Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Trong thời kỳ đổi mới, những công trình nghiên cứu liên quan đến phụ nữ, tình hình lãnh đạo, quản lý của phụ nữ ở Việt Nam rất đa dạng, phong phú, luận án phân loại thành các nhóm sau đây: 1. Nghiên cứu về phụ nữ, giới và phát triển, bình đẳng giới Tác giả Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng trong công trình Phụ nữ - giới và phát triển [1] đã phân tích mối quan hệ giữa bình đẳng giới và phát triển xã hội.
Trên cơ sở phân tích vị trí, vai trò của phụ nữ trong đổi mới kinh tế - xã hội gắn với vấn đề việc làm, thu nhập, sức khỏe, học vấn. Các tác giả đã khẳng định chính sách xã hội đối với phụ nữ có ảnh hưởng khá sâu sắc đến bình đẳng giới và phát triển xã hội. Trong công trình Nho giáo và phát triển ở Việt Nam [62] Giáo sư Vũ Khiêu đã phân tích sự ra đời và phát triển của Nho giáo. Trong đó, vấn đề Nho giáo với gia đình ngày nay được nghiên cứu khá toàn diện.
Tuy tác giả chưa đề cập cụ thể đến tác động của Nho giáo đối với phụ nữ khi tham gia lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam nhưng cuốn sách đã khẳng định rằng, cuộc cách mạng ở Việt Nam phải gắn liền với cuộc cách mạng trong gia đình, gắn liền với việc giải phóng mọi thành viên trong gia đình, nhất là người phụ nữ khỏi lễ giáo khắc nghiệt và sự độc đoán của chế độ gia trưởng. Tác giả Lê Thi trong công trình Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam [117] đã làm rõ sự vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước cũng như quan điểm tiếp cận giới vào việc xem xét các vấn đề có liên quan đến bình đẳng giới. Từ đó đã nêu lên những vấn đề đáng quan tâm và đề xuất ý kiến về một số chính sách xã hội cần thiết nhằm thực hiện bình đẳng giới trong tình hình mới. 7 Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới, Đưa vấn đề giới vào phát triển, thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói [89].
Công trình đã đi sâu nghiên cứu một số nội dung cơ bản như: bất bình đẳng giới trước thế kỷ XXI; bất bình đẳng giới cản bước tiến trình phát triển; chiến lược ba phần để nâng cao sự bình đẳng giới. Trong đó, nhấn mạnh vấn đề thay đổi thể chế nhằm tạo ra sự bình đẳng giới trong các quyền cơ bản. Có thể xem đây là điểm nổi bật để đảm bảo sự bình đẳng giới lớn hơn trong tiếng nói và sự tham gia hoạt động chính trị. Phạm Minh Hạc (chủ biên), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [46].
Tác giả chỉ ra 5 đặc điểm trí tuệ quan trọng nhất mà người Việt Nam trong đó có phụ nữ, cần phải có để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: năng lực tư duy sáng tạo; năng lực tiếp thu nhanh và vận dụng linh hoạt; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực quản lý; kiến thức rộng rãi và sâu sắc trong nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở tổng hợp và khái quát các kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất mô hình nhân cách con người Việt Nam thế kỷ XXI - một nhân cách được phát triển toàn diện. Trong đó, nhu cầu và động cơ, hứng thú sở thích trí tuệ và tài năng, nhân sinh quan và quan niệm giá trị, lý tưởng, niềm tin, tính cách và khí chất của họ đều phát triển theo hướng lành mạnh. Đó là một mô hình gắn bó chặt chẽ giữa hai mặt Đức và Tài.
Trần Hàn Giang, Về một số lý thuyết nữ quyền [42]. Tác giả đã nghiên cứu nội dung chính của một số lý thuyết nữ quyền phổ biến có lịch sử tồn tại lâu dài và có thể áp dụng để lý giải các vấn đề phụ nữ, vấn đề giới ở Việt Nam. Tiêu biểu là lý thuyết nữ quyền tự do (Liberal Feminism) xuất hiện vào thế kỷ XVIII với nội dung tranh luận chủ yếu về vấn đề bình đẳng nam nữ trong giáo dục. Vào thế kỷ XIX, lý thuyết nữ quyền tự do có nội dung tranh luận chủ yếu là sự bình đẳng về quyền công dân và cơ hội kinh tế giữa phụ nữ và nam giới.
Trong thế kỷ XX, tranh luận trung tâm của thuyết nữ quyền tự do là phụ nữ và nam giới phải được đối xử bình đẳng như nhau. Nhiều lý luận gia nữ cho rằng, các vấn đề xã 8 hội nảy sinh có nguyên nhân đầu tiên là sự coi thường và hạn chế sự tự do của cá nhân, sự phụ thuộc của phụ nữ có nguồn gốc trong tập quán và hạn chế của luật pháp. Theo quan điểm của họ, nam nữ bình đẳng, có thể hợp tác và hòa nhập, chia sẻ trách nhiệm trong gia đình và ngoài xã hội với nhau chứ không phải tự do, bình đẳng, giành quyền cho phụ nữ bằng cách tước đoạt quyền và lợi ích của phái nam. Đỗ Thị Thạch, Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [110].
