CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU Hãng sản Số serial bộ STT Máy biến áp xuất bộ Mã hiệu Năm sản xuất OLTC OLTC VN1470 - ABB 380/600/C 8721832 Thạnh Hóa T1 - VVIII400Y- 35 0230182T - Vina MR 161429 2002 76-10191G Takaoka Thạnh Hóa T2 - VUCGRN 1ZSC 36 ABB 2019 VN1657 - ABB 380/450C 8727196 Thủ Thừa T1 - VUCGDN 37 ABB 1ZSC8726417 2019 VN1632 - ABB 380/600/C Vĩnh Hưng T2 - VVIII400Y- 38 MR 1861040 2017 90262A02 - Toshiba 76-10191W 1. Tính thiết thực của nghiên cứu Hiện nay, chính sách bảo trì dựa trên tình trạng (CBM) đang được Tâp đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) áp dụng trên các trạm biến áp 220kV và 110kV trên phạm vi cả nước, thay thế cho việc bảo trì theo thời gian vốn đã được áp dụng trong suốt một khoảng thời gian dài trước đây [16-22]. CBM là chính sách bảo trì tối ưu, với sự hỗ trợ của các công cụ đánh giá tình trạng, sẽ cung cấp thông tin chính xác và có giá trị về tình trạng của máy.
Một hệ thống CBM hoàn chỉnh phải có khả năng giám sát tình trạng của thiết bị trong vân hành, dự báo nhu cầu bảo trì trước khi xảy ra hư hỏng hoặc hỏng hóc đáng kể, xác định các vấn đề cần bảo trì và xác định vị trí, thâm chí ước tính tuổi thọ của MBA. Tính đến nay, cách duy nhất để xác định xem OLTC có cần bảo trì hay không là thực hiện kiểm tra mẫu dầu hoặc ngừng sử dụng máy biến áp để cho phép mở OLTC để thực hiện kiểm tra. Quá trình này có thể mất vài giờ cho đến vài tuần (tùy vào mức độ cần thiết phải bảo trì), gây thêm áp lực và làm giảm độ tin cây của lưới điện hoặc trong một số trường hợp xấu, khách hàng sẽ không có điện cho đến khi MBA được đưa vào sử dụng trở lại. GIỚI THIỆU Với nội dung nghiên cứu trong luân văn này, học viên cố gắng đóng góp giải pháp đánh giá tình trạng, cũng như dự báo thời điểm bảo trì phù hợp cho các bộ OLTC đang được gắn trong các MBA 110kV trên lưới điện Long An.
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho Công ty Điện Lực Long An đánh giá được tình trạng các bộ OLTC đang vân hành, xây dựng kế hoạch bảo trì, bảo dưỡng phù hợp nhằm ngăn ngừa sự cố và đảm bảo độ tin cây cung cấp điện. BỘ ĐIỀU ÁP DƯỚI TẢI CHƯƠNG 2. BỘ ĐIỀU ÁP DƯỚI TẢI Chương này trình bày về nguyên lý hoạt động cũng như cấu tạo cơ bản của các bộ điều áp dưới tải (OLTC). Thông qua cơ sở đó, các dạng khiếm khuyết, hư hỏng thường gặp trên OLTC sẽ được phân tích, tạo tiền đề cho việc lựa chọn phương pháp đánh giá tình trạng ở các chương sau.
Nguyên lý hoạt động Các bộ OLTC đều dựa trên nguyên tắc chuyển mạch cơ học để lựa chọn vị trí nấc điện áp mà không có bất kỳ sự gián đoạn nào về dòng điện. Nếu OLTC sử dụng một công tắc tiếp điểm duy nhất trong thao tác đổi nấc, dòng điện chắc chắn sẽ bị cắt cho đến khi công tắc được kết nối với vị trí điểm nhấn cuối cùng. Để giải quyết vấn đề cắt dòng điện, khái niệm tiếp điểm “đóng trước khi ngắt” được sử dụng. Về vấn đề này, vị trí nấc điện áp mong muốn được bắt cầu trước khi ngắt tiếp điểm khỏi vị trí nấc chính.
