp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo mà còn đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Đào tạo nghề lái tàu cần phải được thiết kế sao cho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp, từ đó tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành đường sắt.

1.1. Định nghĩa và vai trò của phương pháp đào tạo nghề lái tàu

Phương pháp đào tạo nghề lái tàu là quá trình truyền đạt kiến thức và kỹ năng cần thiết cho người học để họ có thể làm việc hiệu quả trong ngành đường sắt. Vai trò của phương pháp này là rất quan trọng, vì nó không chỉ giúp người học nắm vững lý thuyết mà còn thực hành các kỹ năng cần thiết trong môi trường làm việc thực tế.

1.2. Lợi ích của việc gắn kết nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề

Việc gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề lái tàu mang lại nhiều lợi ích. Đầu tiên, nó giúp cải thiện chất lượng đào tạo, đảm bảo rằng chương trình học đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Thứ hai, sinh viên có cơ hội thực tập và làm việc tại doanh nghiệp, từ đó nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm làm việc.

II. Thách thức trong việc gắn kết nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề lái tàu

Mặc dù việc gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề lái tàu mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gặp phải không ít thách thức. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả của chương trình đào tạo.

2.1. Khó khăn trong việc thiết kế chương trình đào tạo phù hợp

Một trong những khó khăn lớn nhất là việc thiết kế chương trình đào tạo sao cho phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp. Nhiều khi, nội dung đào tạo không theo kịp với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu thực tế của thị trường.

2.2. Thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp

Sự thiếu hụt trong việc hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp có thể dẫn đến việc đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thực tế. Doanh nghiệp cần tham gia vào quá trình thiết kế chương trình đào tạo để đảm bảo rằng sinh viên được trang bị đầy đủ kỹ năng cần thiết.

III. Phương pháp đào tạo nghề lái tàu hiệu quả gắn kết nhà trường và doanh nghiệp

Để nâng cao chất lượng đào tạo nghề lái tàu, cần áp dụng các phương pháp đào tạo hiệu quả. Những phương pháp này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng thực hành cần thiết.

3.1. Đào tạo theo mô hình kép

Mô hình đào tạo kép là một phương pháp hiệu quả, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Sinh viên sẽ học lý thuyết tại nhà trường và thực hành tại doanh nghiệp, từ đó giúp họ có cái nhìn thực tế về công việc.

3.2. Sử dụng công nghệ trong đào tạo

Việc áp dụng công nghệ trong đào tạo nghề lái tàu giúp nâng cao hiệu quả học tập. Các công cụ như mô phỏng, phần mềm đào tạo có thể giúp sinh viên thực hành trong môi trường an toàn và hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương pháp đào tạo nghề lái tàu gắn kết nhà trường và doanh nghiệp

Việc áp dụng phương pháp đào tạo nghề lái tàu gắn kết nhà trường và doanh nghiệp đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các doanh nghiệp đã nhận thấy sự cải thiện trong chất lượng lao động và khả năng làm việc của sinh viên.

4.1. Kết quả khảo sát về chất lượng đào tạo

Kết quả khảo sát cho thấy rằng sinh viên tốt nghiệp từ các chương trình đào tạo gắn kết với doanh nghiệp có tỷ lệ việc làm cao hơn và được doanh nghiệp đánh giá cao về kỹ năng và năng lực.

4.2. Các mô hình thành công trong đào tạo nghề lái tàu

Nhiều mô hình thành công đã được triển khai, cho thấy sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp có thể tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành đường sắt.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai cho đào tạo nghề lái tàu

Kết luận cho thấy rằng việc gắn kết nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề lái tàu là cần thiết và mang lại nhiều lợi ích. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng đào tạo và tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan.

5.1. Đề xuất cải tiến chương trình đào tạo

Cần có những cải tiến trong chương trình đào tạo để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp. Việc thường xuyên cập nhật nội dung đào tạo là rất quan trọng.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp

Tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ giúp nâng cao chất lượng đào tạo và tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 1.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới Ở Châu Âu, quá trình công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng vào nửa cuối thế kỷ thứ 17 làm xuất hiện các hình thức ĐTN nhằm đáp ứng được nhu cầu một nguồn lực lớn lao động cho xã hội. Trong số các hình thức đào tạo điển hình phải kể đến thành công của nước Đức, Na Uy. Hình thức này đã được lan truyền đến Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha và các nước châu lục khác. Đào tạo nghề theo định hướng gắn NT với DN đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả của hoạt động gắn kết đào tạo đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho cả hai phía NT và DN.

