Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới".
- Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học.
- Hệ thống văn bản nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học chính trị và triết học xã hội.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Phụ nữ Việt Nam chiếm khoảng 50,54% dân số và 50,6% lực lượng lao động xã hội, có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, vị thế của phụ nữ từng bước được nâng lên, số lượng cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu thực tiễn, đội ngũ phụ nữ lãnh đạo, quản lý các cấp còn hạn chế về số lượng và tỷ lệ so với nam giới; chủ yếu đảm nhiệm vị trí cấp phó hoặc tập trung ở các tổ chức đoàn thể, lĩnh vực văn hóa - xã hội.
Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị có truyền thống lâu đời và mặt bằng dân trí cao so với cả nước. Mặc dù vậy, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng này chỉ đạt 23,3%, thấp hơn đáng kể so với các khu vực khác:
| Khu vực địa lý |
Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong HTCT (%) |
| Đồng bằng sông Hồng |
23,3% |
| Tây Nguyên |
24,2% |
| Trung du và miền núi phía Bắc |
26,6% |
| Đông Nam Bộ |
27,5% |
Vị trí công tác của cán bộ nữ tại ĐBSH chủ yếu là cấp phó; ở các cấp chính quyền và vị trí ra quyết định càng cao thì tỷ lệ phụ nữ càng thấp; một số địa phương xuất hiện tình trạng sụt giảm qua các nhiệm kỳ. Luận án chỉ ra nguyên nhân chủ yếu là do định kiến giới truyền thống mang tính "thâm căn, cố đế" tại địa bàn, kết hợp với các rào cản về cơ chế chính sách, gánh nặng gia đình và tâm lý tự ti của phụ nữ. Đây là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết một cách toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, phân tích làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra, luận án đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường số lượng, chất lượng phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng ĐBSH hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (3 nhiệm vụ):
- Một là, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị;
- Hai là, phân tích làm rõ thực trạng phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng ĐBSH và những vấn đề đặt ra hiện nay;
- Ba là, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng ĐBSH hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Số lượng, chất lượng, tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở ba khối cơ quan (Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội) và ba cấp hành chính (tỉnh/thành phố; quận/huyện/thị xã; xã/phường/thị trấn). Luận án tập trung nghiên cứu số lượng và tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong khối cơ quan Đảng và Chính quyền vùng ĐBSH.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Địa bàn 11 tỉnh, thành phố thuộc vùng ĐBSH; trong đó tập trung khảo sát các địa phương đại diện gồm Thành phố Hà Nội (đại diện trung tâm), Hải Phòng và Vĩnh Phúc (đại diện phía Đông Bắc), Nam Định và Hà Nam (đại diện phía Nam).
- Về thời gian: Thời kỳ đổi mới; tập trung khảo sát cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016; cấp huyện và cấp xã nhiệm kỳ 2010 - 2015.
- Về lĩnh vực/chức danh: Phụ nữ trong Ban Chấp hành, Ban Thường vụ cấp ủy Đảng; đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND); Chủ tịch, Phó Chủ tịch thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND); Trưởng, Phó các Sở, Ban, Ngành, phòng ban chuyên môn; Trưởng, Phó Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu đã được tổng quan trong văn bản
Tác giả đã phân loại và tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 3 nhóm nội dung chính:
-
Nhóm nghiên cứu về phụ nữ, giới và phát triển, bình đẳng giới:
- Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng trong công trình Phụ nữ - giới và phát triển (1996) phân tích mối quan hệ giữa bình đẳng giới và phát triển xã hội gắn với việc làm, thu nhập, học vấn.
- Vũ Khiêu trong Nho giáo và phát triển ở Việt Nam phân tích ảnh hưởng của lễ giáo Nho gia, chế độ gia trưởng và yêu cầu giải phóng phụ nữ khỏi các ràng buộc truyền thống.
- Lê Thi (Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam) đề xuất chính sách xã hội nhằm thực hiện bình đẳng giới.
- Ngân hàng Thế giới với các báo cáo Đưa vấn đề giới vào phát triển, thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói (2001) và Đánh giá Giới tại Việt Nam phân tích sự cần thiết thay đổi thể chế để bảo đảm quyền và tiếng nói chính trị của phụ nữ.
- Phạm Minh Hạc (chủ biên) trong Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa chỉ ra 5 đặc điểm trí tuệ của con người Việt Nam.
- Trần Hàn Giang (Về một số lý thuyết nữ quyền) phân tích tiến trình lý thuyết nữ quyền tự do (Liberal Feminism) từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX.