Vì vây, tiếp điểm OLTC kết nối hai nấc cùng lúc và sau đó tạo ra dòng điện tuần hoàn. Để hạn chế dòng điện tuần hoàn, trở kháng chuyển tiếp được sử dụng ở dạng điện trở hoặc cuộn kháng. Các bộ OLTC theo nguyên lý điện trở chuyển mạch phù hợp với các MBA có cấp điện áp cao, nhưng đòi hỏi có cơ cấu chuyển tiếp nhanh để đóng và ngắt điện trở vào mạch chính trong khoảng thời gian ngắn, thường vào khoảng 50 – 150 ms [23]. Nguyên lý điện kháng thường được ứng dụng trong các bộ OLTC ở cấp điện áp thấp hơn 138 kV, nhưng có khả năng mang dòng tải cao và cũng không yêu cầu phải có cơ cấu chuyển tiếp nhanh.
Các bộ OLTC dạng điện kháng sử dụng một biến áp tự ngẫu là một phần của mạch chính (thông thường phải do nhà sản xuất máy biến áp thiết kế nằm trong thân máy máy biến chính). Nguyên lý này được sử dụng phổ biến ở Bắc My; còn ở Việt Nam thì phần lớn các bộ OLTC được sử dụng trong các máy biến áp truyền tải đều sử dụng nguyên lý điện trở chuyển mạch. Quá trình chuyển mạch được thực hiện một cách nhanh chóng, với thời gian chuyển tiếp khoảng 40 ms đến 60 ms tùy thuộc vào loại và thiết kế. Chu trình vân hành tiếp điểm hồ quang được thực hiện ngay khi lò xo tích năng được nhả ra.
BỘ ĐIỀU ÁP DƯỚI TẢI điện trở chuyển tiếp được nối vào mạch trong thời gian ngắn khoảng 20 - 30 ms (tùy thuộc vào loại và thiết kế). Tổng thời gian để thay đổi một nấc từ khi khởi động cơ cấu truyền động động cơ đến khi hoàn thành thao tác thay đổi nấc là từ 2 giây đến 10 giây, tùy thuộc vào nhà sản xuất [24, 25]. Có hai dạng cơ cấu chuyển mạch trong các bộ OLTC: khóa chuyển hướng (Diverter Switch) và khóa chọn nấc (Selector Switch). Cơ cấu khóa chuyển hướng sử dụng khóa chuyển mạch nối tiếp với bộ phân chọn nấc có các cặp tiếp điểm tĩnh và tiếp điểm động phối hợp với nhau để dẫn dòng điện.
Các bộ OLTC dùng cơ cấu chuyển mạch dạng khóa chọn nấc thì lại có bộ phân chọn nấc và dao chuyển mạch nằm chung trong một cơ cấu duy nhất, và vì vây nên chủ yếu được ứng dụng trong các MBA có công suất thấp hơn. Cả hai dạng cơ cấu chuyển mạch có thể có hệ thống tiếp điểm ngâm trong dầu, hoặc hiện nay đang phổ biến hơn là dạng khóa chân không [1].1: So sánh ưu và nhược điểm của các dạng khóa chuyển mạch trong OLTC Cơ cấu Ưu điểm Nhược điểm Khóa chuyển - Bộ phân chọn nấc ít bị hư hại - Đối mặt với hiện tượng dầu hướng (Diverter - Có thể thay thế dao chuyển nhiễm bẩn Switch) hướng nếu có dự phòng (khi cần bảo trì) Khóa chọn nấc - Cấu trúc đơn giản - Đối mặt với hiện tượng dầu (Selector Switch) - Kết cấu gọn nhiễm bẩn - Các tiếp điểm chọn nấc dễ bị lão hóa (vì bộ phân chọn nấc nằm cùng cơ cấu với các dao chuyển mạch) Khóa chân không - Không cần bảo trì nhiều (Vacuum Switch) - Tránh được hiện tượng dầu nhiễm bẩn 11 CHƯƠNG 2. BỘ ĐIỀU ÁP DƯỚI TẢI Hình 2.1: Cơ cấu OLTC khóa chuyển hướng (bên trái) và khóa chọn nấc (bên phải) ngâm dầu [1] 2. Cấu trúc tổng quát 2.
