Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Ở Đô Thị Phú Yên Trong Kháng Chiến Chống Mỹ (1954 – 1975)

Khám phá phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954-1975. Tìm hiểu lịch sử và ý nghĩa.

Trường đại học

Trường Đại Học Quy Nhơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

138
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Phú Yên 1954 1975

Phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên giai đoạn 1954-1975 là một phần quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đại hội IV của Đảng đánh giá cao thắng lợi của cách mạng miền Nam, nhấn mạnh vai trò của chiến lược tiến công và phương pháp cách mạng tổng hợp. Đấu tranh chính trị diễn ra liên tục và rộng khắp, trở thành nét độc đáo trong nghệ thuật đấu tranh cách mạng ở Việt Nam. Việc nghiên cứu phong trào này giúp hiểu rõ hơn về cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện. Phú Yên, với vị trí chiến lược, đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh, đặc biệt tại thị xã Tuy Hòa. Tuy nhiên, phong trào này chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc hơn về sự năng động, sáng tạo của các cấp bộ Đảng và những đặc điểm riêng biệt của phong trào tại đô thị Phú Yên. Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ lịch sử địa phương và giáo dục thế hệ trẻ.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Phú Yên Trong Kháng Chiến Chống Mỹ

Phú Yên, một tỉnh ven biển thuộc Duyên hải Nam Trung Bộ, đóng vai trò quan trọng trong cả kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong kháng chiến chống Pháp, Phú Yên là vùng tự do Liên khu V, hậu phương chiến lược của Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Bước sang kháng chiến chống Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Phú Yên tích cực tham gia đấu tranh chính trị, góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Tài liệu gốc nhấn mạnh vai trò của Phú Yên trong việc 'góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp từ 1945 - 1954'.

1.2. Ý Nghĩa Khoa Học và Thực Tiễn Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu về phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Về mặt khoa học, nó góp phần làm sáng tỏ sự năng động, sáng tạo của các cấp bộ Đảng trong việc vận dụng đường lối kháng chiến. Về mặt thực tiễn, nó cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Phú Yên. Đồng thời, nó góp phần nâng cao niềm tự hào về truyền thống quê hương và giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Lịch Sử Đấu Tranh Chính Trị Phú Yên

Nghiên cứu về đấu tranh chính trị trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ không phải là một lĩnh vực hoàn toàn mới. Nhiều công trình, tác phẩm, sách báo và luận văn đã đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, một nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu về phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên vẫn còn thiếu. Các công trình hiện có thường chỉ đề cập đến vấn đề này một cách khái quát trong bối cảnh rộng lớn hơn của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Điều này tạo ra một thách thức cho việc thu thập và phân tích thông tin chi tiết về các sự kiện, nhân vật và yếu tố cụ thể liên quan đến phong trào đấu tranh ở Phú Yên. Việc thiếu một nguồn tài liệu tập trung đòi hỏi nhà nghiên cứu phải tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các tài liệu lưu trữ, báo chí thời kỳ đó và các cuộc phỏng vấn với những người tham gia phong trào.

2.1. Tổng Quan Các Nghiên Cứu Về Kháng Chiến Chống Mỹ

Nhiều tác phẩm đã đề cập đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bao gồm "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam", "Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ - Thắng lợi và bài học", và "Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)". Các tác phẩm này cung cấp cái nhìn tổng quan về công tác lãnh đạo của Đảng, vai trò của các phong trào đấu tranh chính trị, và sự phối hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, chúng thường không đi sâu vào chi tiết về phong trào đấu tranh ở từng địa phương cụ thể như Phú Yên.

2.2. Thiếu Hụt Nghiên Cứu Chuyên Sâu Về Phú Yên

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về kháng chiến chống Mỹ, vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên. Các công trình hiện có thường chỉ đề cập đến vấn đề này một cách vắn tắt trong các công trình lịch sử Đảng bộ tỉnh và lịch sử Đảng bộ các thành phố, hoặc các đề tài liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Điều này tạo ra một khoảng trống trong kiến thức về lịch sử địa phương và đòi hỏi một nghiên cứu toàn diện hơn.