- Đỗ Thị Thạch với các công trình về phát huy nguồn lực trí thức nữ, bình đẳng giới trong toàn cầu hóa và tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào lãnh đạo, quản lý.
- Lê Thị Quý (Phụ nữ trong đổi mới: Thành tựu và thách thức, Bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay) phân tích sự phân công lao động, phân biệt bình đẳng giới thực chất với bình đẳng giới hình thức, và rào cản từ chênh lệch độ tuổi nghỉ hưu (nữ 55 tuổi, nam 60 tuổi).
- Các công trình khác của Lê Ngọc Văn, Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch, Trần Thị Vân Anh - Nguyễn Hữu Minh, Trịnh Quốc Tuấn - Đỗ Thị Thạch, Vũ Thị Cúc (về tư tưởng Hồ Chí Minh về giới), Phạm Thu Hiền, Phạm Ngọc Tiến, Phạm Minh Anh, Bùi Thế Cường, Lưu Song Hà - Phan Thị Thu Hà (đánh giá chất lượng nguồn nhân lực nữ qua thể lực, trí lực, tâm lực), Hoàng Bá Thịnh, và tài liệu của Pippa Norris (khung kế hoạch hành động 6 bước).
-
Nhóm nghiên cứu về công tác cán bộ và phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị:
- Vương Thị Hanh (Phụ nữ Việt Nam và sự tham gia chính trị) chỉ ra sự thiếu cam kết của người đứng đầu các cấp trong quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ.
- Nguyễn Thị Tuyết Nga nghiên cứu yếu tố văn hóa truyền thống tác động đến sự tham chính của phụ nữ tại Hà Giang.
- Võ Thị Mai khảo sát vai trò nữ cán bộ quản lý nhà nước tại Quảng Ngãi và vấn đề sử dụng nhân tài nữ trong hệ thống chính trị.
- Nguyễn Đức Hạt (chủ biên) trong Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị cung cấp luận cứ về nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội cho cán bộ nữ.
- Nguyễn Thị Thu Hà phân tích các biểu hiện của định kiến giới đối với cán bộ lãnh đạo nữ.
- Trần Thị Vân Anh (Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo) nêu rõ các rào cản từ định kiến xã hội, gia đình và tiêu chuẩn đánh giá khắt khe đối với cán bộ nữ.
- Nguyễn Thúy Anh thống kê dữ liệu: nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII xếp thứ 39/189 quốc gia trên thế giới, thứ 3 ở Đông Nam Á và thứ 6 ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
- Vũ Mạnh Lợi chỉ ra thực trạng vùng ĐBSH có tỷ lệ phụ nữ làm lãnh đạo thấp hơn vùng Đông Nam Bộ do rào cản khuôn mẫu văn hóa.
- Các nghiên cứu chuyên biệt về đội ngũ cán bộ tại vùng ĐBSH: Chu Thị Thoa (bình đẳng giới gia đình ở nông thôn ĐBSH), Nguyễn Thái Sơn, Dương Minh Đức, Cao Khoa Bảng, Nguyễn Dương Hùng, Đinh Ngọc Giang, Ngô Kim Ngân - Lâm Quốc Tuấn, Phạm Tất Thắng, Trần Sỹ Dương (tâm lý sản xuất nhỏ của cán bộ cơ sở), Trịnh Thanh Tâm (nữ cán bộ chủ chốt cấp xã ở ĐBSH).
-
Nhóm các nghiên cứu ngoài nước:
- Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc (năm 2000) với Mục tiêu 3 về bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ (bản dịch của Kim Dung).
- Anne Marie Goetz (UNIFEM) trong báo cáo Ai có trách nhiệm trả lời phụ nữ? Giới và trách nhiệm giải trình phân tích thực tiễn bầu cử Kenya năm 2007 và Yêu sách của phụ nữ Ireland năm 2007 về việc gia tăng đại diện nữ trong các vị trí ra quyết định.
- Các báo cáo của UNIFEM về Mục tiêu Thiên niên kỷ, Công ước CEDAW và rà soát pháp luật Việt Nam (chuyển ngữ bởi Rea Abada Chiongson, Lê Thành Long).
- Jean Munro về mô hình hướng dẫn/dìu dắt (mentoring) nâng cao năng lực cán bộ nữ thông qua 3 yếu tố: kiến thức, hướng dẫn và sự tin tưởng.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu chỉ ra 4 hạn chế của các công trình đi trước:
- Các nghiên cứu phần lớn chỉ tiếp cận riêng lẻ ở phạm vi địa phương hẹp, hoặc tập trung vào một chức danh đơn lẻ (chủ tịch xã, bí thư huyện ủy), chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong toàn bộ hệ thống chính trị vùng ĐBSH.
