ĐẶT VẤN ĐỀ Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống con ngƣời và sự tồn tại của trái đất. Theo Báo cáo đánh giá hệ sinh thái Thiên niên kỷ [0] “Những lợi ích con ngƣời đạt đƣợc từ các hệ sinh thái bao gồm dịch vụ cung cấp nhƣ thực phẩm, nƣớc sạch, gỗ và lâm sản ngoài gỗ, nhiên liệu …; dịch vụ điều tiết nhƣ điều tiết khí hậu, lũ lụt, phòng chống dịch bệnh, làm sạch nƣớc … dịch vụ hỗ trợ nhƣ chuỗi thức ăn, giữ gìn địa tầng, sản xuất cơ bản …; dịch vụ văn hóa nhƣ thẩm mỹ, tâm linh, giáo dục, giải trí … Việt Nam đƣợc đánh giá là 1 trong 10 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, các hệ sinh thái tự nhiên phong phú. Tuy nhiên, việc bảo vệ và phát triển rừng luôn đứng trƣớc những thách thức to lớn khi mà phần lớn dân cƣ vẫn phải sống dựa vào canh tác nông nghiệp. Nạn chặt phá rừng và chuyển đổi rừng sang mục đích sử dụng khác đang diễn ra ở mức báo động.
Sự suy giảm về tài nguyên, đặc biệt là sự thu hẹp diện tích rừng đang đƣợc coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu và suy thoái môi trƣờng. Trƣớc thực trạng đó, Chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát triển rừng bền vững nhƣ Chƣơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020, …. Mặc dù đã quan tâm đến việc bảo vệ các hệ sinh thái hiện có, trồng bổ sung diện tích rừng các loại, nhƣng chƣa thực sự quan tâm đến việc đánh giá giá trị kinh tế của các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là các hệ sinh thái rừng đặc dụng hiện nay nhằm góp phần tăng cƣờng nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng tại các khu rừng đặc dụng. Vƣờn quốc gia Cát Tiên đƣợc thành lập ngày 13/01/1992 theo quyết định số 08/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Thủ tƣớng Chính phủ).
Vƣờn Quốc gia Cát Tiên (VQG CT) nằm ở phía nam Việt Nam, có diện tích là 72.663,53 ha nằm trên địa bàn 3 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phƣớc. 2 Nằm giữa 2 vùng sinh học địa lý chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Trƣờng Sơn xuống vùng đồng bằng Nam bộ, do vậy hội tụ đƣợc các luồng hệ thực vật, hệ động vật phong phú, đa dạng, đặc trƣng cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thƣờng xanh của các tỉnh miền đông Nam bộ, Việt Nam.Với những đặc trƣng về địa lý, cảnh quan thiên nhiên và các giá trị về đa dạng sinh học, các nguồn gen động, thực vật quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam, toàn cầu, ngày 10/11/2001, tổ chức UNESCO/MAB đã công nhận VQG Cát Tiên là Khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của Thế giới, một mắt xích quan trọng trong hệ thống khu dự trữ sinh quyển toàn cầu. Ngày 04/8/2005 Ban thƣ ký Công ƣớc Ramsar công nhận vùng đất ngập nƣớc Bàu Sấu là Khu Ramsar thứ 1.499 của Thế giới và thứ 2 của Việt Nam với diện tích 13. VQG Cát Tiên đƣợc đánh giá là một VQG thực hiện công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên tốt nhất hiện nay, tuy nhiên chƣa có một nghiên cứu đánh giá nào về các giá trị mà các hệ sinh thái rừng mang lại.Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Đánh giá một số giá trị gia tăng góp phần tăng cường nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển VQG Cát tiên”.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về định giá hệ sinh thái 1. Phân hạng các dịch vụ hệ sinh thái và các giá trị kinh tế Nghiên cứu phân loại các dịch vụ hệ sinh thái theo 4 hạng mục cơ bản bao gồm dịch vụ cung ứng, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ văn hóa [0]. Theo báo cáo đánh giá của Thiên niên kỷ các dịch vụ hệ sinh thái không chỉ tạo ra các hàng hóa và nguyên liệu thô mà còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cuộc sống và các hoạt động sản xuất cơ bản đặc biệt quan trọng đối với phúc lợi của con ngƣời và đối với sự vận hành của nền kinh tế.
