Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do giun thực quản spirocerca spp gây ra trên chó tại thành phố thái nguyên huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm bệnh do giun thực quản Spirocerca spp trên chó tại Thái Nguyên, đề xuất biện pháp phòng trị hiệu quả.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

78
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích đặc điểmbiện pháp phòng trị bệnh do giun thực quản Spirocerca spp gây ra trên chó tại Thái Nguyên. Mục tiêu chính là cung cấp thông tin khoa học về dịch tễ học, đặc điểm bệnh lý và các phương pháp điều trị hiệu quả. Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ, nơi có tỷ lệ nhiễm bệnh cao do điều kiện khí hậu và môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ký sinh trùng.

1.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra dịch tễ học và phân tích mẫu bệnh phẩm từ chó nhiễm bệnh. Các mẫu được thu thập từ các hộ gia đình nuôi chó tại Thái Nguyên. Phương pháp xét nghiệm phân và mổ khám được áp dụng để xác định tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun thực quản.

1.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm Spirocerca spp ở chó tại Thái Nguyên là 6,08%, với các triệu chứng lâm sàng như nôn khan, chảy nước dãi và tổn thương thực quản. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng điều kiện nuôi thả rông và vệ sinh kém là yếu tố nguy cơ chính dẫn đến nhiễm bệnh.

II. Đặc điểm bệnh

Bệnh do giun thực quản Spirocerca spp gây ra trên chó có đặc điểm lâm sàng và bệnh lý rõ rệt. Giun ký sinh trong thực quản tạo thành các khối u, gây tổn thương nghiêm trọng đến hệ tiêu hóa. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến tử vong.

2.1. Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng lâm sàng bao gồm nôn khan, chảy nước dãi, ợ hơi và trong một số trường hợp nặng, chó có thể nôn ra máu. Tổn thương thực quản do giun gây ra cũng dẫn đến khó nuốt và suy nhược cơ thể.

2.2. Tổn thương bệnh lý

Giun thực quản tạo thành các khối u trong thực quản, gây viêm và hoại tử mô. Tổn thương vi thể cho thấy sự xâm nhập của tế bào viêm và thoái hóa niêm mạc thực quản.

III. Biện pháp phòng trị

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả để kiểm soát bệnh do giun thực quản Spirocerca spp gây ra trên chó. Các biện pháp bao gồm cải thiện điều kiện vệ sinh, sử dụng thuốc tẩy giun định kỳ và nâng cao nhận thức của người nuôi.

3.1. Phòng ngừa bệnh

Các biện pháp phòng ngừa bao gồm vệ sinh chuồng trại, hạn chế cho chó tiếp xúc với môi trường ô nhiễm và sử dụng thuốc tẩy giun định kỳ. Ngoài ra, việc giáo dục người nuôi về cách chăm sóc và phòng bệnh cho chó cũng được nhấn mạnh.

3.2. Điều trị bệnh

Điều trị bệnh bao gồm sử dụng các loại thuốc đặc hiệu để tiêu diệt giun thực quản. Các loại thuốc như ivermectin và fenbendazole được khuyến cáo sử dụng. Trong trường hợp nặng, phẫu thuật loại bỏ khối u thực quản có thể được áp dụng.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh do giun thực quản spirocerca spp gây ra trên chó tại thành phố thái nguyên huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Vị trí của giun tròn Spirocerca lupi trong hệ thống phân loại động vật học Theo De Ley và Blaxter (2002), giun tròn Spirocerca lupi có vị trí phân loại như sau: Ngành Nematoda Potts, 1932 Lớp Chromadorca Inglis, 1983 Phân lớp Chromadoria Pearse, 1942 Bộ Rhabditida chitwood, 1933 Phân bộ Spirurina Railliet and Henry, 1915 Liên họ Spiruroidea Railliet et Henry, 1915 Họ Spirocercidae Chitwood and Wehr, 1932 Giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911 Loài Spirocerca lupi Rudolphi, 1809 Phạm Sỹ Lăng và cs. (1993), Nguyễn Thị Lê và cs.