- Phần lớn các lý giải về bất bình đẳng giới trong hệ thống chính trị mới chỉ dừng lại ở phân tích cấu trúc kinh tế - xã hội chung, chưa cung cấp đầy đủ luận cứ và bằng chứng định lượng thuyết phục về các rào cản thể chế, văn hóa đặc thù tại ĐBSH.
- Các phân tích chưa thống nhất trong việc đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ góc độ chính trị - xã hội nhằm nâng cao tỷ lệ và chất lượng cán bộ nữ ở các cấp.
- Chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng ĐBSH thời kỳ đổi mới dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Cơ sở lý luận nền tảng: Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về công tác cán bộ nữ và bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị.
- Khái niệm lãnh đạo trong hệ thống chính trị: Là việc tổ chức và định hướng chung cho hoạt động của con người trong một tập thể, cộng đồng bằng năng lực, phẩm chất của người đứng đầu, nhằm liên kết các cá nhân thực hiện những chủ trương, đường lối đã xác định để đạt được mục tiêu đề ra.
- Khái niệm quản lý trong hệ thống chính trị: Là việc điều hành và kiểm soát thực hiện các hoạt động trong tổ chức theo yêu cầu nhất định nhằm đạt được mục tiêu mà lãnh đạo đã đề ra.
- Mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý: Có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Ở Việt Nam, cơ chế vận hành tổng thể được xác định là: Đảng lãnh đạo (vạch đường lối, chủ trương, chiến lược), Nhà nước quản lý (thể chế hóa đường lối thành pháp luật, chính sách và điều hành xã hội), Nhân dân làm chủ. Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị gồm 3 khối (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội) phân thành 4 cấp hành chính (Trung ương, tỉnh/thành phố, quận/huyện/thị xã, xã/phường/thị trấn).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp định lượng xã hội học:
- Phương pháp phân tích văn bản và liên ngành: Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, báo cáo tổng kết nhiệm kỳ của các cấp ủy Đảng và chính quyền các tỉnh vùng ĐBSH.
- Phương pháp thống kê: Xử lý và so sánh các chuỗi số liệu thứ cấp về tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng, HĐND, UBND, đoàn thể chính trị - xã hội các cấp qua các nhiệm kỳ.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp và các khối cơ quan khác nhau tại các tỉnh đại diện.
- Khảo sát bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu hỏi gồm 9 câu hỏi, khảo sát trên dung lượng mẫu là 305 cán bộ lãnh đạo, quản lý tại một số tỉnh/thành phố đại diện trong hệ thống chính trị các cấp ở vùng ĐBSH (Phụ lục 2).
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, số liệu thống kê của 11 tỉnh/thành phố vùng ĐBSH; dữ liệu sơ cấp từ 305 phiếu điều tra và các biên bản phỏng vấn sâu của tác giả.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
- Hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 nhóm chủ đề: nghiên cứu về giới và bình đẳng giới; nghiên cứu về cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị; nghiên cứu quốc tế về bình đẳng giới trong chính trị.
- Phân tích 5 nhóm đóng góp chủ yếu của các công trình trước về mặt lý luận, chính sách và thực tiễn cán bộ.
- Chỉ ra 4 hạn chế chính của các tài liệu hiện có và xác định 3 nội dung trọng tâm mà luận án thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị vùng ĐBSH.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
- Phân tích các khái niệm cơ bản về lãnh đạo, quản lý; cấu trúc hệ thống chính trị Việt Nam (3 khối cơ quan, 4 cấp quản lý) và vị trí của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền.
- Luận giải cơ sở lý luận về vai trò, sự cần thiết của việc tăng cường phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý từ góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học, quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Trình bày cơ sở thực tiễn về công tác cán bộ nữ trên toàn quốc và vùng ĐBSH qua các bảng dữ liệu tổng hợp:
- Bảng 2.1: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống cấp ủy Đảng;
- Bảng 2.2: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong Quốc hội qua các nhiệm kỳ gần đây;
- Bảng 2.3: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong Hội đồng nhân dân các cấp các nhiệm kỳ gần đây;
- Bảng 2.4: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý đoàn thể cấp tỉnh, huyện, xã.
- Làm rõ đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội vùng ĐBSH tác động trực tiếp đến vai trò và vị thế của phụ nữ trong hệ thống chính trị thời kỳ đổi mới.