Ngày nay các nhà quy hoạch bảo tồn và các nhà hoạch định chính sách cũng sử dụng khái niệm dịch vụ hệ sinh thái theo cách phân loại trên. Các dịch vụ hệ sinh thái gồm: + Dịch vụ cung ứng: thực phẩm, nƣớc sạch, gỗ và sợi, nhiên liệu … + Dịch vụ điều tiết: điều tiết khí hậu, điều tiết lũ lụt, phòng chống dịch bệnh, làm sạch nƣớc … + Dịch vụ hỗ trợ: chuỗi thức ăn, giữ gìn địa tầng, sản xuất cơ bản … Nhu cầu cơ bản của con ngƣời gồm: + An toàn: an toàn cá nhân, đảm bảo tiếp cận nguồn lực, an toàn trƣớc những thảm họa … + Nhu cầu căn bản: Đủ sinh kế, đủ thức ăn, đủ nơi trú ngụ, tiếp cận hàng hóa … + Sức khỏe: thể lực, tinh thần, tiếp cận nguồn nƣớc và không khí sạch … + Các mối quan hệ xã hội tốt: gắn kết xã hội, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau … 4 Tự do lực chọn và hành động: cơ hội có thể đạt những giá trị cá nhân đang có và thực hiện. Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value – TEV) đƣợc sử dụng nhằm tìm hiểu giá trị của đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái trong kinh tế học.Trong hai thập kỷ qua khái niệm TEV đã đƣợc áp dụng rộng rãi trong các quá trình xác định và phân loại các giá trị hệ sinh thái [0] Điểm mới của khái niệm tổng giá trị kinh tế là nó không giới hạn bởi các loại hàng hóa có giá và có thị trƣờng, vốn là các loại hàng hóa mà các nhà kinh tế thƣờng đƣa vào các phân tích của mình và quan tâm tới tất cả những hàng hóa và dịch vụ quan trọng về mặt kinh tế sinh ra từ các dịch vụ hệ sinh thái. Việc nghiên cứu tổng giá trị kinh tế của các hệ sinh thái liên quan tới việc xem xét các đặc điểm của chúng là những hệ thống tổng hợp – kho dự trữ tài nguyên, các dòng dịch vụ và các thuộc tính của hệ sinh thái bao gồm: + Các giá trị trực tiếp: nhƣ nguyên liệu thô và các sản phẩm cơ học làm nguyên liệu cho các quá trình sản xuất, tiêu thụ và kinh doanh chẳng hạn nhƣ những sản phẩm tạo ra thu nhập, năng lƣợng, nơi trú ngụ, thức ăn, dƣợc phẩm và các cơ sở giải trí… + Các giá trị gián tiếp: các chức năng sinh thái giúp duy trì và bảo vệ những điều kiện tự nhiên và con ngƣời nhƣ duy trì chất lƣợng nguồn nƣớc và giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, điều hòa tiểu khi hậu và hấp thụ carbon… + Các giá trị lựa chọn: là những giá trị chƣa biết đến của nguồn gen, các loài động, thực vật hoang dã có tiềm năng sử dụng trong tƣơng lai, một trong số đó hiện nay có thể chƣa đƣợc biết đến, ví dụ phục vụ cho giải trí, cho ứng dụng trong sản xuất dƣợc phẩm, nông nghiệp, công nghiệp, thƣơng mại hoặc các hoạt động phát triển dựa vào nguồn nƣớc.
5 + Các giá trị tồn tại: là giá trị nội tại của hệ sinh thái và các thành phần của nó, không phụ thuộc khả năng sử dụng của chúng ở hiện tại hay tƣơng lai nhƣ tầm quan trọng của văn hóa, thẩm mỹ di sản và tài sản cho thế hệ mai sau. Giá trị sử dụng gồm: các giá trị trực tiếp, các giá trị gián tiếp, các giá trị lựa chọn. Giá trị phi sử dụng: Các giá trị tồn tại. Xác định ước lượng và nhận thức các giá trị hệ sinh thái Thứ nhất, phải xác định và đánh giá đƣợc đầy đủ sự thay đổi của các dịch vụ hệ sinh thái và tác động của nó đối với các nhóm chủ thể khác nhau trong xã hội.
Nhƣ vậy cần phải huy động đầy đủ sự tham gia của các bên liên quan chịu ảnh hƣởng và/hoặc đƣợc hƣởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học bị thay đổi. Thứ hai, phải ƣớc lƣợng và biểu thị đƣợc giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái với phƣơng pháp phù hợp. Có nghĩa là phân tích đƣợc mối liên hệ giữa mức độ và thời điểm có ảnh hƣởng đến thời điểm và địa điểm mà lợi ích và phí tổn của một sự sử dụng cụ thể đa dạng sinh học và các hệ sinh thái đƣợc nhìn nhận, để xác định tác động của các quyết định. Thứ ba, thừa nhận giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái và tìm kiếm giải pháp, nói cách khác là giải quyết những đánh giá thấp về giá trị của dịch vụ hệ sinh thái thông qua các công cụ xây dựng chính sách dựa trên giá trị kinh tế chứng minh.
Một số nghiên cứu đã thực hiện Trƣớc đây, khái niệm về tổng giá trị kinh tế của rừng (Total Economic Value-TEV) đƣợc xem xét rất hạn hẹp. Các nhà kinh tế thƣờng có xu hƣớng chỉ xem xét giá trị của rừng thông qua lƣợng sản phẩm hữu hình mà rừng tạo ra để phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con ngƣời. Tuy nhiên, các sản 6 phẩm có thể sử dụng trực tiếp này chỉ thể hiện đƣợc một phần nhỏ trong tổng giá trị của rừng. Trong thực tế, rừng đã tạo ra một lợi ích kinh tế vƣợt xa giá trị của các sản phẩm hữu hình đang đƣợc buôn bán chính thức trên thị trƣờng.
Với sự ra đời của Nghị định thƣ Kyoto, vai trò của rừng trong việc hấp thụ khí CO2 đã khẳng định: Một khu rừng nguyên sinh có thể hấp thụ đƣợc 280 tấn carbon/ha và sẽ giải phỏng 200 tấn carbon nếu bị chuyển thành đất du canh du cƣ và sẽ giải phóng nhiều hơn một chút nếu đƣợc chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp; Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115 tấn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng bị chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp[0]. Năm 1995, tổ chức FAO cho rằng rừng có tác dụng rất quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy, giảm lƣu lƣợng nƣớc mặt, góp phần làm giảm lũ lụt. Với các giá trị to lớn của rừng về dịch vụ môi trƣờng, nhiều quốc gia đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (Payment for Environment Services – PES) nhằm quản lý bền vững các dịch vụ môi trƣờng rừng.