Luận văn: Đánh giá giá trị gia tăng bảo vệ và phát triển Vườn quốc gia Cát Tiên

Phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên bền vững bằng cách khai thác giá trị gia tăng, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao du lịch sinh thái.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2017

126
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái niệm về định giá hệ sinh thái

1.2. Phân hạng các dịch vụ hệ sinh thái và các giá trị kinh tế

1.3. Xác định ước lượng và nhận thức các giá trị hệ sinh thái

1.4. Một số nghiên cứu đã thực hiện

1.5. Một số nghiên cứu ở Việt Nam

2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.3.1. Khảo sát hiện trạng rừng, chức năng nhiệm vụ của VQG Cát Tiên

2.3.2. Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên

2.3.3. Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát Tiên

2.3.4. Đề xuất một số giải pháp tăng cường nguồn lực tại VQG Cát Tiên

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Khảo sát hiện trạng rừng, chức năng nhiệm vụ của VQG Cát Tiên

2.4.2. Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên

2.4.3. Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát Tiên

2.4.4. Phương pháp điều tra giá trị DLST

2.4.5. Phương pháp điều tra giá trị chi trả DVMTR

2.4.6. Giá trị hấp thụ các bon

2.4.7. Phương pháp nội nghiệp

2.4.8. Phương pháp xử lý thống kê

2.4.9. Phương pháp phân tích, tổng hợp

2.4.10. Phương pháp đánh giá tài nguyên dựa vào thị trường

3. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC

3.1. Lịch sử hình thành và phát triển

3.2. Tổ chức bộ máy

3.3. Đặc điểm tự nhiên

3.3.1. Vị trí, ranh giới

3.3.2. Địa chất - thổ nhưỡng

3.4. Khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Khảo sát hiện trạng rừng, chức năng nhiệm vụ của VQG Cát Tiên

4.1.1. Hiện trạng sử dụng đất

4.1.2. Tài nguyên rừng

4.1.2.1. Hệ thực vật
4.1.2.2. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác
4.1.2.3. Hệ động vật
4.1.2.4. Cảnh quan thiên nhiên

4.1.3. Chức năng nhiệm vụ của VQG Cát Tiên

4.2. Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên

4.2.1. Các dịch vụ HST ở VQG Cát Tiên

4.2.2. Giá trị sử dụng

4.2.3. Giá trị phi sử dụng

4.3. Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG CT

4.3.1. Giá trị cảnh quan (Du lịch sinh thái)

4.3.1.1. Phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh DLST
4.3.1.2. Các hoạt động được chi từ nguồn thu DLST

4.3.2. Chi trả dịch vụ môi trường rừng của VQG CT

4.3.2.1. Người dân hưởng lợi thông qua hoạt động giao khoán bảo vệ rừng
4.3.2.2. Kinh phí chi trả DVMTR

4.3.3. Xử phạt từ các vụ vi phạm Luật BV & PTR

4.3.4. Giá trị hấp thụ các bon

4.4. Đề xuất một số giải pháp tăng nguồn lực tại VQG Cát Tiên

4.4.1. Tăng nguồn lực về tài chính

4.4.2. Tăng cường nguồn nhân lực và vật lực

KẾT LUẬN – TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá tiềm năng phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên

Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên là một kho báu của Việt Nam và thế giới, được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới và vùng đất ngập nước Bàu Sấu là Khu Ramsar có tầm quan trọng quốc tế. Nằm trên địa bàn ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, VQG Cát Tiên sở hữu diện tích rộng lớn với độ che phủ rừng đạt 95,54%, chủ yếu là rừng tự nhiên. Đây là nền tảng vững chắc cho việc bảo tồn đa dạng sinh học và triển khai các mô hình phát triển bền vững. Việc đánh giá các giá trị gia tăng không chỉ giúp tăng cường nguồn lực tài chính mà còn khẳng định vai trò trọng yếu của Vườn trong chiến lược phát triển quốc gia. Các giá trị này bao gồm dịch vụ hệ sinh thái, du lịch, hấp thụ carbon và giá trị văn hóa. Khai thác hiệu quả những tiềm năng này là chìa khóa để phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên một cách toàn diện, hài hòa giữa bảo tồn và sinh kế. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Thìn (2017) đã cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để lượng hóa các giá trị này, mở ra hướng đi mới trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên. Thay vì chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước, VQG Cát Tiên có thể chủ động tạo nguồn thu từ chính những giá trị mà hệ sinh thái rừng mang lại, từ đó tái đầu tư cho công tác bảo vệ và nâng cao đời sống người dân địa phương.