(1996), Ngô Huyền Thúy (1998) đã thống kê các loài giun tròn tìm thấy ở chó Việt Nam, gồm: Toxocara canis (T. canis), Ancylostoma caninum (A. caninum), Spirocerca lupi (S. lupi), Trichocephalus vulpis (T.

vulpis), Uncinaria stenocephala (U. stenocephala), Toxascaris leonina (T. lupi phân bố phổ biến ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt nhiều ở các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới. (2014) cho biết, nhiều loài giun tròn ký sinh ở chó đã được phát hiện như Ancylostoma caninum, Ancylostoma tubaeforme, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala, Toxocara canis, Toxocara mystax, Spirocerca lupi, Trichocephalus vulpis, Dioctophyme renale.

5 Võ Thị Hải Lê (2012) đã nghiên cứu và phát hiện được 7 loài giun tròn ký sinh trên chó ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ, Việt Nam: Spirocerca lupi ký sinh ở thực quản và dạ dày; Trichocephalus vulpis ký sinh ở manh tràng; Toxocara canis, Toxascaris leonina ký sinh ở ruột non và dạ dày; Ancylostoma caninum, Ancylostoma braziliense, Uncinaria stenocephala ký sinh ở ruột non. Đặc điểm hình thái, kích thước Các tác giả Brodey R. (1977), Nguyễn Thị Lê và cs. (1996), Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), Phạm Sỹ Lăng và cs.

(2009), cho biết: Spirocerca lupi (S. lupi) có màu đỏ, miệng nhỏ hình 6 cạnh. Thực quản kép, phần trước được cấu tạo bằng tổ chức cơ, phần này dài. Phần sau được cấu tạo bằng tổ chức tuyến, phần này ngắn hơn.

+ Giun đực dài 30 - 54 mm, chiều ngang rộng nhất 0,76 - 0,92 mm. Phần thực quản cơ dài 0,52 - 0,66 mm, chỗ rộng nhất 0,12 - 0,16 mm, phần tuyến dài 4,24 - 8,61 mm, chỗ rộng nhất 0,26 - 0,41 mm. Đuôi dài 0,36 - 0,47 mm. Mút đuôi có cánh bên, có 4 đôi núm trước huyệt và 2 đôi núm sau huyệt, có hình que; ngoài ra còn 1 núm đơn ở trước lỗ huyệt và 5 núm nhỏ khác ở gần mút đuôi.

Có hai gai giao hợp không bằng nhau: gai trái mảnh, dài 2,45 - 4,91 mm, gốc gai hơi phình rộng, mút gai nhọn; gai phải ngắn và mập hơn, dài 0,61 - 0,76 mm, gốc gai hơi phình rộng, mút gai tù. Gai điều chỉnh hình móc, cong, dài 0,12 - 0,13 mm, chỗ rộng nhất 0,08 - 0,9 mm. + Giun cái dài 54 - 80 mm, chiều ngang rộng nhất 0,96 - 1,16 mm. Phần thực quản cơ dài 0,60 - 0,67 mm, chiều ngang rộng nhất 0,11 - 0,14 mm, phần thực quản tuyến dài 6,63 - 6,78 mm, chiều ngang rộng nhất 0,38 - 0,43 mm.

Đuôi ngắn, dài 0,17 - 0,2 mm. Lỗ sinh dục cái nằm phía trước thân, gần cuối thực quản. Hai đầu cơ thể giun hơi thót lại, toàn thân có màu đỏ máu. Trứng rất nhỏ, vỏ mỏng, hình bầu dục, hai cạnh bên gần như song song với nhau, kích thước 0,035 - 0,039 x 0,014 - 0,023 mm, bên trong có chứa ấu trùng.

Giun tròn Spirocerca lupi Rudolphi, 1819 1. Phần đuôi con cái; 4. Phần đuôi con đực (Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Thị Quyên, 2017) Hình 2. Giun Spirocerca lupi Hình 2.

Trứng giun Spirocerca lupi (Nguồn: Roger Rodríguez - Vivas và cs. Chu kỳ sinh học Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012), chu kỳ phát triển của ký sinh trùng là toàn bộ quá trình phát triển, thay đổi qua những giai đoạn khác nhau của đời sống ký sinh trùng, kể từ khi nó là mầm sinh vật đầu tiên, cho đến khi nó có khả năng sản sinh ra mầm sinh vật mới, tạo ra một thế hệ mới. Nguyễn Thị Lê và cs. (1996), cho biết chu kỳ sống của giun thực quản Spirocerca lupi rất đa dạng, chu trình phát triển có sự thay đổi vật chủ.

