Phê bình nữ quyền trong sáng tác của Lý Lan: Luận văn nghiên cứu

Phê bình nữ quyền trong văn học: Phân tích các tác phẩm văn học dưới góc độ nữ quyền. Tìm hiểu ảnh hưởng và đóng góp của trào lưu này.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

125
54
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lịch sử nghiên cứu về lý thuyết phê bình và văn học nữ quyền

Lịch sử nghiên cứu về Lý Lan và sáng tác của bà

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Phương pháp nghiên cứu

Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN VÀ TÁC GIẢ LÝ LAN

1.1. Khái quát về lý thuyết nữ quyền

1.1.1. Chủ nghĩa nữ quyền

1.1.2. Phong trào nữ quyền và phê bình văn học nữ quyền

1.1.2.1. Một số quan niệm chung
1.1.2.2. Các giai đoạn, thời kì và ảnh hưởng của phong trào nữ quyền

1.2. Văn học nữ quyền ở Việt Nam

1.2.1. Xu hướng nữ quyền

1.2.2. Tác giả và tác phẩm

1.3. Lý Lan và vấn đề nữ quyền

1.3.1. Sơ lược về tiểu sử và sự nghiệp văn học

1.3.2. Các giai đoạn và xu hướng sáng tác

1.3.3. Sự định hình của xu hướng nữ quyền

2. CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA LÝ LAN

2.1. Tính nữ và ý thức nữ trong sáng tác của Lý Lan

2.1.1. Ý thức nữ quyền

2.2. Biểu hiện nữ quyền trong sáng tác của Lý Lan

2.2.1. Tự đi tìm bản ngã

2.2.2. Ý thức về thiên chức người mẹ

2.2.3. Tính dục và sự giải phóng bản ngã

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN TRONG SÁNG TÁC CỦA LÝ LAN

3.1. Đặc điểm của hệ thống nhân vật

3.1.1. Thế giới bên trong đặc thù

3.2. Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, cốt truyện, kết cấu

3.2.1. Tình huống truyện – một phương diện bộc lộ tư tưởng nữ quyền

3.2.2. Cốt truyện phi tuyến tính

3.2.3. Kết cấu tác phẩm như một phương tiện thể hiện ý thức nữ quyền

3.3. Chọn lựa phương tiện ngôn từ

3.3.1. Tính nữ trong “cái tôi trần thuật” của Lý Lan

3.3.2. Chọn lựa hệ thống ngôn từ riêng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Phê Bình Nữ Quyền Trong Văn Học Khái Niệm Lịch Sử

Phê bình nữ quyền (feminism) không chỉ là một trường phái phê bình văn học mà còn là một biểu hiện cụ thể, vừa là khởi nguyên, vừa là kết quả trực tiếp của "nữ quyền luận". Nó là một hệ thống quan điểm, luận thuyết đóng vai trò nền tảng cho các phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực, mọi thiết chế xã hội – đạo đức và văn hóa nói chung. Nó khởi đầu bằng việc chú tâm đến năng lực của bản thân người phụ nữ trong thế đối sánh với nam giới để chống lại những định kiến sai lạc về phụ nữ. Nó phản kháng những hệ thống đã được thiết lập trên cơ sở xã hội phụ quyền, khi nam giới được đánh đồng với nhân loại nói chung và lịch sử nói riêng, trong khi đó, phụ nữ, nếu không phải là một công cụ, thì cũng bị xem là một hình ảnh vật vờ, phụ thuộc và không thể tự định nghĩa chính mình như một “cái khác” (Other). Nữ quyền (feminism) hiểu theo cách hiểu thông dụng nhất đó là: “Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục”. Nói một cách khái quát, khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội của người phụ nữ, và thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới. Theo lý thuyết gia người Pháp, Toril Moi, “nữ quyền” gắn liền với hoạt động chính trị và xã hội sinh ra từ sự ý thức về quyền bình đẳng, “giới nữ” tức nhấn mạnh đến vấn đề sinh học và “tính nữ” liên quan đến vấn đề văn hóa. Như vậy, nói đến nữ quyền cũng là nói đến nguyên tắc bình đẳng khi quyền lợi của người phụ nữ sẽ được đặt ngang bằng với quyền lợi của nam giới. Khi đã có sự ngang bằng ấy, người phụ nữ sẽ làm chủ được cuộc sống của mình ở mọi mặt, từ sở thích, phẩm chất, năng lực cá nhân đến các lĩnh vực liên quan như kinh tế, giáo dục trong xã hội mà họ sống. Lịch sử văn minh phương Tây bắt đầu ghi nhận thời điểm khởi đầu cho cuộc đấu tranh nữ quyền kéo dài nhiều thế kỷ này là vào khoảng đầu thế kỷ 18. Đến tận những năm 20 của thế kỷ XX, các cuộc đấu tranh nữ quyền vẫn tiếp tục. Các nhà nữ quyền luận quan trọng nhất thời kỳ này có thể kể đến tiếp theo là Elizabeth Cady Stanton, John Stuart Mill, Harriet Taylor (Mill), Harriet Tubman và Eleanor Roosevelt. Rõ ràng sự trỗi dậy và phát triển không ngừng nghỉ của phong trào nữ quyền xuất phát từ nhu cầu bức thiết cần nhìn nhận lại vai trò của giới nữ trong đời sống xã hội. Không có lý do gì có thể hạn chế hoạt động của phụ nữ. Phụ nữ cũng như nam giới phải được quyền bình đẳng thể hiện tài năng trí tuệ của mình.

