Chương 1: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển xuất khẩu nông sản của quốc gia trong điều kiện hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN Chương 3: Thực trạng phát triển xuất khẩu nông sản ở nước CHDCND Lào trong điều kiện hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN Chương 4: Phương hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu nông sản của nước CHDCND Lào trong điều kiện hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN 10 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨULIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Phát triển xuất khẩu nông sản đã nhận được sự quan tâm của không chỉ các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, với các khía cạnh tiếp cận khác nhau, những phương pháp nghiên cứu khác nhau được áp dụng, cụ thể, một số nội dung được nghiên cứu theo mảng vấn đề đã được thực hiện như sau: Nghiên cứu các vấn đề về lý luận của xuất khẩu nông sản, các công trình nghiên cứu liên quan đến hội nhập, các công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển xuất khẩu nông sản trong điều kiện hội nhập. Cụ thể từng nội dung như sau: 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan về lý luận phát triển xuất khẩu nông sản Theo Ngô Thắng Lợi (2013), trích dẫn về tư tưởng kinh tế của Adam Smith mỗi quốc gia đều có những nguồn lực và tài nguyên sẵn có của mình như: đất đai, lao động, nguồn vốn, khoa học - công nghệ và kinh nghiệm sản xuất - kinh doanh… Như vậy, các quốc gia cần tiến hành sản xuất chuyên môn hóa những mặt hàng nào đó mà họ có lợi thế tuyệt đối về các nguồn lực, sau đó tiến hành trao đổi với các nước khác thì hai bên đều có lợi. Ông cho rằng, hai quốc gia trao đổi thương mại với nhau là dựa trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi, lợi ích của thương mại bắt nguồn từ lợi thế tuyệt đối của một quốc gia.
Từ lập luận đó, Adam Smith chủ trương là phải tự do kinh doanh vì mỗi cá nhân và doanh nghiệp đều có mục đích thu lợi nhuận tối ưu. Trong khi đó, tư tưởng kinh tế của David Ricardocho rằng: Mỗi nền kinh tế địa phương sẽ có lợi trong việc chuyên môn hóa một hay một số sản phẩm có lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh có thể đạt được khi các quốc gia tập trung chuyên môn hóa và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi nhuận lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều có lợi. Dù cho mỗi nước có thể có hiệu suất tuyệt đối cao hơn hoặc thấp hơn nước kia nhưng mỗi nước đều có lợi thế so sánh nhất định về những điều kiện sản xuất khác.
Theo Đỗ Đức Bình và cộng sự (2013) trong nghiên cứu đã trình bày quan điểm kinh tế của R.Forrens, Forrens đã phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thành tư tưởng “lợi thế tương đối” hoặc “lợi thế so sánh”. Năm 1817, David Ricardo lại phát triển tư tưởng “lợi thế so sánh” thành thuyết “lợi thế so sánh” còn gọi là quy luật “lợi thế tương đối”. Cơ sở của lý thuyết này chính là luận điểm của David Ricardo về sự khác biệt giữa các nước không chỉ về điều kiện tự nhiên mà còn về điều kiện sản xuất nói chung nhưng đều có lợi khi chuyên môn hóa sản xuất một sản phẩm nào đó và cùng tham gia vào thương mại quốc tế. 11 Đồng thời, trong nghiên cứu của mình Đỗ Đức Bình và cộng sự (2013) đã phân tích học thuyết Hecksher- Ohlin: Một nước sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn của nước đó và nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu dắt và tương đối khan hiếm ở quốc gia đó.
Hay nói một cách khác một quốc gia tương đối giàu lao động sẽ sản xuất hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn. Về bản chất học thuyết Hecksher- Ohlin căn cứ về sự khác biệt về tình phong phú và giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất, là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về giá cả tương đối của hàng hoá giữa các quốc gia trước khi có các hoạt động xuất khẩu để chỉ rõ lợi ích của các hoạt động xuất khẩu. sự khác biệt về giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất và giá cả tương đối của các hàng hoá sau đó sẽ được chuyển thành sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của hàng hoá. Sự khác biệt về giá cả tuyệt đối của hàng hoá là nguồn lợi của hoạt động xuất khẩu.
Nói một cách khác, một quốc gia dù ở trong tình huống bất lợi vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này các quốc gia tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế tương đối và nhập khẩu những mặt hàng không có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn hoá trong sản xuất này làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất, giúp tiết kiệm được những nguồn lực như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên… trong quá trình sản xuất hàng hoá. Chính vì vậy trên quy mô toàn thế giới thì tổng sản phẩm cũng sẽ tăng.
