Chương 1 TỎNG QUAN 1. Cau tạo xương chậu Xương chậu của chó được cấu tạo bởi 3 xương: xương hông, xương tọa và xương mu. Cả 3 xương này kết hợp với nhau hình thành nên ô khớp chén hay còn gọi là 6 chảo (cối). Khớp hang là khớp hoạt dịch, hình chom cầu nằm giữa xương chậu và xương đùi cùng hệ thống các dây chằng.
Đây là một khớp sâu và là khớp duy nhất cho toàn bộ các chuyền động của cơ thể đặc biệt là gập và dudi. Khớp hang bao gồm đầu (chỏm) xương đùi hình cầu và 6 khớp chén của xương chậu. Đây là một khớp tròn rất vững chắc, ngoài ra trong khớp có áp suất âm nên phải có một lực khá mạnh tác động thì khớp mới trật ra được. Độ lõm của khớp phụ thuộc vào đầu xương đùi.
Sun khớp của 6 khớp chén có hình móng ngựa, dày phía trên do phải chịu lực nặng khi di chuyền (1,75mm-2,5mm), mong nhất ở phía dưới mặt trong (0,75mm-1,25mm). Ô khớp chén có sụn viền giống như sụn viền khớp vai, sụn viền làm cho 6 khớp chén sâu hơn và làm khớp chậu được vững chắc hơn. Sụn viền rộng nhất ở phía sau dưới của 6 khớp chén (6,4mm + 1,7mm) và dày nhất ở phía trên dưới của 6 khớp chén (5,5 mm + 1,5 mm). Chom xương đùi bằng 2/3 hình cầu nhưng không tròn hoàn toàn như hình cầu.
Chỏm xương đùi hướng lên trên và đi vào trong, ở gần đỉnh của chỏm cầu có hõm để dây chằng chỏm đùi bám vào. Chom xương dui được bao bởi một lớp sụn khớp trừ vùng có dây chang tròn, nơi dày nhất của lớp sụn là ở phía bên trong hơi sau (dày khoảng 2,5mm), đây là nơi chịu nhiều lực khi hoạt động. Bao khớp háng gồm hai lớp là bao xơ và bao hoạt dịch. Bao xơ bám vào vành 6 khớp chén và mặt ngoài sụn viền ở phía xương chậu, còn ở phía xương đùi bao xơ phía trước bám vào đường gian mau, phía sau bám vào đường nối 1⁄4 ngoài và ?⁄4 trong cô xương đùi.
Bao hoạt dịch phủ mặt trong của bao xơ va sụn viền. Ở 6 khớp chén, bao hoạt dịch bọc dây chang chỏm đùi nên dây chang chỏm đùi nằm trong bao xơ và nằm ngoài bao hoạt dịch. Ở xương đùi, bao xơ bám vào xương đùi, bao hoạt dịch lật lên bọc xương đùi tới rìa sụn khớp. Xương chậu Sys Daw xương đói (Nguồn:https://www.net/hip-dysplasia) Hệ thống dây chang gồm có dây chang trong bao khớp và dây chang ngoài bao khớp.
Dây chẳng trong bao khớp đi từ chỏm cầu xương đùi và bám vào hai mép của khuyết vành 6 khớp chén và dây chang ngang, ở phía trong dây chang chỏm đùi có động mạch đi từ hé 6 khớp chén dé nuôi chỏm xương đùi. Dây chang ngoài bao khớp ở mặt trước của hai dây chang gồm dây chang chậu đùi và dây chang mu đùi, dây chang chậu đùi đi từ đai chậu trước dưới đến đường gian mau xương đùi tạo thành hình tam giác có hai cạnh day hơn. Còn dây chang mu dui đi từ ngành trên xương mu đến mau bé xương đùi. Mặt sau có một dây chang là day chang tọa đùi đi từ xương tọa đến mau chuyên bé xương đùi.
Khớp hang chịu một lực rất lớn khi di chuyên chịu lực. Khớp háng có thể chịu được các lực này một phần là do các sớ xương được sắp xếp theo các đường chịu lực, các sớ xương này không có khi mới sinh ra, khi trưởng thành thì các sé này ngày càng nhiều lên và khi lớn tuổi thì cùng với mức độ loãng xương, các sớ này mất dần. Khớp háng được chia làm 3 nhóm theo chức năng là gap-dudi, dang-khép, xoay tròn-xoay khớp hang. Các cơ lớn cần chú ý là cơ thắt lưng chậu gập khớp háng, cơ mông cạn duỗi khớp háng, cơ mông giữa khớp háng, cơ khép dài khép lớn áp khớp háng.