1.1. Ba Giai Đoạn Phát Triển Chính Của Phong Trào Nữ Quyền

Phong trào nữ quyền trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Giai đoạn đầu tập trung vào quyền công dân, giáo dục. Giai đoạn hai tập trung vào bình đẳng chính trị, văn hóa, xã hội. Giai đoạn ba phản ứng lại các phong trào trước đó, định nghĩa lại bản chất nữ giới và đòi bình đẳng giữa chính những người phụ nữ. Lịch sử văn học và lịch sử nghiên cứu phê bình ghi nhận hai giai đoạn phát triển của phê bình nữ quyền: giai đoạn hiện đại và giai đoạn hậu hiện đại. Giai đoạn hiện đại bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XIX đến trước năm 1970 của thế kỷ XX. Giai đoạn hậu hiện đại từ năm 1970 đến nay. Trong giai đoạn này phê bình nữ quyền có những chuyển biến quan trọng và ngày càng táo bạo hơn khi đề cập đến giới nữ trong đời sống cũng như trong văn học. Các nhà triết học thời kỳ Khai sáng thế kỷ XVIII đều cùng chung tiếng nói bênh vực nữ quyền. Họ cho rằng tình trạng thấp kém của phụ nữ là do sự bất hợp lý của nền giáo dục gây nên chứ không phải tự nhiên hay đặc điểm sinh học. Vì vậy, để khắc phục tình trạng đó, cần phải trang bị cho họ “một trình độ học vấn vững chãi”. Thay đổi cách nhìn nhận đánh giá của xã hội về phụ nữ là điều không dễ dàng, đòi hỏi một quá trình tranh đấu bền bỉ và toàn diện.

1.2. Ảnh Hưởng Của Phong Trào Nữ Quyền Đến Văn Học Thế Giới

Văn học nữ quyền ra đời như một vũ khí tư tưởng quan trọng góp phần làm nên cuộc giải phóng phụ nữ, hướng tới sự bình đẳng giới trên nhiều lĩnh vực. Nhiều nhà văn nữ nổi tiếng đã đóng góp vào phong trào này, ví dụ như Virginia Woolf với "A Room of One's Own" hay Simone de Beauvoir với "The Second Sex". Các tác phẩm này đã thách thức các định kiến xã hội và thúc đẩy bình đẳng giới trong văn học. Cùng với nhiều khuynh hướng phê bình văn học ra đời trong thế kỷ XX như Phê bình hiện tượng luận, Phê bình cấu trúc luận, Phê bình hậu thực dân luận, … Phê bình nữ quyền luận phát triển mạnh trong khoảng 30 năm trở lại đây ở châu Âu và phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, Anh và Pháp. Bởi lẽ, vấn đề nữ quyền có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội nói chung, do đó, ánh xạ của nó trong lý luận và phê bình văn học cũng có những ảnh hưởng đáng kể. Thực ra, nữ quyền luận nói chung có tác động đến hầu hết các lĩnh vực xã hội, từ triết học – tư tưởng đến chính trị, pháp luật, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, …

II. Phê Bình Nữ Quyền Trong Văn Học Việt Nam Thực Trạng Hướng

Ở Việt Nam, vấn đề phái tính và văn học nữ đến nay vẫn chưa được giới học thuật quan tâm nhiều. Tuy nhiên, trong ý thức, giới nghiên cứu phần lớn đều hiểu và thừa nhận đây là một vấn đề quan trọng của đời sống hiện đại. Mang bản chất là loại hình sáng tác nhằm tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người, văn học nói chung vẫn chịu ảnh hưởng to lớn từ phía chế độ chính trị xã hội trong thời kỳ nó phát triển. Cho đến thời kỳ hậu chiến, đặc biệt bắt đầu từ sau 1986 cho đến nay, văn học xuất hiện đông đảo các cây bút nữ tên tuổi đóng góp cho văn học Việt Nam và được công nhận như: Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Lý Lan, Nguyễn Ngọc Tư,… Và nếu cho rằng: văn học viết về phụ nữ không phân biệt chủ thể sáng tạo và đề cập đến tất cả các vấn đề liên quan đến phụ nữ như sự yếu đuối, uỷ mị, mơ mộng đến bùng nổ, nổi loạn,… thì chắc hẳn văn học ở nước nào cũng có. Liệu những biểu hiện này có được coi là văn học nữ quyền không? Hay đó chỉ là dấu hiệu, là sự manh nha của văn học nữ quyền? Và để được gọi là “văn học nữ quyền” phải đáp ứng những tiêu chí, những đòi hỏi riêng như thế nào? Văn học nữ quyền là thứ văn học kháng cự lại tình trạng mất tiếng nói của nữ giới. Nó cho thấy địa vị của nam giới không vững chãi và không thể cứ phủ mãi một lớp huyền thoại về nam tính; tính nữ không phải là cái gì tất định, tiên thiên, bất biến. Nó khẳng định nữ giới là một cá nhân tự mình, cần sống cho mình, tự công nhận mình như đàn ông đang sống, đang làm; thậm chí sống độc lập, tự chủ về mọi mặt và không cần đàn ông, chứ không phải sống vì người khác, cho người khác, theo người khác, phục vụ người khác, không thể sống mãi trong tư cách “là người đàn bà thực sự” như đàn ông đã kiến tạo, ấn định, tuyên truyền hoặc đợi đàn ông thừa nhận, hợp thức hóa.

