phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết. Chƣơng 2: Quy chiếu chỉ ngôi trong liên kết văn bản. Chƣơng 3: Quy chiếu chỉ định trong liên kết văn bản. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.
Khái niệm văn bản Đơn vị mà ngôn ngữ học trên thế giới gọi là text đƣợc dịch sang tiếng Việt là văn bản (Trần Ngọc Thêm, 1985) và ngôn bản (Cao Xuân Hạo, 1991). Đã có khá nhiều định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nƣớc về thuật ngữ này và hiện nay liên quan đến nó còn có thuật ngữ discourse đƣợc dịch là diễn ngôn (Đỗ Hữu Châu, 1993) và có khi cũng là ngôn bản (Hoàng Văn Vân, 2001). Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo, chúng tôi nhận thấy ở giai đoạn đầu của ngôn ngữ học văn bản, các nhà nghiên cứu thƣờng dùng thuật ngữ text để chỉ đối tƣợng nghiên cứu là các đơn vị ngôn ngữ lớn hơn câu. Khi đó, tên gọi văn bản, ngôn bản đƣợc dùng để chỉ chung những sản phẩm giao tiếp bằng lời âm và chữ viết mà có thuộc tính liên kết và mạch lạc; khi định nghĩa thì chƣa có sự đối lập với thuật ngữ diễn ngôn.
Sở dĩ nhƣ vậy là vì ở thời kỳ đầu, trọng tâm chú ý của việc nghiên cứu tập trung hơn ở các sự kiện giao tiếp bằng chữ viết, ngôn liệu cũng lấy từ các văn bản viết, do đó tên gọi văn bản đƣợc dùng một cách phổ biến. Chẳng hạn, năm 1976 Halliday & Hasan đặt văn bản ở một mặt bằng khác hẳn câu: “Một văn bản là một đơn vị ngôn ngữ trong sử dụng. Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại nhƣ một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không đƣợc xác định bằng kích cỡ của nó [ … ], nó là một cái khác với câu về chủng loại. Tốt hơn nên xem xét một văn bản nhƣ một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa.” [Dẫn theo 4, tr.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1980, nhà nghiên cứu Loseva (thuộc Liên xô cũ) cũng ghi nhận: “Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trƣng là tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của tác giả đối với điều đƣợc thông báo [ … ]. Về phƣơng diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phƣơng tiện từ vựng – ngữ pháp.” [Dẫn theo 4, tr. Tác giả này đã thừa nhận thái độ của ngƣời tạo văn bản nhƣ một phần tất yếu của văn bản; thái độ đó có phần trùng hợp với “mục đích giao tiếp” mà các nhà nghiên cứu diễn ngôn sau này thƣờng nhắc đến. Ở nƣớc ta, Trần Ngọc Thêm là ngƣời đầu tiên nghiên cứu văn bản với công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”.
Ông xác định: “… Văn bản là một hệ thống mà các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lƣới của những quan hệ và liên hệ ấy.
Định nghĩa này đã nêu đƣợc các yếu tố tạo thành văn bản là các câu – phần tử và cấu trúc của văn bản với mạng lƣới liên kết đƣợc hiểu rộng theo hai chiều quan hệ và liên hệ (hệ thống liên kết của Trần Ngọc Thêm sẽ đƣợc nói rõ hơn ở mục 1. Ở giai đoạn thứ hai và tiếp cho đến hiện nay, ngôn ngữ nói đƣợc quan tâm nhiều hơn trƣớc, tạo nên thế cân bằng với ngôn ngữ viết trong sự nghiên cứu. Ngƣời ta cố gắng phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết nên có xu hƣớng dùng văn bản để chỉ sản phẩm và phƣơng tiện giao tiếp chữ viết (lời chữ), dùng diễn ngôn để gọi tên sản phẩm và phƣơng tiện giao tiếp nói miệng (lời âm). Do vậy các định nghĩa về văn bản đƣợc đƣa ra thƣờng có sự đối lập với định nghĩa về diễn ngôn.
Trƣớc tiên có thể kể đến một vài nhà nghiên cứu 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã xác định khái niệm văn bản nhƣ một sự quy ƣớc dùng khi cần xác định đối tƣợng để làm việc mà không đi vào bản thể của đối tƣợng nghiên cứu, nhƣ: “Tôi sẽ sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp. Sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (ví dụ: một bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao dịch mua bán) hoặc ngôn ngữ viết (ví dụ: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một áp phích dán tƣờng, một bảng kê các thứ mua sắm, một tiểu thuyết). Tôi sẽ để thuật ngữ diễn ngôn lại để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh. “Chúng ta sẽ dùng từ văn bản nhƣ là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” và “việc thu băng một hành vi giao tiếp sẽ lƣu giữ lại văn bản.