Vị trí đặt Vị trí đặt của bộ OLTC được thiết kế để các sản phẩm phụ trong quá trình dâp hồ quang ở khóa chuyển hướng hay khóa chọn nấc ảnh hưởng đến các phần tử tích cực trong máy biến áp.2 phân tích ưu điểm và nhược điểm của các thiết kế khác nhau.2: Các dạng cấu trúc tổng thể của bộ OLTC [1] Thiết kế Hình minh họa Phân tích Ưu điểm: - Thùng dầu phụ của bộ OLTC có thể được loại bỏ trong một số trường hợp Thùng rời - Dễ tiếp cân để bảo trì (Compartment) Nhược điểm: - Có khả năng rỉ dầu ra môi trường - Dầu bẩn ở khóa chuyển hướng sẽ đi xuống bộ phân chọn nấc Ưu điểm: Thùng đôi rời - Dễ tiếp cân để bảo trì (Double - Ít phải xử lý dầu Compartment) - Dầu của bộ phân chọn nấc ít có khả 12 CHƯƠNG 2. BỘ ĐIỀU ÁP DƯỚI TẢI Thiết kế Hình minh họa Phân tích năng bị nhiễm tạp chất Nhược điểm: - Có khả năng rỉ dầu ra môi trường Ưu điểm: - Ít phải xử lý dầu - Có thể dễ dàng bảo trì, thay thế Nằm trong thân máy khóa chuyển hướng (In-Tank) Nhược điểm: - Dầu bẩn có thể rò rỉ sang thân máy - Phải có cần cẩu để rút khóa chuyển hướng ra khi bảo trì Ưu điểm: - Tương tự như loại nằm trong thân máy - Có thể kiểm tra / bảo trì bộ phân Nằm buồng riêng chọn nấc mà không cần phải rút hết trong thân máy / có dầu chính trong thân máy ra rào chắn một phần Nhược điểm: (Weir Type) - Tương tự như loại nằm trong thân máy - Đòi hỏi kích thước thân máy to hơn - Thiết kế phức tạp hơn - Nhiều chi tiết hơn Ký hiệu: Khóa chuyển hướng Bộ phân chọn nấc Trong các dạng nêu trên, dạng nằm buồng riêng trong thân máy và có rào chắn là dạng đang được sử dụng phổ biến nhất trên các bộ OLTC tại Việt Nam. Với loại này, kể cả dầu OLTC có bị nhiễm bẩn thì cũng không lan ra dầu chính trong khoang MBA. BỘ ĐIỀU ÁP DƯỚI TẢI 2.
Cấu hình đấu nối Việc thay đổi tỷ số được thực hiện bằng cách cộng hoặc trừ số vòng dây ở cuộn sơ cấp hoặc thứ cấp. Ba cách sắp xếp cơ bản được thể hiện trong hình 2. Tùy thuộc vào hệ thống và các thông số thiết kế của bố trí máy biến áp a), b) hoặc c) có thể được áp dụng. Cách bố trí tuyến tính như trong hình 2.2(a) thường được áp dụng cho phạm vi điều chỉnh điện áp tối đa 20%.
Nếu sử dụng bộ chọn chuyển đổi đảo chiều như trong hình 2.2(b), thì điện áp cuộn dây có nấc điều chỉnh có thể được cộng hoặc trừ khỏi điện áp cuộn dây chính; phạm vi điều chỉnh có thể tăng lên hoặc số lượng nấc điều chỉnh trên cuộn dây có nấc điều chỉnh có thể giảm đi. Các MBA phân phối và truyền tải tại Việt Nam hiện nay đều sử dụng cấu hình OLTC dạng đảo chiều theo phương thức này.2(c) thể hiện dạng điều chỉnh thô/tinh. Ưu điểm của cách bố trí này là tổn thất có tải thấp hơn ở vị trí nấc phân áp với số vòng dây tối thiểu. Tuy nhiên, từ quan điểm thiết kế độ bền điện môi, sự sắp xếp này đòi hỏi cách bố trí cuộn dây phức tạp hơn.
Sự sắp xếp nhiều bước thô tạo ra phạm vi điều chỉnh lớn, cũng như nấc điều chỉnh tinh hơn, thường áp dụng cho các máy biến áp chỉnh lưu và máy biến áp lò nung.2: Các cấu hình để mở rộng phạm vi điều chỉnh điện áp [24] 14 CHƯƠNG 2. BỘ ĐIỀU ÁP DƯỚI TẢI Việc bố trí bộ OLTC đấu nối ở đâu trong cuộn dây là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Nếu cuộn dây đấu hình sao, bộ OLTC đấu nối ở đầu trung tính sẽ hợp lý hơn về mặt kinh tế và ky thuât (hình 2.