2.1. Các Xu Hướng Chính Trong Văn Học Nữ Quyền Việt Nam

Một số xu hướng chính bao gồm: phê phán định kiến giới, khám phá bản thể nữ giới, đề cao quyền tự do cá nhân của phụ nữ, và phản ánh các vấn đề xã hội liên quan đến phụ nữ. Một cách cơ bản có thể nhận ra âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại được bộc lộ qua một số phương diện và dấu hiệu nhận biết sau: Ngôn ngữ trong tác phẩm của các cây bút nữ quyết liệt, mạnh mẽ không kém gì nam giới, thậm chí, nhiều cây bút có ý thức gây hấn và gây shock bằng sức mạnh của ngôn từ. Trước đây, người đọc chỉ quen nhìn thấy trong sáng tác của các nhà văn nữ sự dịu dàng, thơ mộng, nhưng giờ đây, nhiều nhà văn nữ cố gắng tạo ra thứ ngôn ngữ góc cạnh, đầy cá tính. Điều đó xuất phát từ ý thức: ngôn ngữ trong tác phẩm của họ là thứ ngôn ngữ thể hiện chính xác nhất những trải nghiệm cá nhân giới nữ trong nhiều mối quan hệ khác nhau. - Không ít cây bút nữ công khai xét lại lịch sử và các điển tích/ các hình tượng nghệ thuật bằng cái nhìn riêng của cá nhân và giới nữ mà không ngán/ ngại vấp phải sự phản ứng của người đọc. - Công khai bày tỏ thái độ phản kháng sự lệ thuộc vào thế giới đàn ông và dám đề cập thẳng các đề tài cấm kị một cách tự do, nhất là đề tài tình dục. Tại đây, không phải lúc nào đàn bà cũng chỉ là trò chơi và nô lệ tình dục cho đàn ông mà nhiều khi, quyền chủ động thuộc về nữ giới. Với họ, tình dục là một phương diện thể hiện rõ nhất sự tự do bản ngã. Thậm chí, đã bắt đầu manh nha lối “viết bằng thân thể”, dùng ngôn ngữ để biểu hiện nhịp điệu của suy nghĩ.

2.2. Những Tên Tuổi Tiêu Biểu Của Văn Học Nữ Quyền Việt Nam

Nhiều tác giả nữ đã đóng góp vào sự phát triển của văn học nữ quyền Việt Nam, ví dụ như Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan, Nguyễn Ngọc Tư,... Với những tác phẩm hướng về những vấn đề mang tính thời cuộc của dân tộc. Sau giai đoạn này thì văn học nữ có sự tái sinh mạnh mẽ. Từ thập niên 1980 đến 1990, một thế hệ nhà văn nữ tiến vào văn đàn mang hơi thở của thời đại với sự phóng khoáng, đổi mới. Sinh ra tại thời điểm gạch nối giữa hai thời đại, chứng kiến đất nước trong những năm mưa bão chiến tranh và thời kỳ hòa bình xây dựng họ thể hiện trong văn chương của mình cái nhìn mang tính đa diện, đa chiều, sâu sắc hơn về cuộc sống.Ngày nay, sự thay đổi tư duy và sự mở rộng của tinh thần dân chủ xã hội khiến cho nữ giới có điều kiện tự do cất cao tiếng nói của mình với tư cách là chủ thể độc lập. Hơn bao giờ hết họ đã có những thay đổi lớn về nhận thức, học vấn, điều kiện tự chủ kinh tế, khả năng am hiểu luật pháp,… tức là có đủ các yếu tố để trở thành một chủ thể độc lập, thoát khỏi trình trạng bị “nó, anh ấy, ông ấy hoá”.