Na Uy [13] được xem là quốc gia sở hữu nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên thế giới. Hệ thống giáo dục - dạy nghề của Na Uy đang sử dụng mô hình 2+2, tức là 2 năm học ở trường và 2 năm học thực tế tại nhà máy hoặc DN. Tuy nhiên theo hướng linh hoạt hơn, việc thực tập không nhất thiết phải là 2 năm cuối cùng mà do DN và NT lập kế hoạch đan xen trong quá trình 4 năm học. Ngoài mô hình 2+2, Nauy còn thành công ở mô hình 1+3, tức 1 năm tại trường và 3 năm học tại DN; mô hình 0+4, tức 4 năm học tại DN CHLB Đức [29] là một trong những quốc gia đã tạo được sự phát triển kinh tế-xã hội cao nhờ làm tốt chiến lược phát triển nguồn nhân lực, trong đó hệ thống đào tạo nghề kép được coi là mô hình đào tạo có hiệu quả.

Hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong môi trường thực tế của DN, DN tập trung vào việc cung cấp kiến thức và kỹ năng thực tế phù hợp với công nghệ sản xuất của DN. Năm 1969 CHLB Đức đã cho ra bộ luật dạy nghề làm cơ sở pháp lý cho hệ thống đào tạo kép thành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng nghề chủ chốt.Tại Đức thì các 7 trường không những liên kết với DN trong hoạt động đào tạo mà các trường còn trực thuộc trong DN. Theo thống kê năm 2007 có khoảng 93,3 % các công ty sở hữu trường dạy nghề riêng và phát triển chiến lược nhân sự trong tương lai thông qua các mô hình dạy nghề Tại Thái Lan [6], chính phủ và các cơ quan hữu trách rất coi trọng hệ thống thông tin thị trường lao động ĐTN. đã có những kiến giải khá toàn diện về lợi ích mang lại cho các bên tham gia thông qua con đường hợp tác đào tạo giữa NT với DN.

Đặc biệt, từ năm 2005 đến năm 2009, trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu (Cedefop) đã triển khai nghiên cứu về lợi ích liên kết đào tạo với DN theo nhiều hướng khác nhau tại 21 quốc gia châu Âu như: Cộng hoà Séc, Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Latvi, Hungary, Hà lan, Austria, Ba lan, Bồ đào nha, Romania, Slovenia, Slovakia, Phần lan, Thụy điển và Vương quốc Anh cũng như Nauy và Iceland. Để từ đó khẳng định: 2 nhóm lợi ích chính mà chương trình liên kết ĐTN mang lại là: Lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Cả 2 nhóm lợi ích đều được phân tích cụ thể qua 3 cấp độ: Cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân); Cấp độ trung gian (lợi ích của DN); Cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội) [18]. Ngoài ra, các thành viên của trung tâm Cedefop cũng rất quan tâm đến yếu tố tiền lương và cơ hội việc làm.

Theo họ, đây là những yếu tố tạo nên thành công của quan hệ hợp tác để gắn kết đào tạo. Các tác giả: Chana Kasipar, Se-Yung LIM, Alexander Schnarr, Wu Quanquan, Xu Ying, Frank Bünning (2009) [20]; Chun Gyun Jung (2001) [21]; Rita Nikolai and Christian Ebner (2011) [22], khi nghiên cứu về giải pháp thúc đẩy mối 8 quan hệ hợp tác giữa NT và DN trong liên kết đào tạo cũng đã đề cập tới nhiều giải pháp liên kết mang lại hiệu quả tích cực như: đào tạo tại xí nghiệp, nơi sản xuất với vai trò chủ đạo thuộc về cơ sở sử dụng nhân lực. Theo tác giả Frank Bünning và Schnarr (2009) [20] cần chú ý đến hoạt động xúc tiến chiến dịch cộng tác (strategic partnership) giữa các thành viên như: Các cá nhân; Gia đình; Cộng đồng; Các tổ chức tình nguyện; Cơ sở đào tạo tư nhân; Cơ sở đào tạo quốc gia; Công nhân và tổ chức; Người quản lý và tổ chức; Chính phủ. Vấn đề là phải tạo được sự thoải mái, tự nguyện trong liên kết.

