CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN VÀ TÁC GIẢ LÝ LAN 1. Khái quát về lý thuyết nữ quyền 1. Chủ nghĩa nữ quyền Chủ nghĩa nữ quyền (feminism) là một biểu hiện cụ thể, vừa là khởi nguyên, vừa là kết quả trực tiếp của “nữ quyền luận” một hệ thống quan điểm, luận thuyết đóng vai trò nền tảng cho các phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực, mọi thiết chế xã hội – đạo đức và văn hóa nói chung. Nó khởi đầu bằng việc chú tâm đến năng lực của bản thân người phụ nữ trong thế đối sánh với nam giới để chống lại những định kiến sai lạc về phụ nữ.
Nó phản kháng những hệ thống đã được thiết lập trên cơ sở xã hội phụ quyền, khi nam giới được đánh đồng với nhân loại nói chung và lịch sử nói riêng, trong khi đó, phụ nữ, nếu không phải là một công cụ, thì cũng bị xem là một hình ảnh vật vờ, phụ thuộc và không thể tự định nghĩa chính mình như một “cái khác” (Other). Nữ quyền (feminism) hiểu theo cách hiểu thông dụng nhất đó là: “Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục”. Nói một cách khái quát, khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội của người phụ nữ, và thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới. Cụ thể hơn, theo lý thuyết gia người Pháp, bà Toril Moi đã cắt nghĩa những khái niệm có liên quan đến nữ giới, bà cho rằng: khái niệm “nữ quyền” gắn liền với hoạt động chính trị và xã hội sinh ra từ sự ý thức về quyền bình đẳng, “giới nữ” tức nhấn mạnh đến vấn đề sinh học và “tính nữ” liên quan đến vấn đề văn hóa.
Như vậy, nói đến nữ quyền cũng là nói đến nguyên tắc bình đẳng khi quyền lợi của 17 người phụ nữ sẽ được đặt ngang bằng với quyền lợi của nam giới. Khi đã có sự ngang bằng ấy, người phụ nữ sẽ làm chủ được cuộc sống của mình ở mọi mặt, từ sở thích, phẩm chất, năng lực cá nhân đến các lĩnh vực liên quan như kinh tế, giáo dục,. trong xã hội mà họ sống. Lịch sử văn minh phương Tây bắt đầu ghi nhận thời điểm khởi đầu cho cuộc đấu tranh nữ quyền kéo dài nhiều thế kỷ này là vào khoảng đầu thế kỷ 18.
Vào cuối thế kỷ đó, hàng loạt cuộc tranh luận không hồi kết về quyền phụ nữ của các triết gia – chính trị gia ở Anh và Pháp bắt đầu. Năm 1791, Olympe de Gouges (1748 – 1793), một nữ biên kịch – chính trị gia người Pháp, xuất bản “Tuyên ngôn về Quyền phụ nữ và Quyền nữ công dân”, một tác phẩm nhại “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” năm 1789. Một năm sau, “Minh chứng về quyền phụ nữ” (A Vindication of the Rights of Woman) của Mary Wollstonecraft (1759 – 1797), một nhà văn – triết gia người Anh, ra đời. Trong cuốn sách danh tiếng này, nữ tác giả người Anh cho rằng, khi được sinh ra đời phụ nữ không thấp kém hơn nam giới, họ chỉ thấp kém hơn vì một nguyên nhân duy nhất: sự bất bình đẳng về giáo dục.
Từ đó, bà cho rằng, trong một xã hội mới văn minh hơn, cả đàn ông lẫn phụ nữ cần phải được đối xử một cách bình đẳng hoàn toàn. Những cuộc đấu tranh nữ quyền từ đó phát triển mạnh mẽ cho đến tận những năm 20 của thế kỷ XX. Các nhà nữ quyền luận quan trọng nhất thời kỳ này có thể kể đến tiếp theo là Elizabeth Cady Stanton, John Stuart Mill, Harriet Taylor (Mill), Harriet Tubman và Eleanor Roosevelt. Chúng ta có thể thấy rõ rằng ở thời kì sơ khai của phong trào nữ quyền các nhà lí luận – hoạt động xã hội đã thách thức cũng như công khai chống lại các luật lệ hiện hành ràng buộc người phụ nữ.
Họ sớm ý thức được vai trò của giáo dục trong khẳng định vị thế của nữ giới. Với mong muốn xác nhận “nữ quyền” trong đời sống xã hội, họ đã tích cực đưa ra những tuyên ngôn, giới thuyết nhằm bảo vệ 18 nữ giới trong vòng cương tỏa của hệ ý thức nam giới. Trong thực tế, hệ thống pháp luật hiện thời là nền tảng pháp luật được xây dựng trên hệ ý thức của nam giới, thiên về lợi ích của nam giới. Chưa bao giờ, họ hi vọng một hệ thống pháp lí công bằng với người phụ nữ như lúc bấy giờ.
Ở Âu châu, viết và nói về phụ nữ là một đề tài không còn mới mẻ. Song, theo Poulain và Simone de Beauvoir nhấn mạnh: “Tất cả những gì đàn ông viết về phụ nữ đều đáng nghi ngờ vì đàn ông vừa là quan tòa, vừa là người tố tụng” [84, tr. Và cuốn sách “Giới tính thứ hai” được viết với mục đích như sau: “Tôi đã nói là cuốn sách này được hình thành hầu như một cách ngẫu nhiên, vì muốn nói về bản thân nên tôi đã thấy phải miêu tả thân phận phụ nữ ” [84, tr. Hậu kỳ thế chiến thứ 2, “Giới tính thứ hai” (Le Deuxième Sexe, 1949) là tác phẩm được xem là “bản tuyên ngôn nữ quyền” làm mốc cho những thay đổi mãnh liệt về chất của phong trào nữ quyền thế giới.