III. Lý Lan Tiểu Sử Sự Nghiệp Vị Trí Trong Văn Học Nữ Quyền

Lý Lan (1957) là một nhà văn nữ đa tài, thử sức và thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, thơ, kịch bản phim. Từ những chi tiết tưởng chừng vụn vặt, đời thường, Lý Lan thể hiện những băn khoăn, trăn trở về cuộc đời và số phận con người. Tác giả bộc lộ lối suy nghĩ có chiều sâu, lối sống tích cực, sẵn sàng tuyên truyền cho cái mới, cái tiến bộ, và không ngần ngại lật lại quá khứ để chiêm nghiệm, suy ngẫm. Lý Lan đến với văn chương không phải là một lựa chọn bất ngờ, ngẫu nhiên. Vốn yêu thích văn chương từ khi còn là một nữ sinh trung học, chị đã chọn theo học ban xã hội. Nhưng như một “bước ngoặt”, khi thi đỗ vào trường Sư phạm, bà không đạt được nguyện vọng học khoa Văn mà được chuyển qua học khoa Anh văn.Tuy vậy, cô sinh viên khoa ngoại ngữ vẫn “chưa đành từ bỏ mộng văn chương, có lúc nào rảnh là vào thư viện mượn sách văn học và giáo trình khoa văn mà đọc”.Thơ Lý Lan giản dị nhưng nói về một điều không đơn giản, cũng có thể nói là điều khó vượt qua, là bao nhiêu người sống trong đời này đã là sống thật với chính mình. Để cuối cùng, nhà thơ cất lên lời cám ơn trân trọng với thơ: “Những lúc như vầy tôi muốn Cám ơn thơ Không hề nói tôi người đàn bà đẹp nhất… Thơ yêu tôi… Tặng cho tôi ngôn từ tôi đánh mất trong nỗi đau câm nín”. Bà đã viết những dòng thơ giàu âm hưởng đời thường, ngôn ngữ Nam Bộ giản dị, chân thật và sâu lắng.Thực tế, trong các tác phẩm văn học có không ít nhà văn nam viết về phụ nữ khá thành công, có thể kể đến như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Quang Thiều, … Ở Việt Nam, văn học sau 1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính đến mức có người cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt của những cây bút có thực tài như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ,… và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư, Lý Lan,…

3.1. Các Giai Đoạn Sáng Tác Chính Của Nhà Văn Lý Lan

Giai đoạn đầu, Lý Lan viết nhiều về đề tài giáo dục, về tuổi trẻ miền Nam dấn thân vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau ngày đất nước thống nhất, về hậu quả của cuộc chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam để lại những tàn dư trong lòng thành phố. Qua giai đoạn “tự ngắm mình”, Lý Lan tiếp tục xông xáo đi vào con đường văn chương. Truyện ngắn Lý Lan ngày càng đậm chất hiện thực.Dấu ấn tự truyện cũng đậm nét hơn trong truyện ngắn Lý Lan. Xuất phát từ sự quan sát, cảm nhận của một cây bút nữ với ý thức về giới sâu sắc, nhà văn đã thể hiện mối quan tâm giới nữ ở nhiều mặt trong đời sống xã hội, gia đình và cả bản thân. Có thể chọn cột mốc đổi mới kỹ thuật viết của nhà văn là sau khi Lý Lan tham gia chương trình viết văn quốc tế tại đại học Iowa trở về. Trong truyện ngắn giai đoạn này, nhà văn xoay quanh các đề tài: người phụ nữ và ý thức nữ quyền sâu sắc trong Người đàn bà kể chuyện, Mẹ và con, Rừng mai, Cô con gái, Dị mộng,…

3.2. Vị Trí Của Lý Lan Trong Văn Học Việt Nam Đương Đại

Lý Lan là một trong những nhà văn nữ có đóng góp đáng kể vào văn học Việt Nam đương đại. Các tác phẩm của bà thường tập trung vào thân phận người phụ nữ và thể hiện những vấn đề nhức nhối trong xã hội Việt Nam hiện đại. Là phụ nữ và là người sáng tạo nên tác phẩm văn chương họ thể hiện sự đồng điệu, cảm thông một cách sâu sắc với số phận của “giới nữ”. Lý Lan cũng vậy, từ quan niệm “Tôi muốn viết về đàn bà để nói về con người chứ không phải chỉ riêng là đàn bà”, bà đã xây dựng được những nhân vật nữ có số phận, cuộc đời đại diện cho nhiều người và nói lên nhiều vấn đề của thời đại. Theo Lý Lan, “người phụ nữ hiện đại là người độc lập, tự do”. Họ hoàn toàn có khả năng đảm đương những trọng trách mà xã hội giao phó, họ mạnh mẽ và hiểu biết hơn những gì người ta vẫn thường nghĩ về phụ nữ: yếu đuối và nông cạn.

IV. Phân Tích Nữ Quyền Trong Tác Phẩm Của Lý Lan Phương Pháp

Phân tích nữ quyền trong các tác phẩm của Lý Lan là một quá trình phức tạp. Nó đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về lý thuyết phê bình nữ quyền và khả năng áp dụng nó vào các tác phẩm văn học cụ thể. Việc phân tích có thể được thực hiện bằng cách xem xét cách các nhân vật nữ được xây dựng, các vấn đề mà họ phải đối mặt, và cách họ vượt qua các thử thách. Các tác phẩm của Lý Lan có thể được phân tích dưới góc độ phê bình nữ quyền để làm rõ các yếu tố và ảnh hưởng của tư tưởng nữ quyền trong sáng tác của bà. Phương pháp này giúp nhận diện và đánh giá các yếu tố nội dung và nghệ thuật đã tạo nên sự độc đáo riêng biệt trong văn chương của bà so với các nhà văn khác. Đồng thời, nó góp phần chứng minh sự ra đời và phát triển của phê bình nữ quyền như một tất yếu của lịch sử văn học, và khẳng định vị thế của các nhà văn nữ trong tương quan với những nhà văn nam giới cùng thời.