Loài giun tròn S. lupi ký sinh ở đường tiêu hóa của chó, phát triển gián tiếp. Chó là vật chủ cuối cùng của giun, giúp giun hoàn thành vòng đời và ký sinh ở giai đoạn thành thục. (2014) cho biết: Ký chủ cuối cùng của loài S.

lupi là chó nhà, chó sói, cáo; ký chủ trung gian là côn trùng cánh cứng ăn phân súc vật, thuộc các giống Scarabaeus, Geotrupes và Copris; một số loài chim, chuột và bò sát đóng vai trò là ký chủ dự trữ. Giun trưởng thành ký sinh ở dạ dày, thực quản, thành động mạch chủ, tổ chức lâm ba, xoang ngực và phổi của ký chủ cuối cùng. Theo nghiên cứu của Oryal và cs (2008), ở Iran trong tự nhiên có các loài chó sói, chó fox, chó sói đồng cỏ, chó rừng thường nhiễm S. Bọ cánh cứng là ký chủ trung gian chính của loài này.

Giun trưởng thành ký sinh trong các u, kén ở dạ dày và thực quản, đẻ trứng, bên trong có chứa ấu trùng, trứng theo các lỗ dò ở kén, đi vào xoang thực quản hoặc dạ dày, theo phân ra môi trường bên ngoài, được các ký chủ trung gian là bọ hung ăn phân như Scarabaeus sacer, Copris lunaris. nuốt vào, ở đường tiêu hóa của các ký chủ trung gian, ấu trùng thoát ra khỏi trứng, vào xoang đại thể. Ở đó, chúng lột xác hai lần và trở thành ấu trùng có sức gây bệnh. Khi chim, chuột và các loài bò sát ăn phải ký chủ trung gian mang ấu trùng có sức gây bệnh, ấu trùng được giải phóng, chui vào thành thực quản, dạ dày, ruột và tạo thành kén tại đó.

Lúc này chim, chuột và bò sát trở thành ký chủ chứa ấu trùng giun thực. Trong cơ thể chó, ấu trùng xâm nhập vào thành dạ dày, di chuyển đến các động mạch dạ dày. Sau đó ấu trùng đi ngược dòng lên động mạch chủ. Ở động mạch chủ, chúng có thể cư trú tới 3 tháng và phát triển thành ấu trùng kỳ 4.

Ấu trùng này di chuyển trong thành động mạch chủ và gây tổn thương nghiêm trọng. Sự di chuyển này có thể dẫn đến động mạch chủ bị phình ra, chỗ phình có thể vỡ bất cứ lúc nào dẫn đến chó bị chết một cách đột ngột. 8 Trải qua quá trình lột xác lần cuối, các ấu trùng này di chuyển đến được lớp dưới niêm mạc thực quản, chúng ký sinh tại đây, tạo nên các khối u thực quản và phát triển thành giun trưởng thành. Con cái đẻ trứng, trứng qua lỗ nhỏ ở niêm mạc vào thực quản rồi theo phân chó ra ngoài.

Thời gian hoàn thành vòng đời của giun S. lupi là 5 - 6 tháng. Chu kỳ sinh học của giun tròn Spirocerca lupi (Nguồn: Clinton M. Austin1 và Dawie J Kok, 2013) 1.

Dịch tễ học - Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ: Điều kiện thời tiết khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của trứng giun tròn ở ngoài ngoại cảnh, sự phát triển của các ký chủ trung gian và ký chủ cuối cùng. Coggins (1998) cho biết, chó nhiễm giun tròn S. lupi ở tất cả các tháng trong năm, nhưng tỷ lệ nhiễm cao hơn khi thời tiết ấm áp và tỷ lệ nhiễm thấp hơn trong mùa lạnh. 9 Phan Địch Lân (2005), Brown G.