Chức năng của khớp háng Khung chậu giúp làm trụ đỡ cho phần phía sau của cơ thể cùng khớp háng và khớp gối. Khớp hang chịu lực tác động rất lớn khi thú đi đứng hoặc chạy nháy. Léi cầu trên của xương đùi khớp với xương chậu ở 6 khớp chén và được giữ cô định bang dây chang. Khớp nối giữa đầu trên của xương đùi va 6 khớp chén gọi là khớp háng.
Đầu của xương đùi và mặt trong của ô khớp chén được bao bọc bởi một lớp sụn. Chính nhờ có sụn bao bọc nên khớp giữa đầu trên của xương đùi và mặt trong của 6 khớp chén rất khít nhau. Hon thế, trong xoang khớp luôn luôn có một chất hoạt dịch làm cho mặt khớp luôn được bôi trơn, khớp vận động rất dễ dàng. Chức năng bình thường của khớp có thé bị ảnh hưởng bởi (1) sự loạn sản của các tế bào xương và tế bào sụn, (2) chấn thương hoặc (3) các bệnh mắc phải như viêm xương khớp, thấp khớp v.
Bệnh lý khớp háng Theo Fujiki và cs (2007), trượt chỏm xương đùi và sự chậm trễ trong quá trình hóa thành bờ chỏm xương đùi thường có thé nhìn thay được sau 8 tuần tudi, va trong nhiều trường hợp, sự trồi ra của chỏm xương đùi tăng lên khoảng 12 tuần tuổi. Thoái hóa và đứt gãy vi mô sụn khớp, dày lên, viêm và thoái hóa bao khớp, chèn gân và dây chang thường rõ ràng khi chó 5 tháng tuổi (Riser, 1975). Khi xảy ra tình trạng loạn sản ở xương hông, thường xuất hiện 2 tình trạng bất thường: Đầu trên của xương đùi không được “ôm” khít bởi 6 khớp chén, xoang khớp trở nên nông. Do vậy, liên kết ở khớp 6 khớp chén trở nên lỏng lẻo hơn.
Đầu trên của xương đùi và mặt trong của 6 khớp chén mắt đi tính trơn nhẫn và tròn, trở nên xd xì. Vì vậy, khi khớp vận động sẽ có sự cọ xát giữa đầu trên xương đùi và mặt trong 6 khớp chén (hay tăng lực ma sát giữa các xương). Phan ứng của cơ thé trước những biến đổi tại khớp chậu đùi diễn ra theo một số cách. Đầu tiên, có sự sản sinh lớp tế bào sụn mới để thay thế.
Tuy vậy, quá trình tu sửa lớp sụn này diễn ra một cách chậm chap bởi tuần hoàn máu tới tô chức sụn và xương ít phát triển. Hậu quả là khớp bị thoái hóa do sự chà xát giữa các đầu xương, khớp không còn khả năng chịu đựng sức nặng của cơ thé. Quá trình viêm, tôn thương lớp sụn và phản ứng đau cứ thé tiếp diễn, dẫn tới ton thương ở khớp ngày càng trầm trọng. Ghi chú: (A — C) X-quang mở rộng khớp hang và hình ảnh tương ứng của các khớp (D — F) từ các cá nhân khác nhau cho thay khớp bênh lý nhẹ (A và D), bệnh ly trung bình (B và E) và bệnh lý nặng (C và F) những thay đổi.
Hình ảnh dưới kính hiển vi của sụn khớp bình thường (G) và sụn khớp (H, mũi tên). Nguyên nhân gây bệnh lý khớp háng 1. Yếu tố di truyền Loạn sản là tình trạng lỏng lẻo của khớp được nhìn thấy ở nhiều giống chó. Các giống chó lớn xuất hiện bệnh lý loạn sản khớp háng (HD) nhiều hơn, nhiều con đã thé hiện các triệu chứng lâm sang mặc du không tìm thấy các dấu hiệu trên phim X-quang.