Nghiên cứu về những quy định, trách nhiệm đối với các bên trong quan hệ hợp tác, các tác giả: Chana Kasipar, Se-Yung LIM, Alexander Schnarr, Xu Ying, Frank Bünning (2009) [20]; Tazeen Fasih (2008) [24] nhấn mạnh tới trách nhiệm, vai trò của DN, các quy định về nghĩa vụ, khoản kinh phí đóng góp cho quỹ đào tạo, hỗ trợ phát triển nhân lực, các chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, chính sách khuyến khích DN tự đào tạo lao động thông qua việc cho phép DN tính chi phí đào tạo nhân lực vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; chính sách đào tạo miễn phí thông qua một số dự án dạy nghề cho một số đối tượng lao động thuộc nhóm yếu thế trong xã hội Từ những phân tích trên cho thấy, mối quan hệ giữa NT và DN tại các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển là mối quan hệ bình đẳng, hai bên cùng có lợi, không phải là chỉ hỗ trợ từ một phía. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra nhiều khuyến cáo cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong việc ĐTN gắn với thị trường lao động nhằm giải quyết việc làm, gắn với việc phân công điều tiết lao động trong các vùng miền hoặc giữa các quốc gia. Các chương trình này hiện đang được coi như một phương thức đào tạo có hiệu quả. Việc gắn kết này thể hiện chủ yếu ở nội dung chương trình đào tạo, hình thức, phương pháp đào tạo, qui trình đào tạo và cách thức giải quyết việc làm sau đào tạo cho người học 1.Trong nước Văn kiện đại hội Đảng lần XII, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, 9 quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”.

Với yêu cầu CNH-HĐH đất nước, đặc biệt do sự chuyển biến từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, giá trị của sức lao động tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Để nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực ĐTN, đòi hỏi NT phải chủ động chuẩn bị tiềm lực về cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn lực chất lượng cao phù hợp với yêu cầu của DN. Xuất phát từ những lý do trên mà hoạt động gắn kết đào tạo giữa NT và DN đã được nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ các nước tiên tiến trên thế giới và được vận dụng vào các chính sách của Việt Nam.

Điều này được cụ thể hoá trong Luật giáo dục năm 2005, Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993, Điều lệ trường cao đẳng nghề năm 2007. Luật giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực 1 tháng 7 năm 2015, Điều lệ trường cao đẳng nghề năm 2015. Cụ thể Luật giáo dục nghề nghiệp, Chương I, điều 4 qui định mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn. Chương IV, luật giáo dục nghề nghiệp cũng đã qui định rõ ở Điều 30 và 31 về quyền và nghĩa vụ của DN trong hoạt động đào tạo nghề[12] Nhìn chung, mô hình cho hình thức quan hệ gắn kết giữa NT với DN ở Việt Nam hiện nay thực hiện theo hai dạng như: Dạy nghề phối hợp giữa cơ sở đào tạo và DN (thực hiện tại cơ sở đào tạo và DN): Đây là mô hình đào tạo theo địa chỉ, có kỹ năng chuyên sâu, lao động được phân phối, phân công theo nguyên tắc tuân thủ chấp hành; Dạy nghề tại xí nghiệp, dạy nghề tại nơi làm việc (thực hiện tại DN): Là 10 mô hình đào tạo theo hợp đồng, cam kết, có kỹ năng phù hợp và lao động tự chịu trách nhiệm.

Đáng chú ý là mô hình tổ chức hợp tác đào tạo giữa NT với DN trong Khu công nghiệp của các Trường cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore (tại khu công nghiệp Việt Nam - Singapore) [8]. Theo đó, NT chịu trách nhiệm về hạ tầng cơ sở, tuyển dụng đội ngũ, cung cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, chính phủ Singapore cung cấp chương trình đào tạo, máy móc thiết bị, tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ GV, cử chuyên gia cùng quản lý điều hành hoạt động, khu công nghiệp Việt Nam-Singapore hỗ trợ các chi phí phục vụ công tác quản lý, trang bị văn phòng, bố trí việc làm cho người học khi tốt nghiệp. Với Trường CĐN Dung Quất: Trường không tuyển sinh tràn lan mà tuyển theo đơn đặt hàng của các DN, tập trung đào tạo các ngành mà các DN đang cần, trường nhận được sự hỗ trợ đắc lực từ phía DN như cung cấp trang thiết bị, chịu trách nhiệm hướng dẫn thực tập cho HS-SV trong học kỳ DN của chương trình đào tạo. Khu công nghiệp với các tập đoàn kinh tế lớn có nhu cầu nhân lực cao là môi trường thuận lợi cho các CSĐT.

Đào tạo nhân lực tại chỗ, đào tạo theo địa chỉ, đào tạo gắn với việc làm trở thành chất xúc tác quan trọng kết dính giữa CSĐT với DN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