CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ THAM GIA VÀO CÁC CƠ QUAN DÂN CỬ 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền của phụ nữ tham gia vào các cơ quan dân cử 1. Khái niệm về quyền của phụ nữ Khái niệm quyền phụ nữ bắt nguồn từ khái niệm quyền con người. Khái niệm quyền con người có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại, bao gồm các quyền tự nhiên, bẩm sinh vốn có của con người như quyền được sống, quyền được ăn mặc, đi lại, tự do.
Quyền con người là một phạm trù đa diện, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý, tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có những định nghĩa khác nhau. Quyền con người là kết tinh tiến bộ của khoa học xã hội, là một trong những phát minh của nhân loại. Nhân quyền (hay quyền con người, tiếng Anh: human rights) là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai cũng như bất cứ chủ thể nào. NGUYỄN ĐĂNG DUNG – VŨ CÔNG GIAO - LÃ KHÁNH TÙNG Một khái niệm rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo thuyết quyền tự nhiên thì quyền con người là những quyền cơ bản, không thể bị tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người 12.
Trong giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế13. Từ vấn đề quyền con người theo những nhu cầu tự nhiên và thực tế thực quyền của các chủ thể, cho thấy phụ nữ luôn bị xâm phạm về quyền một cách trực tiếp hay gián tiếp. Vì vậy, cần có những nghiên cứu riêng về lý luận và thực tiễn về quyền của phụ nữ (hay nữ quyền) để phụ nữ được bảo vệ, được hưởng những quyền của mình một cách thực chất. Về góc độ lý luận, trải qua lịch sử đấu tranh bền bĩ, không ngừng học tập, nghiên cứu hàng trăm năm của các nhà nữ quyền và phụ nữ trên khắp thế giới, nhiều thuyết nữ quyền ra đời và không ngừng hoàn thiện bao gồm thuyết nữ quyền kinh điển và hiện đại.
Simone de Beauvoir - một trong những nhà nữ quyền tiêu biểu mọi thời đại đã từng nói rằng “nữ quyền không chỉ là một phong trào mà là một khoa học”. Đúng vậy, các thuyết nữ quyền kinh điển đã tạo ra 12 OHCHR (2006), “Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New Yord and Geneva”, tr. 13 Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên) (2011), Giáo trình “Lý luận và pháp luật về quyền con người”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
9 cơ sở lý luận vững chắc cho các lý thuyết phát triển phụ nữ, các hoạt động nữ quyền và bình đẳng trên toàn thế giới14. Các thuyết này tiếp cận về quyền của phụ nữ trên nhiều góc độ khác nhau, đều lấy phụ nữ làm trung tâm, đấu tranh vì quyền phụ nữ, quyền con người, quyền bình đẳng giới; phân tích, tìm cách giải quyết nguyên nhân và hậu quả của tình trạng bị áp bức của phụ nữ, đưa ra các chiến lược giải phóng phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới. Các thuyết nữ quyền đều tìm cách trả lời cho các câu hỏi về sự hiện diện của phụ nữ so với nam giới, giải thích lý do của bất bình đẳng giới, tìm giải pháp cụ thể để giải quyến những vấn đề bất bình đẳng. Có thể nói, thuyết nữ quyền là một hệ thống những quan điểm về tình trạng của phụ nữ, giải thích nguyên nhân cũng như hậu quả của tình trạng áp bức phụ nữ và đưa ra chiến lược giải phóng phụ nữ.
Đối với thuyết nữ quyền kinh điển, theo nghiên cứu của tác giả, gồm thuyết nữ quyền tự do, thuyết nữ quyền hiện sinh, thuyết nữ quyền cấp tiến, thuyết nữ quyền Mác - xít và thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa. Thuyết nữ quyền tự do ra đời sớm nhất trong các thuyết nữ quyền kinh điển (từ thế kỷ 18), thuyết này cho rằng, sự bị trị của phụ nữ bắt nguồn từ những ràng buộc về tập quán và tâm lý, ngăn cản sự thành công của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Tiêu biểu cho thuyết này có hai nhà nữ quyền tự do người Anh là Mary Wollstoncraft (1759-1797) và Jonh Stuart Mill (1806-1873). Thuyết nữ quyền hiện sinh xuất hiện đầu thế kỷ 20 được phát triển bởi nhà văn, nhà triết học nổi tiếng người Pháp Simon de Beauvoir (1908-1986) có liên quan đến thuyết nữ quyền tự do.
Phụ nữ có khả năng làm được nhưng do tâm lý, tư tưởng tự ti mà họ không chịu khó phấn đấu. Để giải phóng phụ nữ và địa vị bình đẳng giới là mục đích đấu tranh lâu dài, giải pháp về chính trị không phải là duy nhất mà phụ nữ phải tự mình lao động để chứng minh khả năng và thu nhập, vì chỉ có lao động mới đem lại sự tự do cho phụ nữ. Thuyết nữ quyền cấp tiến còn gọi là thuyết nữ quyền triệt để, đạt đỉnh cao trong giai đoạn cuối những năm 1960, đầu những năm 1970. Thuyết nữ quyền cấp tiến không thừa nhận đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt của phụ nữ và nam giới.