Chương 3: THỰC TRẠNG PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY
- Đánh giá thực trạng số lượng, cơ cấu, tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý tại 11 tỉnh/thành phố vùng ĐBSH (khảo sát sâu tại Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Nam):
- Bảng 3.1: So sánh tỷ lệ nữ ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cấp: tỉnh, huyện, xã vùng đồng bằng sông Hồng nhiệm kỳ 2010 - 2015;
- Bảng 3.2: So sánh tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp vùng đồng bằng sông Hồng nhiệm kỳ 2010 - 2015.
- Chỉ rõ thực trạng: Tỷ lệ nữ lãnh đạo đạt 23,3%, thấp hơn các vùng khác; tỷ lệ giảm dần ở các vị trí ra quyết định cao hơn; cán bộ nữ chủ yếu giữ chức vụ cấp phó hoặc phụ trách khối đoàn thể, xã hội.
- Phân tích nguyên nhân thực trạng:
- Nguyên nhân chủ quan: Định kiến giới sâu sắc và tâm lý coi nhẹ năng lực lãnh đạo của phụ nữ; tâm lý an phận, tự ti, thiếu quyết tâm phấn đấu của một bộ phận cán bộ nữ; gánh nặng vai trò gia đình.
- Nguyên nhân khách quan: Công tác quy hoạch, tạo nguồn, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ nữ ở một số cấp ủy chưa sát sao, thiếu chỉ tiêu mang tính ràng buộc; chính sách tuổi nghỉ hưu chênh lệch giữa nam và nữ gây bất lợi cho phụ nữ trong quy hoạch và đề bạt.
- Xác định các vấn đề đặt ra đối với vùng ĐBSH hiện nay: mâu thuẫn giữa trình độ phát triển kinh tế - dân trí cao với tỷ lệ phụ nữ tham chính thấp; nguy cơ hẫng hụt nguồn cán bộ nữ kế cận tại các cấp cơ sở.
Chương 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHỤ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
- Xác định hệ thống quan điểm chỉ đạo: bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; gắn việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ với nâng cao chất lượng toàn diện của hệ thống chính trị; kết hợp giữa chính sách của Nhà nước với sự nỗ lực tự thân của phụ nữ.
- Đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức xã hội, xóa bỏ định kiến giới đối với phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý;
- Đổi mới và hoàn thiện quy trình công tác cán bộ nữ: xây dựng quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng lý luận và chuyên môn, bố trí, luân chuyển, sử dụng và bổ nhiệm cán bộ nữ;
- Xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách hỗ trợ cán bộ nữ, nghiên cứu điều chỉnh các quy định về độ tuổi quy hoạch, đào tạo và tuổi nghỉ hưu;
- Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan trong hệ thống chính trị đối với việc phát triển đội ngũ cán bộ nữ;
- Phát huy tính chủ động, ý thức tự vươn lên, năng lực chuyên môn và kỹ năng lãnh đạo của bản thân đội ngũ cán bộ nữ.
- Đưa ra các kiến nghị đối với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cấp ủy, chính quyền địa phương vùng ĐBSH.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
- Luận giải sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa lãnh đạo và quản lý trong thể chế chính trị Việt Nam; làm rõ tác động của hệ giá trị văn hóa truyền thống và định kiến giới đến việc thực thi quyền lực chính trị của phụ nữ tại một vùng đồng bằng châu thổ đặc thù.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện, cập nhật về số lượng, cơ cấu, tỷ lệ và chất lượng phụ nữ tham gia cấp ủy Đảng, HĐND, UBND và các đoàn thể chính trị - xã hội tại 11 tỉnh vùng ĐBSH (trọng tâm là nhiệm kỳ 2010 - 2015 và 2011 - 2016).
- Làm sáng tỏ nghịch lý: Mặc dù vùng ĐBSH có trình độ dân trí và kinh tế phát triển cao, nhưng tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị (23,3%) lại thấp hơn vùng Tây Nguyên (24,2%), Trung du và miền núi phía Bắc (26,6%), Đông Nam Bộ (27,5%).
- Đề xuất hệ thống quan điểm, nhóm giải pháp và kiến nghị có căn cứ khoa học nhằm tăng cường số lượng, tỷ lệ và chất lượng phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị các cấp ở vùng ĐBSH.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được ghi nhận từ phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian khảo sát thực tế tập trung chủ yếu vào cấp tỉnh nhiệm kỳ 2011 - 2016 và cấp huyện, xã nhiệm kỳ 2010 - 2015, chưa bao quát các giai đoạn phát triển tiếp theo của hệ thống chính trị.