(2014) đã nhận xét: ở chó, sự lây nhiễm giun tròn S. lupi xảy ra quanh năm, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong điều kiện nóng ẩm, nhiệt độ môi trường 20 - 30oC rất thích hợp để trứng phát triển thành trứng hoặc ấu trùng có sức gây bệnh. Bệnh khối u thực quản ở chó và các thú ăn thịt do S.

lupi gây ra phân bố ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới: Hy Lạp (Mylonakis và cs., 2001); Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ (Kumar, 1998; Ramachandran và cs., 1984), Pakistan (Anataraman and Krishna, 1966), Israelm (Mazaki và cs., 2001), miền Nam nước Mỹ (Dixon và McCue, 1967), Brazil (Oliviera và cs., 2001), Kenya (Brodley và cs., 1977) và Nam Phi (Lobetti, 2000). Đây là một căn bệnh địa phương gặp nhiều ở những vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và cận nhiệt đới (dẫn theo Oryan và cs. lupi đã được tìm thấy ở chó nhà, chuột rừng tại một số tỉnh thuộc Bắc bộ và Nam bộ (Houdemer, 1925). Những năm gần đây, các cuộc điều tra ký sinh trùng ở chim và thú đã xác nhận trong S.

lupi ký sinh ở chó, chuột rừng và cả gà nhà tại Quảng Ninh, Nghĩa Lộ, Hà Tĩnh, Hà Bắc (Trịnh Văn Thịnh, 1963, 1966). - Yếu tố tuổi của ký chủ: Phan Địch Lân (2005), Brown G., (2014) cho rằng, tuổi của chó càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm S. lupi càng giảm. Một điều dễ nhận thấy là, tình trạng nhiễm bệnh liên quan đến sức đề kháng của cơ thể, chó nhỏ có sức đề kháng thấp nên tính cảm thụ với giun tròn S.

Ngoài ra, một số ấu trùng giun tròn có khả năng xâm nhập qua hệ tuần hoàn của chó mẹ vào bào thai, do đó chó con sau khi sinh ra đã mang sẵn mầm bệnh. Tuy nhiên tác giả đã nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun tròn S. lupi và công bố kết quả khác với nhận xét của hai tác giả trên. Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Huyền Thúy (1996), tỷ lệ nhiễm giun tròn S.

lupi tăng dần theo tuổi, chó trên 1 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm là 87%. Tác 10 giả cho rằng có sự khác nhau về số loài và tỷ lệ nhiễm ở 4 giống chó là do điều kiện chăn nuôi, vệ sinh thú y và tập quán chăn nuôi khác nhau. Nếu một giống chó được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, nuôi trên nhà cao tầng thì giống chó đó ít bị lây nhiễm giun, sán (ví dụ chó Bắc Kinh và chó Nhật). Ngược lại, giống chó được chăm sóc nuôi dưỡng kém, nuôi thả rông, điều kiện vệ sinh thú y kém, môi trường xung quanh bị ô nhiễm thì có tỷ lệ mắc bệnh cao (ví dụ chó nội và chó Bergie).

Theo Đỗ Hải (1972), chó già có tỷ lệ nhiễm S. lupi cao hơn chó non. Nghiên cứu của Oryan và cs (2008) cho thấy, chó trên 1 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm là 23,5%, chó dưới 1 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm S. - Yếu tố giống, loài và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng: Giống, loài và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ với nhau.

Các phương thức nuôi khác nhau thì cơ hội tiếp xúc với mầm bệnh khác nhau nên tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn ở chó cũng khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm và biện pháp phòng trị bệnh do giun thực quản Spirocerca spp trên chó tại Thái Nguyên là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích đặc điểm sinh học, dịch tễ học và các biện pháp phòng trị hiệu quả đối với bệnh giun thực quản Spirocerca spp ở chó tại khu vực Thái Nguyên. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về chu kỳ sống của loài giun này, các triệu chứng lâm sàng, cũng như đề xuất các phương pháp điều trị và phòng ngừa bệnh hiệu quả. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các bác sĩ thú y, nhà nghiên cứu và người nuôi chó, giúp họ hiểu rõ hơn về căn bệnh này và cách quản lý nó một cách khoa học.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh ký sinh trùng khác ở chó, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bệnh do demodex canis gây ra trên chó tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị, nghiên cứu này tập trung vào bệnh do Demodex canis, một loại ký sinh trùng phổ biến khác. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản spirocerca lupi ở chó tại thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên và sử dụng thuốc điều trị cung cấp thêm thông tin chi tiết về đặc điểm dịch tễ và phương pháp điều trị bệnh giun thực quản. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh lý và lâm sàng bệnh do sán dây taenia hydatigena gây ra ở chó tại tỉnh thái nguyên và biện pháp phòng trị sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bệnh sán dây, một vấn đề sức khỏe khác thường gặp ở chó.