Khi xác định khái niệm, các nhà nghiên cứu thƣờng đặt văn bản và diễn ngôn ở trên cùng một bình diện nhƣng có những đặc trƣng nhất định phân biệt với nhau. Chẳng hạn, năm 1989 Guy Cook định nghĩa: “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết đƣợc ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh” còn “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ đƣợc nhận biết là có nghĩa, thống nhất và có mục đích.” [Dẫn theo 22, tr. Chúng tôi có thể hiểu định nghĩa này là: Giả sử có một tài liệu ngôn ngữ (bằng chữ hoặc bằng âm), nếu chỉ xét ở bề mặt từ ngữ (với những nội dung mà chúng diễn đạt là chúng ta đã phân tích tài liệu đó nhƣ một văn bản (còn gọi là phân tích văn bản đối với nó)); còn nếu xét tài liệu đó trong quan hệ với ngữ cảnh tình huống và ý định, mục đích của ngƣời phát là chúng ta đã phân tích nó nhƣ một diễn ngôn (gọi là phân tích diễn ngôn đối với tài liệu đó). Nhƣ vậy, phân tích văn bản cũng là một bộ phận trong phân tích diễn ngôn.
Hiện nay ý tƣởng của Guy Cook đƣợc nhiều ngƣời sử dụng trong phân tích diễn ngôn. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Bách khoa thƣ ngôn ngữ và ngôn ngữ học (1994) do R. Asher chủ biên, văn bản đƣợc định nghĩa bằng ba nghĩa ứng với ba lĩnh vực nghiên cứu: “Văn bản: 1. Một quãng đƣợc viết hay đƣợc phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc, đề tài – chủ đề v.
của nó, hình thành nên một đơn vị, nhƣ một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đƣờng v. Văn học trƣớc hết đƣợc coi nhƣ một tài liệu viết, thƣờng đồng nghĩa với sách, […]. Trong phân tích diễn ngôn, đôi khi đƣợc đánh đồng với ngôn ngữ viết còn diễn ngôn thì đƣợc dành cho ngôn ngữ nói, hoặc diễn ngôn đƣợc dùng bao gồm cả văn bản.” [Dẫn theo 4, tr. Theo chúng tôi, đây là một sự định nghĩa bao quát đƣợc các cách hiểu về văn bản, không chỉ trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung mà còn cả cách hiểu văn bản trong văn học và trong bộ môn phân tích diễn ngôn vốn đang thịnh hành trong ngôn ngữ học hiện nay.
Không nói đến nghĩa 2, chúng tôi cho rằng nghĩa 1 và nghĩa 3 thể hiện hai quan niệm rộng và hẹp về khái niệm văn bản. Nghĩa 1 là quan niệm rộng về văn bản, đƣợc dùng trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung. Theo đó, văn bản bao gồm cả dạng nói và dạng viết của sản phẩm và phƣơng tiện giao tiếp ngôn ngữ. Đây cũng là một quan niệm tƣơng đối phổ biến mà chúng ta có thể thấy trong các công trình của M.Hasan cũng nhƣ của Diệp Quang Ban, chẳng hạn: “Một văn bản có thể là đƣợc nói ra hay là đƣợc viết ra, là văn xuôi hay là thơ, là một đối thoại hay là một đơn thoại.
Nó có thể là một cái gì đó từ một câu tục ngữ đơn lẻ cho đến cả một vở kịch trọn vẹn, từ một tiếng kêu cứu nhất thời cho đến một cuộc thảo luận suốt ngày tại một uỷ ban” [Halliday & Hasan, 1976, Dẫn theo 1, tr. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 1989, Halliday & Hasan tiếp tục khẳng định văn bản là ngôn ngữ trong giao tiếp, có tính mục đích đƣợc tạo ra trong ngữ cảnh giao tiếp và có thể đƣợc diễn đạt bằng các phƣơng tiện khác nhau: “Văn bản là ngôn ngữ thực hiện một chức năng giao tiếp cụ thể, trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể. Văn bản đối lập với các từ, các câu bị tách khỏi ngữ cảnh giao tiếp. Văn bản có thể ở hình thức ngôn ngữ nói, viết hay bất kỳ phƣơng tiện diễn đạt nào”.
[Dẫn theo 30, tr. 10] Trong một công trình gần đây nhất, tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa: “Văn bản là một loại đơn vị đƣợc làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn, hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài… nhƣ một truyện kể, bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đƣờng”. 193] Theo tác giả, định nghĩa trên có thể dùng chung cho cả thuật ngữ diễn ngôn khi chƣa cần phân biệt hai thuật ngữ này. Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu nói trên có quan niệm rộng về khái niệm văn bản.
Theo đó có thể nhận ra các yếu tố quan trọng trong văn bản, nhƣ: - Văn bản có thể ở dạng nói miệng hoặc ở dạng viết. - Văn bản có thể dài, cũng có thể ngắn. - Cấu trúc của văn bản bao gồm cả cấu trúc hình thức lẫn cấu trúc nghĩa. Quan niệm hẹp về khái niệm văn bản đƣợc thể hiện trong nghĩa 3 nêu ở phía trên.
Theo quan niệm này, văn bản là một dạng thể hiện (bằng chữ viết) của diễn ngôn và diễn ngôn bao gồm văn bản. Đây là một cách hiểu đƣợc dùng phổ biến hiện nay ở các nhà nghiên cứu ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn. Họ thƣờng ƣa dùng thuật ngữ diễn ngôn để gọi tên chuỗi những đơn vị ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là phƣơng tiện của giao tiếp, bao gộp các kiểu loại diễn ngôn: nói và viết (tƣơng tự nhƣ cách dùng tên gọi văn bản ở thời kỳ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu) khi cần thì dùng thuật ngữ văn bản dành cho diễn ngôn viết.