III. Cách Tiếp Cận Nghiên Cứu Phong Trào Đấu Tranh Phú Yên 1954 1975

Để nghiên cứu một cách hiệu quả về phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên trong giai đoạn 1954-1975, cần áp dụng một phương pháp tiếp cận toàn diện và đa chiều. Điều này bao gồm việc sử dụng các nguồn tài liệu đa dạng, từ các tài liệu chính thức của Đảng và Nhà nước đến các tài liệu lưu trữ địa phương, báo chí thời kỳ đó và các cuộc phỏng vấn với những người tham gia phong trào. Ngoài ra, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử và khoa học xã hội để phân tích và giải thích các sự kiện, nhân vật và yếu tố liên quan đến phong trào đấu tranh. Điều này bao gồm việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp nghiên cứu trường hợp.

3.1. Sử Dụng Đa Dạng Nguồn Tài Liệu Lịch Sử

Nghiên cứu cần dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau, bao gồm tài liệu thành văn (công trình nghiên cứu, văn kiện Đảng, tác phẩm lãnh đạo), tài liệu lưu trữ tại tỉnh Phú Yên, tài liệu trên internet, tạp chí chuyên ngành, và tranh ảnh lưu trữ tại Bảo tàng tỉnh Phú Yên. Việc sử dụng đa dạng nguồn tài liệu giúp đảm bảo tính chính xác và toàn diện của nghiên cứu.

3.2. Áp Dụng Phương Pháp Nghiên Cứu Lịch Sử và Liên Ngành

Cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp với các phương pháp liên ngành như phân tích, so sánh, tổng hợp, và nghiên cứu tài liệu. Cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu lịch sử và chiến tranh cách mạng. Sự kết hợp này giúp hiểu sâu sắc hơn về bối cảnh và diễn biến của phong trào đấu tranh.

IV. Diễn Biến Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Ở Phú Yên 1954 1960

Giai đoạn 1954-1960 chứng kiến sự hình thành và phát triển của phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên trong bối cảnh chính quyền Việt Nam Cộng hòa thi hành các chính sách đàn áp, khủng bố. Phong trào đấu tranh diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, từ các cuộc biểu tình, mít tinh đến các hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng. Sự lãnh đạo của Đảng bộ Phú Yên đóng vai trò then chốt trong việc định hướng và thúc đẩy phong trào. Tuy nhiên, phong trào cũng gặp phải nhiều khó khăn, thách thức do sự đàn áp của chính quyền và sự hạn chế về lực lượng.

4.1. Chính Sách Đàn Áp Của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hòa

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa thi hành các chính sách đàn áp, khủng bố nhằm dập tắt phong trào đấu tranh của nhân dân. Các hoạt động đàn áp bao gồm bắt bớ, giam cầm, tra tấn và giết hại những người tham gia phong trào. Điều này gây ra nhiều khó khăn và thách thức cho phong trào đấu tranh, nhưng cũng không làm suy giảm tinh thần đấu tranh của nhân dân.

4.2. Các Hình Thức Đấu Tranh Chính Trị Tiêu Biểu

Phong trào đấu tranh diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, từ các cuộc biểu tình, mít tinh đến các hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng. Các cuộc biểu tình thường tập trung vào các vấn đề như đòi tự do dân chủ, phản đối chính sách đàn áp, và đòi cải thiện đời sống. Các hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng nhằm nâng cao nhận thức chính trị và thu hút sự tham gia của đông đảo nhân dân.

V. Vai Trò Phụ Nữ Trong Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Phú Yên

Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên. Họ tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau, từ việc tuyên truyền, vận động quần chúng đến việc tổ chức các cuộc biểu tình, mít tinh. Nhiều phụ nữ đã trở thành những nhà lãnh đạo, những chiến sĩ cách mạng kiên trung. Sự tham gia của phụ nữ không chỉ làm tăng thêm sức mạnh cho phong trào mà còn thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh của người dân Phú Yên.

5.1. Sự Tham Gia Tích Cực Của Phụ Nữ Trong Các Hoạt Động

Phụ nữ tham gia tích cực vào nhiều hoạt động khác nhau của phong trào đấu tranh, từ việc tuyên truyền, vận động quần chúng đến việc tổ chức các cuộc biểu tình, mít tinh. Họ cũng tham gia vào các hoạt động bí mật, như vận chuyển tài liệu, liên lạc và cung cấp thông tin cho lực lượng cách mạng.