Tác giả đã làm rõ quan niệm về trí thức, trí thức nữ; những cơ sở khẳng định phẩm chất trí tuệ cũng như những yếu tố tác động đến sự phát triển trí tuệ của phụ nữ. Trên cơ sở đó, tác giả đã đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, những đóng góp của họ đối với sự phát triển của gia đình và đất nước, trong đó có đóng góp vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý các cấp; đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công trình đã nghiên cứu vấn đề trí thức nữ dưới một góc nhìn mới, góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớn của người phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội, nhất là lĩnh vực khoa học và lĩnh vực lãnh đạo, quản lý nhằm thực hiện bình đẳng giới ở nước ta hiện nay. Cùng chủ đề trên, tác giả Lê Thị Quý trong công trình Phụ nữ trong đổi mới: Thành tựu và thách thức [102] đã đưa ra nhận định: Việt Nam là một nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, về cơ bản, nhà nước ta đã quan tâm và tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển.
Giải phóng phụ nữ không thể chỉ hiểu đơn giản là vấn đề chính sách mà còn ở cuộc sống thực tiễn. Theo tác giả, nhiều nghiên cứu gần đây đã luận giải tỷ lệ chênh lệch giữa nam và nữ trong bộ máy lãnh đạo các cấp, đồng thời bước đầu chỉ ra quan niệm, định kiến giới của một số cán bộ chính quyền và người dân đối với việc phụ nữ tham gia lãnh đạo. Sự hạn chế của phụ nữ trong giáo dục - đào tạo, việc bố trí sử dụng cán bộ nữ và việc giữ gìn, phát triển tiềm năng của phụ nữ, tác động của phân công lao động bất bình đẳng hiện nay đến việc nâng cao năng lực và trao quyền cho phụ 9 nữ được tác giả đánh giá là có nguyên nhân liên quan đến sự phân công lao động. Do vậy, nghiên cứu này cung cấp cho đề tài một số cơ sở của việc phụ nữ tham gia vào lĩnh vực lãnh đạo, quản lý.
Lê Ngọc Văn, Nghiên cứu gia đình - lý thuyết nữ quyền - quan điểm giới [143]. Tác giả của cuốn sách đã nghiên cứu, bước đầu giới thiệu lịch sử hình thành tư tưởng nữ quyền, một số quan điểm cơ bản, các trường phái lý thuyết, những cống hiến và những hạn chế của lý thuyết nữ quyền. Qua đó, tác giả chỉ ra rằng, nghiên cứu vấn đề này chính là cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách, chiến lược phát triển gia đình và bình đẳng giới. Phan Thanh Khôi - Đỗ Thị Thạch (đồng chủ biên), Những vấn đề giới - từ lịch sử đến hiện đại [65].
Đây là công trình của tập thể các nhà khoa học của Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Các tác giả đã nghiên cứu các vấn đề về giới thông qua việc tiếp cận những tác phẩm kinh điển của C.Lênin, Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Công trình khoa học nêu trên đã mang lại những gợi ý cho tác giả luận án khi nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân của bất bình đẳng giới ở Việt Nam. Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh (đồng chủ biên), Bình đẳng giới ở Việt Nam [2].
Với việc điều tra cơ bản về bình đẳng giới, các tác giả xác định thực trạng bình đẳng giới về cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội của phụ nữ, của nam giới; tương quan giữa hai giới trên lĩnh vực lao động - việc làm, giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe và địa vị trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Công trình nghiên cứu này giúp cho tác giả luận án thấy được vai trò của phụ nữ trong giải quyết các vấn đề của xã hội nói chung và lãnh đạo, quản lý nói riêng. Trên phương diện chính trị - xã hội, các tác giả Trịnh Quốc Tuấn và Đỗ Thị Thạch trong công trình Khoa học giới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn [129] đã cung cấp một bức tranh về lịch sử phát triển của khoa học giới; đồng thời nghiên cứu vấn đề giới dựa trên cách tiếp cận các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội. Vấn đề giới trong lĩnh vực lãnh đạo, quản lý được các tác giả 10 phân tích với các nội dung cụ thể như: Mối liên hệ giữa bình đẳng giới với công tác lãnh đạo, quản lý; thực trạng tham gia lãnh đạo, quản lý của nam giới và nữ giới - thành tựu, hạn chế và nguyên nhân và một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý.
Nghiên cứu này được tác giả kế thừa trong quá trình thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.