4.1. Khám Phá Quan Điểm Nữ Quyền Qua Nhân Vật Nữ Của Lý Lan

Việc khai thác sâu sắc quan điểm nữ quyền trong các nhân vật nữ của Lý Lan bao gồm việc phân tích sự tự chủ, quyền lực và khả năng định đoạt cuộc sống của họ. Điều này có thể được thực hiện bằng cách đánh giá cách nhân vật vượt qua các định kiến và áp lực xã hội, cũng như cách họ tìm kiếm sự tự do và hạnh phúc cá nhân. Bằng sự nhạy cảm và tinh tế vốn có của một người phụ nữ, khi chấp bút sáng tác Lý Lan đã cho ra đời những vần thơ vừa phóng khoáng, vừa sâu lắng thể hiện nội tâm kín đáo của một người phụ nữ trước cuộc đời. Tập thơ “Là mình” xuất bản năm 2005 thể hiện trọn vẹn một Lý Lan đằm thắm và tự nhiên, giản dị và hiện đại đang nhìn lại cuộc hành trình hơn ba mươi năm của bản thân. Với 127 bài thơ tự do đầy tính tự sự và triết lý, những khát khao của một người phụ nữ, của một nhà văn nữ được truyền tải đến độc giả để cho thấy được độ “chín” trong ngòi bút của tác giả.

4.2. Phân Tích Biểu Hiện Nữ Quyền Trong Cốt Truyện Tình Huống Truyện

Phân tích sự thể hiện của tư tưởng nữ quyền trong cốt truyện và tình huống truyện đòi hỏi việc đánh giá cách nhà văn xây dựng các tình huống xung đột, cách các nhân vật nữ đối diện và giải quyết chúng, cũng như những thông điệp mà cốt truyện muốn truyền tải về quyền và vai trò của phụ nữ trong xã hội. Người phụ nữ trong xã hội hiện đại có thể đứng ở nhiều cương vị xã hội khác nhau. Có thể là nhà văn, nhà báo, công chức văn phòng, giáo viên hay chỉ là người nội trợ trong một gia đình nhỏ nào đó. Nhưng cho dù ở vai trò nào, vị trí nào họ cũng đau khổ và phức tạp hơn, ngay từ trong ý nghĩ. Họ bị hành hạ, trói buộc bởi những suy nghĩ, có khi chỉ là rất nhỏ nhoi, như một phút xao lòng. Hằng bao thế kỷ qua người phụ nữ đã quen với một gia đình người phụ nữ vừa là người vợ vừa là người mẹ - đều là những vai trò thiêng liêng, cao cả.

V. Ứng Dụng Phân Tích Tiểu Thuyết Đàn Bà Dưới Lăng Kính Nữ Quyền

“Tiểu thuyết đàn bà” không chỉ là câu chuyện của một cá nhân riêng lẻ nữa mà là câu chuyện huyền thoại về số phận người phụ nữ trong một gia đình. Một chuỗi nhân vật nữ : Bà Tổ Mọi – Bà ngoại – Chị Đen – Nhà văn Thoa – Mẹ Liễu – Không Bé, “Một thế giới đàn bà bị đàn ông bỏ mặc và phải tìm cách tự giải quyết mọi chuyện theo cách của đàn bà” [32, tr. Như sinh ra để gánh chịu nỗi đau và sự cùng cực, những thế hệ phụ nữ trong dòng họ Thoa đã phải gồng mình chịu đựng nỗi đau do chiến tranh, do cuộc sống, do những người họ yêu thương gây ra. Suốt hành trình ứng phó với những tình huống ngặt nghèo của đời sống những người phụ nữ ấy đã “đi tìm nhau và đi tìm chính mình”. Người phụ nữ ở đây trở thành hiện thân của nỗi đau của sự bất hạnh. Nhưng dù thế nào đi nữa họ đã đi lên từ nỗi đau, ươm mầm cho thế hệ mai sau vững tiến về tương lai với tấm lòng vị tha, yêu thương vô bờ bến.

5.1. Ý Thức Nữ Quyền Thể Hiện Qua Các Thế Hệ Nhân Vật Nữ

Phân tích sự thay đổi và phát triển của ý thức nữ quyền qua các thế hệ nhân vật nữ, từ những nhân vật truyền thống đến những nhân vật hiện đại, giúp hiểu rõ hơn về quá trình đấu tranh và giành quyền của phụ nữ. Các nhân vật nữ trong tác phẩm của Lý Lan thường thể hiện sự mạnh mẽ, độc lập và ý thức về giá trị bản thân. Họ không ngần ngại đối mặt với những khó khăn và thử thách để bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc của mình. Có lẽ là người được sống giữa hai nền văn hóa Việt Nam và Mỹ, Lý Lan có điều kiện chứng kiến những sự khác biệt về phong cách sống của một người phụ nữ Việt bị “Mỹ hóa” với người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Từ đó chị có một độ lùi nhất định để hiểu về người phụ nữ Việt Nam thấu đáo hơn.