Nữ quyền cấp tiến nhấn mạnh sự cần thiết phải xóa bỏ chế độ nam quyền, đấu tranh triệt để về bình đẳng giới, nhấn mạnh tầm quan trọng của giải phóng phụ nữ. Thuyết nữ quyền Mác - xít được phát triển mạnh vào những năm 1960 - 1970 dựa trên quan điểm của C.Ănghen cho rằng sự áp bức phụ nữ bắt nguồn từ chế độ tư hữu, chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân áp bức phụ nữ. Phụ nữ không có 14 Dương Kim Anh (2017), “Một số lý thuyết phát triển phụ nữ trên thế giới: Từ kinh điển tới hiện tại”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Những vấn đề lý luận về công tác cán bộ nữ ở Việt Nam trong tình hình mới”, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, tr. 10 tài sản nên phụ thuộc nam giới về nhiều mặt.
Để giải phóng phụ nữ, phụ nữ cần chủ động tham gia để có thu nhập, tích lũy tài sản, giảm thiểu sự phụ thuộc. Bên cạnh đó, cũng như thuyết nữ quyền tự do, thuyết nữ quyền Mác - xít nhấn mạnh rằng nam giới cần hỗ trợ phụ nữ, cần xã hội hóa việc nhà. Thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa xuất hiện vào những năm 1970, kết hợp với quan điểm tiến bộ của thuyết nữ quyền cấp tiến và chủ nghĩa Mác, thuyết này giải thích nguồn gốc về sự áp bức phụ nữ trong các hệ thống của chủ nghĩa tư bản và chế độ gia trưởng. Nữ quyền xã hội chủ nghĩa khẳng định rằng giới là một cấu trúc xã hội, là sản phẩm của xã hội, do xã hội tạo ra, vì thế không có bất cứ một lý do gì để phân biệt đối xử về giới.
Thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa giúp xóa bỏ định kiến cho rằng chỉ có nam giới mới là chủ thể, phụ nữ là phụ thuộc, đưa ra cách nhìn mới về sự tham gia, hưởng lợi công bằng giữa nam và nữ. Trong các thuyết nữ quyền kinh điển nêu trên, theo tác giả, thuyết nữ quyền cấp tiến là thuyết nữ quyền triệt để nhất. Bởi lẽ, thuyết này không thừa nhận đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt của phụ nữ và nam giới, coi chế độ gia trưởng là nguyên nhân chính của sự áp bức phụ nữ. Nữ quyền cấp tiến có quan điểm mạnh mẽ và đấu tranh triệt để về bình đẳng giới.
Đối với thuyết nữ quyền hiện đại, thuyết này gắn với các hoạt động, giải pháp thực tế, với các làn sóng nữ quyền, các hoạt động, chiến lược cụ thể. Các thuyết này xuất phát từ yêu cầu thực tế của xã hội, của đời sống. Đây là điểm khác biệt so với thuyết nữ quyền kinh điển. Có thể kể một số thuyết nữ quyền hiện đại như: Thúc đẩy sự tham gia của phu nữ, Trao quyền cho phụ nữ, Phụ nữ lãnh đạo và tham chính…Ở góc độ yêu cầu của luận văn, tác giả quan tâm đến thuyết Phụ nữ lãnh đạo và tham chính, vì đây là một trong những vấn đề giới nổi bật trong thế kỷ 21, được nhiều quốc gia quan tâm.
Nền tảng của vấn đề phụ nữ tham chính là thúc đẩy sự tham gia, vai trò của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị. Khi phụ nữ thành công, tất cả mọi người được hưởng lợi từ họ. Phụ nữ tham chính sẽ trực tiếp quyết định những vấn đề thuộc “sinh mệnh” của quốc gia, dân tộc. Phụ nữ là một trong những giới chiếm gần hơn phân nửa nhân loại.
Nói đến quyền con người cũng là nói đến quyền của phụ nữ. Vì vậy, quyền của phụ nữ không nằm ngoài quyền con người. Quyền phụ nữ là quyền của giới nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, gia đình… Quyền phụ nữ là các quyền bình đẳng giới được khẳng định và dành cho phụ nữ, trẻ em gái. Tại một số nơi, những quyền này được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởi luật pháp, phong tục, tập quán địa phương trong khi một số nơi khác chúng bị phớt lờ hay hạn chế.
11 Xét về góc độ pháp lý, quyền của phụ nữ được ghi nhận trong các văn bản luật quốc tế về nhân quyền nên quyền của phụ nữ cũng chính là quyền con người. Tuy nhiên, với những đặc trưng về thể chất và giới tính nên phụ nữ được xem là một trong những nhóm người dễ bị tổn thương nhất, cần phải được quan tâm, bảo vệ. Quyền phụ nữ bao gồm các quyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bầu cử, nắm giữ chức vụ, công việc, nhận mức lương bình đẳng, nắm giữ tài sản riêng, tiếp nhận giáo dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, các quyền trong hôn nhân và làm phụ huynh15. Như vậy, theo tác giả “Quyền của phụ nữ là quyền của nữ giới, được pháp luật quốc tế và luật quốc gia thừa nhận và bắt buộc thực hiện, không phân biệt thành phần dân tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo và nguồn gốc xuất thân.
Quyền phụ nữ được pháp luật quy định trong Hiến pháp và những văn bản pháp luật liên quan, bình đẳng với quyền của nam giới trong tất cả các lĩnh vực của xã hội”.