Phương thức di truyền lai được cho là một tính trạng trội về đa gen với sự thâm nhập không hoàn toàn. Rất ít gen ảnh hưởng đến khung xương chậu, chủ yếu liên quan đến xương đùi. Những thay đổi trong xương chỉ phản ánh những thay đổi xảy ra trong phần mềm mô (sụn, mô liên kết và cơ). Có rất ít nghỉ ngờ rằng môi trường hoạt động trong kết hợp với kiểu gen dé tạo ra kiều hình.
Kết quả là các yếu tố như dinh dưỡng, tốc độ phát triển và chấn thương / vận động có thể ảnh hưởng sự phát triển của chứng loạn sản. Gần đây, đã có những gợi ý rằng phương thức di truyền có thé nằm trong cấu tạo của dịch khớp. Người ta đã giả thuyết rằng một kết quả giảm nồng độ axit hyaluronic khi giảm độ nhớt của chất lỏng. Giảm sự gắn kết tự nhiên giữa các bề mặt khớp và dẫn đến mối nối lỏng lẻo.
Thú bị ảnh hưởng có khớp háng bình thường khi mới sinh. Trong năm đầu tiên của cuộc đời, bộ xương phát triển nhanh hơn các khối cơ hỗ trợ. Kết quả là các mô mềm không có đủ sức mạnh dé duy trì sự đồng dạng giữa các bề mặt sụn của chỏm xương đùi va 6 khớp chén. Bởi vì điều này, đầu xương đùi và 6 khớp chén kéo ra va kích hoạt một loạt các sự kiện kết thúc bằng chứng loạn sản xương hông và viêm xương khớp.
Các bệnh lý đã được nghiên cứu chỉ tiết bởi (Riser, 1973) người đã ghi lại những thay đổi đã thấy trong năm đầu tiên của cuộc đời. 0-2 tháng: Dây chang tròn (teres ligament) và bao khớp kéo dài vành 6 khớp chén về phía trước mặt lưng (craniodorsal) trở nên ít hơn sắc bén chỏm xương đùi nằm dưới. 2-5 tháng: Đầu và cô xương đùi dây chang tròn đầu xương đùi và bao khớp dày lên, phía trước mặt lưng vành khớp chén trở nên tròn trịa hơn. Các nguyên nhan khác Theo Leppänen và cs (2000) cho rằng sự lỏng lẻo ở khớp và quá trình cốt hóa sụn không đều.
Theo Todhunter và cs (2003), cấu trúc hông hóa thành xương có thể bị biến dạng trong quá trình phát triển do các lực căng ở các khớp bị chậm quá trình cốt hóa sụn. Theo Madsen, (1991); và Vanden Berg-Foels, (2006), các thành phần khớp có thể dễ bị biến dạng và hư hỏng hơn trước khi chúng được hóa cứng hoàn toàn. Theo Madsen va cs (1991); Todhunter va cs (1997); Fuyiki va cs (2007), quá trình cốt hóa sun bat thường va chậm phát triển ở khớp hang đã được xác định ở những con chó 15 ngày tuổi phát triển HD vào thời điểm chúng được 12 tháng tuổi. Theo Grant, và Prockop (1972), thành phan collagen dang nang bị thay đổi đã được xác định ở chó bị trật khop hang bam sinh và chó bị lỏng khớp háng (Skirving và cs, 1984).
Madsen (1997), cho rằng các sợi collagen dạng bao khớp được phát hiện không đồng nhất ở chó Labrador Retriever 8 tháng tuổi bị lỏng khớp háng. Theo Todhunter, và Lust (2003), thành phần collagen bất thường được cho là góp phần làm giảm độ cứng của bao khớp, góp phần gây ra chuyên động quá mức của chỏm xương đùi. Theo thời gian, các lực bất thường dẫn đến sự biến dạng của các cấu trúc khớp. Các khớp bị ảnh hưởng thường phát triển ở các mức độ khác nhau như viêm hoạt dịch, ton thương sụn khớp, xơ cứng và tái tạo xương dưới sụn (Barr và cs, 1987; Buckwalter, và Martin, 2006).
Phương pháp chan đoán trật khớp hang 1. Chan đoán lâm sàng 1.