5.2. Những Nữ Lãnh Đạo và Chiến Sĩ Cách Mạng Tiêu Biểu

Nhiều phụ nữ đã trở thành những nhà lãnh đạo, những chiến sĩ cách mạng kiên trung trong phong trào đấu tranh. Họ thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh và khả năng lãnh đạo xuất sắc. Những tấm gương này truyền cảm hứng cho nhiều người khác tham gia vào phong trào.

VI. Ý Nghĩa và Bài Học Từ Phong Trào Đấu Tranh Chính Trị Phú Yên

Phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên giai đoạn 1954-1975 có ý nghĩa lịch sử to lớn. Nó góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Phong trào cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh quần chúng và kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Những bài học này vẫn còn giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

6.1. Đóng Góp Vào Thắng Lợi Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ

Phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nó làm suy yếu chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng phát triển và tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

6.2. Bài Học Kinh Nghiệm Về Xây Dựng Lực Lượng và Phát Huy Sức Mạnh Quần Chúng

Phong trào để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng, phát huy sức mạnh quần chúng và kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Những bài học này vẫn còn giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, đặc biệt trong việc phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về đô thị Phú Yên và phong trào đấu tranh chính trị 9 ở đô thị Phú Yên trước năm 1954. Chương 2: Diễn tiến phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên trong kháng chiến chống Mĩ, c u nước (1954 – 1975). Chương 3: Một số nhận xét về phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị Phú Yên (1954 – 1975). 10 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐÔ THỊ PHÚ YÊN VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở ĐÔ THỊ PHÚ YÊN TRƢỚC NĂM 1954 1.

Khái quát về đô ị Phú Yên 1. Khái quát về vùng đất Phú Yên và sự hình thành đô thị Tuy Hoà Tỉnh Phú Yên thuộc vùng duyên hải miền Nam Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hoà, phía Tây giáp tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên 5.045 km2, chiều dài nơi dài nhất 116 km, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 78 km, nơi hẹp nhất khoảng 46 km. Phú Yên là vùng đất có lịch sử phát triển khá sớm.

Kết quả nghiên c u khoa học qua các di chỉ khảo c học tại Cồn Đình, Gò Úc, Giồng Đồn thuộc nền văn hóa Sa Huỳnh tại huyện Sông Cầu cũng như những hiện vật được phát hiện nằm rải rác các địa phương trong tỉnh, cho thấy Phú Yên là vùng đất con người đã tụ cư có niên đại cách ngày nay sớm nhất là từ 4.000 năm và muộn nhất là 2. Tr 127] Thời tiền sơ sử, sự hiểu biết về Phú Yên còn rất hạn chế. Sách Đại Nam thống chí, quyển X viết tỉnh Phú Yên “Xưa là đất Việt Thường, đời nhà Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán là đất Lâm Ấp, đời Tuỳ là quận Lâm Ấp, đời Đường đổi làm châu Lâm, sau bị Chiêm Thành chiếm cứ, tức là đất Bà Đài, Đà Lãng” [66. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận đèo Cả.

Tuy nhiên sau đó Lê Thánh Tông chỉ sáp nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh th Đại Việt. Vùng đất Phú Yên vẫn thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru (Êa Ryu). 11 Quá trình hình thành cộng đồng dân cư Phú Yên diễn ra mạnh mẽ nhất là vào những năm giữa thế kỷ XVI. Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng là trấn thủ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam của Đại Việt.

Năm 1578 , Nguyễn Hoàng đã “ủy nhiệm Ông Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan, chiêu tập lưu dân đến Cù Mông, Bà Đài (sau này là Xuân Đài) khẩn hoang ở Đà Diễn” và bắt đầu từ đây vùng đất này dần được khai phá mở mang, rồi chính trên cơ sở đó, năm 1611 Chúa Nguyễn mới quyết định thiết lập sự quản lý hành chính chặt chẽ, “lấy đất ấy làm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, đặt phủ Phú Yên " [68. Tr 130 – 131] Năm 1578, ông sai tướng dưới quyền Lương Văn Chánh tấn công vào thành Hồ, là thủ phủ của Chăm Pa tại vùng Ayaru "Êa Ryu" (Phú Yên), thành Hồ bị thất thủ, từ đó vùng đất Ayaru là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm. Theo chính sách của chúa Nguyễn ông đã chiêu tập và đưa lưu dân từ các vùng Thanh - Nghệ, Thuận - Quảng vào đây để khẩn hoang lập ấp, tạo dựng cơ nghiệp. Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai viên tướng dưới quyền là Văn Phong tấn công vào Aryaru, Chăm Pa thất bại.