5.2. Ngôn Ngữ Giọng Văn Công Cụ Thể Hiện Tinh Thần Nữ Quyền

Cách Lý Lan sử dụng ngôn ngữ và giọng văn để thể hiện tinh thần nữ quyền, bao gồm việc sử dụng ngôn ngữ mạnh mẽ, trực tiếp, phản ánh những suy nghĩ và cảm xúc chân thật của nhân vật nữ, cũng như việc tạo ra một giọng văn riêng, độc đáo, thể hiện cá tính và quan điểm của nhà văn. Lý Lan rất kiệm lời, nhẹ nhàng, tinh tế dẫn người đọc đến với những nỗi đau của con người thời hiện đại. Tác phẩm của chị làm cho người ta phải lắng lòng để suy ngẫm thêm về “một nửa của thế giới” với những con người nhỏ bé nhưng đầy nghị lực với những vui buồn chẳng phải của riêng ai.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về Nữ Quyền Trong Văn Học

Nghiên cứu về phê bình nữ quyền trong văn học Việt Nam nói chung và trong các tác phẩm của Lý Lan nói riêng vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn để làm rõ hơn những đóng góp của các nhà văn nữ và sự ảnh hưởng của tư tưởng nữ quyền đến văn học Việt Nam. Thông qua việc tìm hiểu các sáng tác của Lý Lan chúng ta có cơ hội đi vào khám phá cả một thế giới nghệ thuật với đầy đủ các sắc thái tình cảm của hàng loạt các nhân vật nữ được cảm nhận và thể hiện qua cái nhìn của các tác giả nữ. Mỗi người dù xuất hiện nhiều hay ít, là nhân vật chính hay nhân vật phụ thoáng qua thì họ cũng đã để lại dấu ấn của riêng mình trong thế giới văn chương nghệ thuật mà Lý Lan xây dựng nên.

6.1. Tiềm Năng Phát Triển Của Phê Bình Nữ Quyền Tại Việt Nam

Với sự phát triển của xã hội và sự thay đổi trong nhận thức về giới, phê bình nữ quyền có tiềm năng trở thành một trường phái phê bình quan trọng trong việc nghiên cứu và đánh giá văn học Việt Nam. Ở Việt Nam, văn học sau 1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính đến mức có người cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt của những cây bút có thực tài như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ,… và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư, Lý Lan,… Những cây bút này đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn và các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng của họ.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Đa Dạng Hóa Góc Nhìn Phê Bình

Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc đa dạng hóa góc nhìn phê bình, kết hợp phê bình nữ quyền với các trường phái phê bình khác để có cái nhìn toàn diện hơn về các tác phẩm văn học. Để khám phá thêm những khía cạnh phức tạp trong tâm hồn người phụ nữ, chính từ việc khám phá này sẽ mở ra cho chúng ta những phát hiện mới khi tìm hiểu về phê bình nữ quyền ở Việt Nam. Khám phá tâm hồn của chính nhà văn hay chính nhân vật của mình, đó mới thật sự là cuộc đấu tranh của nữ quyền trong thời hiện đại.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN VÀ TÁC GIẢ LÝ LAN 1. Khái quát về lý thuyết nữ quyền 1. Chủ nghĩa nữ quyền Chủ nghĩa nữ quyền (feminism) là một biểu hiện cụ thể, vừa là khởi nguyên, vừa là kết quả trực tiếp của “nữ quyền luận” một hệ thống quan điểm, luận thuyết đóng vai trò nền tảng cho các phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực, mọi thiết chế xã hội – đạo đức và văn hóa nói chung. Nó khởi đầu bằng việc chú tâm đến năng lực của bản thân người phụ nữ trong thế đối sánh với nam giới để chống lại những định kiến sai lạc về phụ nữ.

Nó phản kháng những hệ thống đã được thiết lập trên cơ sở xã hội phụ quyền, khi nam giới được đánh đồng với nhân loại nói chung và lịch sử nói riêng, trong khi đó, phụ nữ, nếu không phải là một công cụ, thì cũng bị xem là một hình ảnh vật vờ, phụ thuộc và không thể tự định nghĩa chính mình như một “cái khác” (Other). Nữ quyền (feminism) hiểu theo cách hiểu thông dụng nhất đó là: “Quyền bình đẳng của phụ nữ trên mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội và giáo dục”. Nói một cách khái quát, khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội của người phụ nữ, và thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới. Cụ thể hơn, theo lý thuyết gia người Pháp, bà Toril Moi đã cắt nghĩa những khái niệm có liên quan đến nữ giới, bà cho rằng: khái niệm “nữ quyền” gắn liền với hoạt động chính trị và xã hội sinh ra từ sự ý thức về quyền bình đẳng, “giới nữ” tức nhấn mạnh đến vấn đề sinh học và “tính nữ” liên quan đến vấn đề văn hóa.