- Mẫu điều tra xã hội học bằng bảng hỏi được thực hiện trên 305 cán bộ tại một số tỉnh đại diện (Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nam Định, Hà Nam), chưa tiến hành khảo sát đại trà trên toàn bộ 100% cán bộ lãnh đạo ở tất cả 11 tỉnh, thành phố trong vùng.
- Trọng tâm khảo sát chủ yếu tập trung vào khối cơ quan Đảng và Chính quyền; khối tư pháp và các đơn vị sự nghiệp công lập chưa được khảo sát độc lập thành các chuyên mục riêng biệt.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát số liệu theo chuỗi thời gian ở các nhiệm kỳ tiếp theo để đánh giá sự chuyển biến của tỷ lệ nữ lãnh đạo dưới tác động của các chính sách mới.
- Nghiên cứu so sánh chuyên sâu về tỷ lệ và vị thế của cán bộ nữ giữa các khối hành pháp, lập pháp và tư pháp tại các đô thị đặc thù thuộc vùng ĐBSH.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Khoa học quản lý, Xã hội học giới và Chính sách công.
- Cơ quan lãnh đạo, quản lý và cơ quan tham mưu cán bộ: Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tổ chức các Tỉnh ủy, Thành ủy, Sở Nội vụ và Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH trong việc xây dựng quy hoạch và hoạch định chính sách cán bộ nữ.
- Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Tham khảo làm căn cứ thực tiễn để thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội và đề xuất chính sách thúc đẩy bình đẳng giới.
Phần nội dung đáng tham khảo
- Khung lý luận về mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý trong hệ thống chính trị Việt Nam tại Chương 2.
- Hệ thống dữ liệu thứ cấp và dữ liệu điều tra thực địa (N = 305) về tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy và HĐND các cấp tại Chương 3.
- Các giải pháp hoàn thiện quy trình công tác cán bộ nữ gắn với xóa bỏ định kiến giới tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị vùng ĐBSH đạt bao nhiêu và so sánh với các vùng khác như thế nào?
Trả lời: Tỷ lệ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng ĐBSH chỉ đạt 23,3%, thấp hơn so với vùng Tây Nguyên (24,2%), vùng Trung du và miền núi phía Bắc (26,6%), và vùng Đông Nam Bộ (27,5%).
2. Tác giả đã sử dụng công cụ và dung lượng mẫu điều tra xã hội học thực nghiệm như thế nào?
Trả lời: Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp khảo sát bằng bảng hỏi gồm 9 câu hỏi, triển khai trên dung lượng mẫu là 305 cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các tỉnh, thành phố đại diện trong hệ thống chính trị các cấp ở vùng ĐBSH (Phụ lục 2).
3. Luận án lựa chọn những tỉnh/thành phố nào làm đại diện khảo sát cho vùng ĐBSH?
Trả lời: Luận án chọn 5 địa phương đại diện gồm: Thành phố Hà Nội (đại diện trung tâm); Hải Phòng và Vĩnh Phúc (đại diện phía Đông Bắc); Nam Định và Hà Nam (đại diện phía Nam).
4. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến thực trạng tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo tại ĐBSH còn thấp dù đây là vùng có dân trí cao?
Trả lời: Luận án xác định định kiến giới truyền thống mang tính "thâm căn, cố đế" là nguyên nhân chủ yếu, dẫn đến sự thiếu tin tưởng vào năng lực của phụ nữ; ngoài ra còn do sự chỉ đạo thực hiện chính sách cán bộ nữ ở một số cấp chưa đồng bộ, gánh nặng gia đình và tâm lý tự ti của phụ nữ.
5. Luận án ghi nhận số liệu về vị trí của Việt Nam đối với tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII trên trường quốc tế ra sao?
Trả lời: Theo số liệu trích dẫn trong Chương 1 (công trình của Nguyễn Thúy Anh), tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII đứng thứ 39 trên tổng số 189 quốc gia trên thế giới, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, và đứng thứ 6 trong khu vực Châu Á cũng như Châu Á - Thái Bình Dương.
Kết luận
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học đã giải quyết một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ đổi mới. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích văn bản với điều tra xã hội học trên mẫu 305 cán bộ, tác giả đã làm rõ thực trạng tỷ lệ cán bộ nữ còn thấp (23,3%) và chỉ ra nguyên nhân cốt lõi từ định kiến giới truyền thống. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và các kiến nghị nhằm tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ phụ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị vùng ĐBSH.