Nguyễn Hoàng sáp nhập Ayaru vào lãnh th Đàng Trong với tên gọi Phú Yên và giao cho Văn Phong cai quản phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân (từ đèo Cù Mông đến phía bắc sông Đà Rằng) và Tuy Hòa (từ phía nam sông Đà Rằng đến núi Đá Bia). Tên gọi “Phú Yên” do chúa Nguyền Hoàng đặt với ước nguyện về một miền đất trù phú, thanh bình trong tương lai. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên (đơn vị hành chính cấp tỉnh). Năm 1899 (năm Thành Thái 11), huyện Tuy Hòa được nâng lên thành phủ Tuy Hòa gồm t ng Hòa Bình (phía bắc sông Đà Rằng, được tách ra từ huyện Đồng Xuân) và các t ng phía nam sông Đà Rằng là Hòa Đa, Hòa Mỹ, Hòa Lạc.

Đến trước năm 1945, phủ Tuy Hoà có 7 t ng: 2 t ng ở phía Bắc sông Đà Rằng là t ng Hoà Bình và t ng 12 Hoà Tường; 5 t ng ở phía Nam sông Đà Rằng là Hoà Đa, Hoà Mĩ, Hoà Lạc, Hoà Đồng và Hoà Lộc. Cơ quan hành chính của phủ Tuy Hoà (phủ lị) đầu tiên đóng tại Phú Vinh từ chợ Phước Mĩ tới ga Gò Mầm, gọi là vườn huyện. Năm 1841, phủ lị Tuy Hoà dời xuống Đông Phước (xã Hoà An ngày nay). Năm 1915, phủ lị dời về làng Năng Tịnh (phường 3 ngày nay).

Sau đó phủ lị được mở rộng ra các làng Bình An, An Tịnh, Bình Mỹ, Nhạn Tháp. Khoảng năm 1930, phủ lị Tuy Hoà có nha bang tá, đồn lính khố xanh được tăng cường thêm binh lính, các làng được đ i thành phường (từ phường 1 đến phường 7 vẫn tiếp tục thuộc t ng Hoà Bình). Từ năm 1945 – 1954, sau khi giành được chính quyền, phủ lị Tuy Hoà (gồm 7 phưởng) được hình thành như một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Phú Yên. Cuối năm 1945, các cơ quan của Đảng, Việt Minh, chính quyền, quân sự, công an của tỉnh từ tỉnh lị Sông Cầu dời về thị xã Tuy Hoà.

Thị xã Tuy Hoà trở thành tỉnh lị của Phú Yên từ đó. Năm 1946, có sự cải t lớn về hành chính, bỏ cấp T ng, bỏ tên Phủ đặt thành huyện, đồng thời hợp nhất các làng thành xã lớn trực thuộc huyện. Cuối năm 1946, để chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến, toàn tỉnh chia làm 6 chiến khu. Chiến khu I gồm các xã phía Nam sông Đà Rằng; Chiến khu II gồm các xã phía Bắc sông Đà Rằng.

Phần lớn nhân dân thị xã Tuy Hoà và các cơ quan dân chính của tỉnh phải sơ tán về nông thôn, thị xã Tuy Hoà được đặt tên là xã Hoà An, trực thuộc chiến khu II. Cuối năm 1947, bỏ cấp dưới chiến khu, lập lại 4 huyện. Chiến khu I và II hợp nhất thành huyện Tuy Hoà. Từ năm 1955 đến tháng 4 năm 1975, Tuy Hoà thuộc quyền cai quản của Chính quyền Sài Gòn.

Từ năm 1959, huyện Tuy Hoà chia làm 2 quận: quận Tuy Hoà và quận Hiếu Xương. Về phía chính quyền cách mạng vẫn duy trì 3 đơn vị: huyện Tuy Hoà 1, 13 huyện Tuy Hòa 2 (tương ng với huyện Phú Hòa và TP Tuy Hòa ngày nay) và thị xã Tuy Hoà. Tháng 3/1965, Tỉnh ủy thành lập C6 - đơn vị tiền thân của Thị ủy Tuy Hòa. Ngày 6/8/1965, Tỉnh ủy thành lập Thị ủy Tuy Hòa chỉ đạo 6 phường nội thị và các xã Bình Phú A, Bình Phú B, Bình Phú C (nay là phường 9 và xã Bình Kiến).