Như vậy, nói đến nữ quyền cũng là nói đến nguyên tắc bình đẳng khi quyền lợi của 17 người phụ nữ sẽ được đặt ngang bằng với quyền lợi của nam giới. Khi đã có sự ngang bằng ấy, người phụ nữ sẽ làm chủ được cuộc sống của mình ở mọi mặt, từ sở thích, phẩm chất, năng lực cá nhân đến các lĩnh vực liên quan như kinh tế, giáo dục,. trong xã hội mà họ sống. Lịch sử văn minh phương Tây bắt đầu ghi nhận thời điểm khởi đầu cho cuộc đấu tranh nữ quyền kéo dài nhiều thế kỷ này là vào khoảng đầu thế kỷ 18.

Vào cuối thế kỷ đó, hàng loạt cuộc tranh luận không hồi kết về quyền phụ nữ của các triết gia – chính trị gia ở Anh và Pháp bắt đầu. Năm 1791, Olympe de Gouges (1748 – 1793), một nữ biên kịch – chính trị gia người Pháp, xuất bản “Tuyên ngôn về Quyền phụ nữ và Quyền nữ công dân”, một tác phẩm nhại “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” năm 1789. Một năm sau, “Minh chứng về quyền phụ nữ” (A Vindication of the Rights of Woman) của Mary Wollstonecraft (1759 – 1797), một nhà văn – triết gia người Anh, ra đời. Trong cuốn sách danh tiếng này, nữ tác giả người Anh cho rằng, khi được sinh ra đời phụ nữ không thấp kém hơn nam giới, họ chỉ thấp kém hơn vì một nguyên nhân duy nhất: sự bất bình đẳng về giáo dục.

Từ đó, bà cho rằng, trong một xã hội mới văn minh hơn, cả đàn ông lẫn phụ nữ cần phải được đối xử một cách bình đẳng hoàn toàn. Những cuộc đấu tranh nữ quyền từ đó phát triển mạnh mẽ cho đến tận những năm 20 của thế kỷ XX. Các nhà nữ quyền luận quan trọng nhất thời kỳ này có thể kể đến tiếp theo là Elizabeth Cady Stanton, John Stuart Mill, Harriet Taylor (Mill), Harriet Tubman và Eleanor Roosevelt. Chúng ta có thể thấy rõ rằng ở thời kì sơ khai của phong trào nữ quyền các nhà lí luận – hoạt động xã hội đã thách thức cũng như công khai chống lại các luật lệ hiện hành ràng buộc người phụ nữ.

Họ sớm ý thức được vai trò của giáo dục trong khẳng định vị thế của nữ giới. Với mong muốn xác nhận “nữ quyền” trong đời sống xã hội, họ đã tích cực đưa ra những tuyên ngôn, giới thuyết nhằm bảo vệ 18 nữ giới trong vòng cương tỏa của hệ ý thức nam giới. Trong thực tế, hệ thống pháp luật hiện thời là nền tảng pháp luật được xây dựng trên hệ ý thức của nam giới, thiên về lợi ích của nam giới. Chưa bao giờ, họ hi vọng một hệ thống pháp lí công bằng với người phụ nữ như lúc bấy giờ.

Ở Âu châu, viết và nói về phụ nữ là một đề tài không còn mới mẻ. Song, theo Poulain và Simone de Beauvoir nhấn mạnh: “Tất cả những gì đàn ông viết về phụ nữ đều đáng nghi ngờ vì đàn ông vừa là quan tòa, vừa là người tố tụng” [84, tr. Và cuốn sách “Giới tính thứ hai” được viết với mục đích như sau: “Tôi đã nói là cuốn sách này được hình thành hầu như một cách ngẫu nhiên, vì muốn nói về bản thân nên tôi đã thấy phải miêu tả thân phận phụ nữ ” [84, tr. Hậu kỳ thế chiến thứ 2, “Giới tính thứ hai” (Le Deuxième Sexe, 1949) là tác phẩm được xem là “bản tuyên ngôn nữ quyền” làm mốc cho những thay đổi mãnh liệt về chất của phong trào nữ quyền thế giới.

Simone de Beauvoir cho rằng, phụ nữ cũng có toàn bộ khả năng và vị thế có thể so sánh với nam giới. Vì thế, phụ nữ cần phải tự giải phóng, phục hồi cái tôi kiêu hãnh, tự do trong suy nghĩ hành động của chính mình thay vì luôn phụ thuộc, hướng về phía nam giới như trước đây. Ngoài ra, bà cũng yêu cầu cải cách cấu trúc các thiết chế xã hội, từ luật pháp đến giáo dục và văn hóa để giải phóng phụ nữ. Đợt sóng nữ quyền thứ nhất đã làm lung lay một số thiết chế xã hội, những quyền cơ bản của phụ nữ được công nhận như giáo dục, quyền thừa kế,… Tiếp tục những năm 60 của thế kỷ XX, phong trào nữ quyền lần thứ 2 bùng nổ.