Simone de Beauvoir cho rằng, phụ nữ cũng có toàn bộ khả năng và vị thế có thể so sánh với nam giới. Vì thế, phụ nữ cần phải tự giải phóng, phục hồi cái tôi kiêu hãnh, tự do trong suy nghĩ hành động của chính mình thay vì luôn phụ thuộc, hướng về phía nam giới như trước đây. Ngoài ra, bà cũng yêu cầu cải cách cấu trúc các thiết chế xã hội, từ luật pháp đến giáo dục và văn hóa để giải phóng phụ nữ. Đợt sóng nữ quyền thứ nhất đã làm lung lay một số thiết chế xã hội, những quyền cơ bản của phụ nữ được công nhận như giáo dục, quyền thừa kế,… Tiếp tục những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào nữ quyền lần thứ 2 bùng nổ.
Lần này, các nhà nữ quyền hướng đến đòi quyền bình đẳng về chính trị, văn hóa, và xã hội, thay vì chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế như trước. Betty Friedan, Gloria Marie Steinem, Elizabeth Dole,… đều là những nhà nữ quyền danh tiếng của giai đoạn này. Các nhà triết học thời kỳ Khai sáng thế kỷ XVIII đều cùng chung tiếng nói bênh vực nữ quyền. Họ cho rằng tình trạng thấp kém của phụ nữ là 19 do sự bất hợp lý của nền giáo dục gây nên chứ không phải tự nhiên hay đặc điểm sinh học.
Vì vậy, để khắc phục tình trạng đó, cần phải trang bị cho họ “một trình độ học vấn vững chãi”. Thay đổi cách nhìn nhận đánh giá của xã hội về phụ nữ là điều không dễ dàng, đòi hỏi một quá trình tranh đấu bền bỉ và toàn diện. Ngoài những yếu tố khách quan như pháp luật, triết học, kinh tế,. thì vai trò chủ quan thuộc về ý thức của người phụ nữ là vô cùng quan trọng.
Ở giai đoạn thứ hai này ta thấy rõ việc chú trọng đến yếu tố bản thể của người phụ nữ. Đòi hỏi họ phải ý thức được vai trò của bản thân mình ngay trong tổ chức xã hội cơ sở là gia đình rồi đến xã hội bên ngoài gia đình. Phụ nữ cần phải tự giải phóng bản thân, dám bộc lộ cái tôi, cái riêng biệt thể hiện sắc thái nữ ở mỗi cá nhân, phản kháng, đấu tranh chống lại những bất công, trói buộc vô lí mà họ đang đối mặt. Người phụ nữ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành bị trói buộc vào những nghĩa vụ như sinh con, chăm lo việc nhà và đáp ứng như cầu tình dục cho đàn ông thay vì lao động, sáng tạo để thay đổi số phận cũng như khẳng định sự tồn tại của mình.
Vai trò người mẹ, người vợ thật sự là những chức trách thiêng liêng và thể hiện được thuộc tính gia đình của người phụ nữ. Nhưng trong nhiều hoàn cảnh người ta đã vin vào đó mà tước đi những quyền lợi chính đáng về chính trị - kinh tế - xã hội mà người phụ nữ xứng đáng được thụ hưởng. Ngay như trong chức năng làm mẹ, người phụ nữ dường như hoàn toàn trở thành công cụ sinh sản và thỏa mãn tính chiếm hữu của người đàn ông trong xã hội cổ đại, trung đại. Hơn hết, phụ nữ bị gắn bó quá chặt với gia đình, không thể tự tạo cho mình một đẳng cấp riêng biệt để có quyền đòi hỏi các quyền lợi về kinh tế, xã hội.
Bên cạnh đó không thể không kể đến sức ảnh hưởng của các huyền thoại, tôn giáo đối với giới nữ. Sự ảnh hưởng của những điều này dần tạo nên một kết giới quy cho thân phận người phụ nữ những tính chất tiêu cực, áp đặt vị thế thấp kém của phụ nữ trong xã hội và trong sự tương quan với nam giới. Chính vì lẽ đó mà trong suốt nhiều thế kỷ, trải qua các giai đoạn 20 phát triển của lịch sử xã hội loài người, giới nữ đã tồn tại như một sự phụ thuộc, mang tính trang trí, họ phải cống hiến, phải phục vụ đàn ông đổi lại là sự rẻ rúng và xem thường của cộng đồng. Những năm 90 của thế kỷ XX, phong trào nữ quyền lần thứ 3, với trung tâm là Hoa Kỳ, nổ ra.
Lần này, phong trào nữ quyền phản ứng lại với chính phong trào nữ quyền diễn ra trước đó, định nghĩa lại bản chất của nữ giới, xem tính dục như một quyền lực, cũng như phong trào nữ quyền cũ, bảo vệ hoặc từ bỏ hàng loạt những thành tựu của phong trào trước, và quan trọng nhất là đòi quyền bình đẳng giữa chính những người nữ với nhau. Không khó hiểu khi các nhà lãnh đạo nữ quyền của phong trào thứ 3 này, đại loại như Gloria Anzaldua, Bell Hooks, Chela Sandoval, Cherrie Moraga, Audre Lorde, Maxine Hong Kingston,… đều là những người có những ám ảnh nhất định về vấn đề chủng tộc. Rõ ràng sự trỗi dậy và phát triển không ngừng nghỉ của phong trào nữ quyền xuất phát từ nhu cầu bức thiết cần nhìn nhận lại vai trò của giới nữ trong đời sống xã hội. Không có lý do gì có thể hạn chế hoạt động của phụ nữ.
Phụ nữ cũng như nam giới phải được quyền bình đẳng thể hiện tài năng trí tuệ của mình.