Samuelson chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng các yếu tố chuyên biệt trong các ngành của các quốc gia khác nhau đã tạo ra cung tương đối của từng quốc gia cũng sẽ khác nhau. Từ đó tạo ra sự chênh lệch tương đối của giá cả và đây chính là lợi ích thu được từ thương mại quốc tế. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Trần Bình Trọng (2003) đã phân tích mô hình Samuelson, mô hình của Samuelson đã khắc phục được một số hạn chế của mô hình Ricardo. Ông chỉ ra rằng cơ sở của thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về nguồn lực trong phát triển kinh tế giữa các nước.
Do những điều kiện về tự nhiên, khoáng sản, truyền thống lịch sử khác biệt ở mỗi nước đã cho phép người ta sản xuất được những sản phẩm đặc thù để đem bán trên thị trường quốc tế để rồi dùng số tiền đó lại đi mua những thứ đặc thù của nước khác mà mình không có điều kiện sản xuất hoặc nếu sản xuất thì chi phí sẽ cao hơn. Qua hành vi đó mỗi quốc gia sẽ thu được lợi ích. Đó chính là lợi ích từ thương mại quốc tế đem lại. Về xuất khẩu nông sản nói riêng, theo quan điểm của các nhà nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau có những kết luận khác nhau: 12 Theo Nguyễn Đình Long và cộng sự (1999), trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề cập nhiều nội dung khác nhau liên quan đến vấn đề lợi thế của nông sản xuất khẩu Việt Nam như: Một số vấn đề lý luận và sự vận dụng vào phân tích lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu nông sản.
Trong đó, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của sự vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh trong điều kiện Việt Nam. Vấn đề lợi thế cạnh tranh là nội dung chủ yếu của cuốn sách, trong đó những vấn đề được các tác giả làm rõ: Khái niệm, đặc điểm và chỉ tiêu về lợi thế cạnh tranh đối với hàng nông sản xuất khẩu, biểu hiện trên các nội dung: chất lượng sản phẩm, khối lượng sản phẩm, kiểu dáng mẫu mã, uy tín của sản phẩm, môi trường kinh tế vĩ mô và giá thành sản phẩm. Từ đó, phân tích lợi thế và khả năng cạnh tranh của một số nông sản xuất khẩu chủ yếu là: lúa gạo, cà phê, cao su, chè, điều… và kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy lợi thế của nông sản xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mới dừng lại ở năm 1999.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000) đã đề cập đến rất nhiều vấn đề liên quan đến sự phát triển nói chung của ngành nông nghiệp Việt Nam, cũng như xem xét đến khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã lựa chọn một số mặt hàng nông sản tiêu biểu của Việt Nam để minh họa cụ thể, trong nghiên cứu đó, tác giả lựa chọn một số mặt hàng của Việt Nam để phân tích như: Gạp, đường, hạt điều, thịt lợn, cà phê. Nhóm tác giả phân tích lợi thế cạnh tranh của những mặt hàng này chủ yếu dưới góc độ chi phí sản xuất, khả năng tiếp thị, giá cả. Cũng lựa chọn mảng vấn đề về lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu rộng hơn, nghiên cứu Trong nghiên cứu của mình năm 2011, tác giả Nguyễn Đình Long đã đưa ra những khái niệm cơ bản về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, phân tích những đặc điểm cơ bản về lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh, phân tích những đặc điểm và đưa ra những chỉ tiêu về lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu (gạo, cà phê, cao su, chè và điều), bao gồm các chỉ tiêu về định tính như chất lượng và độ an toàn trong sử dụng, quy mô và khối lượng, kiểu dáng và mẫu mã sản phẩm, phù hợp của thị hiếu và tập quán tiêu dùng, giá thành v.v… và các chỉ tiêu định lượng như: mức lợi thế so sánh (RCA), chi phí nguồn lực nội địa (DRC).
Dựa trên những tiêu chí đó, đề tài đi sâu phân tích các mặt hàng lúa gạo, cà phê, cao su, chè và điều về lợi thế cạnh tranh trên các tiêu chí trong sản xuất, chi phí sản xuất và thị trường tiêu thụ. Trong đó, các số liệu và phương pháp phân tích được sử dụng để làm nổi bật lợi thế cạnh tranh của các mặt hàng này (có so sánh với một số nước). Qua đó, đề tài cũng chỉ ra những yêu tố hạn chế lợi thế cạnh tranh của nhóm mặt hàng này và đề xuất các giải pháp. 13 Nguyễn Thanh Hà (2003) đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đẩy mạnh xuất khẩu trong điều kiện tham gia các liên kết kinh tế quốc tế, nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong khu vực ASEAN và trung quốc trong đẩy mạnh xuất khẩu, đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của AFTA và ảnh hưởng của khu vực này tới xuất khẩu của Việt Nam.
Luận án đã phá họa rõ nét bức tranh hiện trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới nói chung và sang các nước ASEAN nói riêng.