Tháng 5/1975, hợp nhất thị xã Tuy Hoà và huyện Tuy Hoà 2 làm một đơn vị hành chính gọi là huyện Tuy Hoà 2. Năm 1977, thực hiện chủ trương xây dựng huyện lớn, huyện Tuy Hoà 1 và huyện Tuy Hoà 2 thống nhất thành một huyện là Tuy Hoà. Đến năm 1979, Huyện Tuy Hoà chia thành 2 đơn vị hành chính. Huyện Tuy Hoà và thị xã Tuy Hoà.

Theo địa giới hành chính ngày nay, thị xã Tuy Hoà có 6 phường và 10 xã nằm về phía Bắc sông Đà Rằng Như vậy, theo dòng chảy của lịch sử, dựa trên sự phân chia hành chính địa lí nêu trên, Tuy Hoà chính là tỉnh lỵ của tỉnh Phú Yên, là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội của tỉnh. Lịch sử hình thành thị xã Tuy Hoà trải qua quá trình lâu dài gần 4 thế kỉ, gắn liền với những biến cố lịch sử đầy biến động của đất nước. Những biến động to lớn của đất nước đã chi phối trực tiếp tới con người và mảnh đất thị xã Tuy Hoà. Một mặt gây ra bao đau thương tang tóc, đảo lộn cuộc sống.

Mặt khác, nó lại là lò rèn đúc nên ý chí kiên cường, tinh thần quật khởi, đ c tính cần cù, thông minh, sáng tạo, nghĩa tình từ khởi đầu cho đến ngày nay. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của đô thị Tuy Hoà Trong thời kì chống Mĩ, c u nước (1954 -1975), Tuy Hoà là đô thị duy nhất của tỉnh Phú Yên. Tại đô thị Tuy Hoà diễn ra phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ, phối hợp với đấu tranh vũ trang, binh vận, cùng với quân dân miền Nam lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mĩ - chính quyền Sài Gòn, đi đến thắng lợi hoàn toàn. Đề tài tập trung làm rõ thêm vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của đô thị Tuy Hoà để hiểu rõ vì sao địch 14 chọn đây là căn c quân sự, vì sao phong trào đấu tranh chính trị của ta lại phát triển mạnh như vậy.

Về điều kiện địa lý tự nhiên : Đô thị Tuy Hòa nằm ở phía nam tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp sông Đà Rằng, phía Bắc giáp huyện Tuy An, phía Tây giáp huyện Sơn Hòa, phía Đông giáp biển, diện tích tự nhiên của thị xã là 338,9km, chiếm 7,3 % diện tích toàn tỉnh. Về địa hình, đô thị Tuy Hoà gồm rừng núi chiếm 2/3 diện tích, đồng bằng chiếm 1/3 diện tích. Đồng bằng phân bố dọc theo hạ lưu sông Đà Rằng; địa hình bãi và bờ biển trải dọc phía đông. Đất đai Tuy Hòa phong phú, đa dạng gồm các loại: nhóm đất đỏ, vàng, nhóm đất đen, đất phù sa, đất cát ven biển.

Phía tây và phía nam của đô thị Tuy Hòa do nhánh núi tách ra từ dãy núi Trường Sơn chạy dài ra biển, như một bờ tường thành bao bọc, che chắn, tạo nên bởi những núi non trùng điệp, có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện tự nhiên trong toàn thị xã. Một số núi tiêu biểu như: núi Nhạn Tháp, núi Chóp Chài. Trải qua 2 cuộc kháng chiến, Chóp Chài là căn c của ta để tấn công vào thị xã Tuy Hoà; bọn địch cũng xây dựng trên núi Chóp Chài một khu quân sự kiên cố. Được thiên nhiên nhiệt đới ưu đãi, núi rừng Tuy Hòa có nhiều gỗ quý; có nhiều cây dược liệu rất phong phú và thông dụng; trên rừng có nhiều chim muống, thú rừng, cây dầu rái, cây ư.

Núi rừng Tuy Hoà vừa là phòng thủ quan trọng bảo vệ đô thị, vừa có ý nghĩa kinh tế lớn lao. Đô thị Tuy Hoà có con sông lớn chảy qua là sông Đà Rằng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