Lần này, các nhà nữ quyền hướng đến đòi quyền bình đẳng về chính trị, văn hóa, và xã hội, thay vì chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế như trước. Betty Friedan, Gloria Marie Steinem, Elizabeth Dole,… đều là những nhà nữ quyền danh tiếng của giai đoạn này. Các nhà triết học thời kỳ Khai sáng thế kỷ XVIII đều cùng chung tiếng nói bênh vực nữ quyền. Họ cho rằng tình trạng thấp kém của phụ nữ là 19 do sự bất hợp lý của nền giáo dục gây nên chứ không phải tự nhiên hay đặc điểm sinh học.

Vì vậy, để khắc phục tình trạng đó, cần phải trang bị cho họ “một trình độ học vấn vững chãi”. Thay đổi cách nhìn nhận đánh giá của xã hội về phụ nữ là điều không dễ dàng, đòi hỏi một quá trình tranh đấu bền bỉ và toàn diện. Ngoài những yếu tố khách quan như pháp luật, triết học, kinh tế,. thì vai trò chủ quan thuộc về ý thức của người phụ nữ là vô cùng quan trọng.

Ở giai đoạn thứ hai này ta thấy rõ việc chú trọng đến yếu tố bản thể của người phụ nữ. Đòi hỏi họ phải ý thức được vai trò của bản thân mình ngay trong tổ chức xã hội cơ sở là gia đình rồi đến xã hội bên ngoài gia đình. Phụ nữ cần phải tự giải phóng bản thân, dám bộc lộ cái tôi, cái riêng biệt thể hiện sắc thái nữ ở mỗi cá nhân, phản kháng, đấu tranh chống lại những bất công, trói buộc vô lí mà họ đang đối mặt. Người phụ nữ từ khi sinh ra đến khi trưởng thành bị trói buộc vào những nghĩa vụ như sinh con, chăm lo việc nhà và đáp ứng như cầu tình dục cho đàn ông thay vì lao động, sáng tạo để thay đổi số phận cũng như khẳng định sự tồn tại của mình.

Vai trò người mẹ, người vợ thật sự là những chức trách thiêng liêng và thể hiện được thuộc tính gia đình của người phụ nữ. Nhưng trong nhiều hoàn cảnh người ta đã vin vào đó mà tước đi những quyền lợi chính đáng về chính trị - kinh tế - xã hội mà người phụ nữ xứng đáng được thụ hưởng. Ngay như trong chức năng làm mẹ, người phụ nữ dường như hoàn toàn trở thành công cụ sinh sản và thỏa mãn tính chiếm hữu của người đàn ông trong xã hội cổ đại, trung đại. Hơn hết, phụ nữ bị gắn bó quá chặt với gia đình, không thể tự tạo cho mình một đẳng cấp riêng biệt để có quyền đòi hỏi các quyền lợi về kinh tế, xã hội.

Bên cạnh đó không thể không kể đến sức ảnh hưởng của các huyền thoại, tôn giáo đối với giới nữ. Sự ảnh hưởng của những điều này dần tạo nên một kết giới quy cho thân phận người phụ nữ những tính chất tiêu cực, áp đặt vị thế thấp kém của phụ nữ trong xã hội và trong sự tương quan với nam giới. Chính vì lẽ đó mà trong suốt nhiều thế kỷ, trải qua các giai đoạn 20 phát triển của lịch sử xã hội loài người, giới nữ đã tồn tại như một sự phụ thuộc, mang tính trang trí, họ phải cống hiến, phải phục vụ đàn ông đổi lại là sự rẻ rúng và xem thường của cộng đồng. Những năm 90 của thế kỷ XX, phong trào nữ quyền lần thứ 3, với trung tâm là Hoa Kỳ, nổ ra.

Lần này, phong trào nữ quyền phản ứng lại với chính phong trào nữ quyền diễn ra trước đó, định nghĩa lại bản chất của nữ giới, xem tính dục như một quyền lực, cũng như phong trào nữ quyền cũ, bảo vệ hoặc từ bỏ hàng loạt những thành tựu của phong trào trước, và quan trọng nhất là đòi quyền bình đẳng giữa chính những người nữ với nhau. Không khó hiểu khi các nhà lãnh đạo nữ quyền của phong trào thứ 3 này, đại loại như Gloria Anzaldua, Bell Hooks, Chela Sandoval, Cherrie Moraga, Audre Lorde, Maxine Hong Kingston,… đều là những người có những ám ảnh nhất định về vấn đề chủng tộc. Rõ ràng sự trỗi dậy và phát triển không ngừng nghỉ của phong trào nữ quyền xuất phát từ nhu cầu bức thiết cần nhìn nhận lại vai trò của giới nữ trong đời sống xã hội. Không có lý do gì có thể hạn chế hoạt động của phụ nữ.

Phụ nữ cũng như nam giới phải được quyền bình đẳng thể hiện tài năng trí tuệ của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