1.1. Hiện trạng đa dạng sinh học và tài nguyên rừng quý giá

VQG Cát Tiên là nơi hội tụ của các luồng hệ thực vật và động vật đặc trưng cho vùng Đông Nam Bộ. Theo thống kê, Vườn là nơi sinh sống của 1.615 loài thực vật, thuộc 710 chi và 162 họ. Hệ sinh thái rừng rất đa dạng, bao gồm rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng tre nứa và các trảng cỏ. Đây là môi trường sống lý tưởng cho nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có các loài quý hiếm như voi châu Á, bò tót, và nhiều loài linh trưởng. Đặc biệt, khu vực đất ngập nước Bàu Sấu là nơi sinh sống của quần thể cá sấu xiêm nước ngọt, một minh chứng cho giá trị bảo tồn đa dạng sinh học ở cấp độ toàn cầu. Tài nguyên rừng phong phú chính là nền tảng cho việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng, từ điều tiết nguồn nước cho hồ thủy điện Trị An đến cung cấp lâm sản ngoài gỗ cho cộng đồng.

1.2. Vai trò cốt lõi của các dịch vụ hệ sinh thái rừng Cát Tiên

Các hệ sinh thái tại VQG Cát Tiên cung cấp bốn nhóm dịch vụ chính. Dịch vụ cung ứng bao gồm nước sạch, gỗ, dược liệu và lương thực. Dịch vụ điều tiết có vai trò cực kỳ quan trọng như điều hòa khí hậu, điều tiết dòng chảy, chống xói mòn và hấp thụ carbon. Dịch vụ văn hóa mang lại giá trị về tinh thần, thẩm mỹ, giải trí và cơ hội cho du lịch sinh thái Cát Tiêngiáo dục môi trường. Cuối cùng, dịch vụ hỗ trợ như tạo lập chu trình dinh dưỡng và duy trì môi trường sống là nền tảng cho tất cả các dịch vụ khác. Việc nhận diện và lượng hóa giá trị của những dịch vụ hệ sinh thái này là bước đi tiên quyết để xây dựng các cơ chế tài chính bền vững, góp phần trực tiếp vào mục tiêu phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên.

II. Thách thức trong bảo vệ và phát triển bền vững VQG Cát Tiên

Mặc dù sở hữu tiềm năng to lớn, công tác bảo vệ và phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Sức ép từ các hoạt động kinh tế - xã hội tại vùng đệm vườn quốc gia ngày càng gia tăng, tạo ra mâu thuẫn giữa nhu cầu sinh kế của người dân và mục tiêu bảo tồn. Các hoạt động như xâm lấn đất rừng, khai thác lâm sản trái phép và săn bắt động vật hoang dã vẫn diễn ra, đe dọa trực tiếp đến tính toàn vẹn của hệ sinh thái. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính cho công tác quản lý, bảo vệ rừng và nghiên cứu khoa học Cát Tiên còn hạn chế, phần lớn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Sự thiếu hụt này ảnh hưởng đến khả năng tuần tra, giám sát, đầu tư cơ sở hạ tầng và triển khai các dự án phát triển bền vững. Để giải quyết những thách thức này, cần có một cách tiếp cận mới, tập trung vào việc tạo ra giá trị gia tăng từ chính tài nguyên của Vườn, biến áp lực thành động lực, và huy động sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn. Đây là bài toán cốt lõi cần lời giải để đảm bảo tương lai cho VQG Cát Tiên.

2.1. Áp lực kinh tế xã hội từ vùng đệm vườn quốc gia

Vùng đệm của VQG Cát Tiên có dân số đông và gia tăng nhanh chóng, trong đó có nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số với đời sống còn nhiều khó khăn. Thu nhập chính của người dân phụ thuộc vào nông nghiệp, nhưng diện tích đất canh tác hạn chế và phương thức sản xuất còn lạc hậu. Tỷ lệ hộ nghèo cao ở một số xã như Phước Cát 2 (19,86%) và Đăng Hà (18,80%) tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên rừng. Vì nhu cầu sinh kế cộng đồng, một bộ phận người dân vẫn phải dựa vào rừng để khai thác gỗ, củi, và các lâm sản khác. Tình trạng chăn thả gia súc tự do trong Vườn hay xung đột giữa người và động vật hoang dã (voi, heo rừng) cũng là những vấn đề nan giải cần được giải quyết.

2.2. Hạn chế về nguồn lực cho công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên

Nguồn kinh phí hoạt động của VQG Cát Tiên chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước, thường không đủ để đáp ứng toàn bộ nhu cầu của công tác quản lý và bảo tồn. Lực lượng kiểm lâm mỏng so với diện tích quản lý rộng lớn (250 km đường ranh giới), gây khó khăn cho việc tuần tra và ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Việc thiếu kinh phí cũng hạn chế các hoạt động nghiên cứu khoa học Cát Tiên, giám sát đa dạng sinh học, và triển khai các chương trình giáo dục môi trường một cách sâu rộng. Để vượt qua rào cản này, việc đa dạng hóa nguồn tài chính thông qua các cơ chế như chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) hay khai thác kinh tế rừng từ du lịch là hướng đi tất yếu.

III. Cách phát triển du lịch sinh thái Cát Tiên theo hướng bền vững

Du lịch sinh thái là một trong những giải pháp quan trọng nhất để tạo ra giá trị gia tăng, góp phần vào mục tiêu kép: bảo tồn và phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên. Thay vì khai thác đại trà, Vườn cần tập trung vào các mô hình du lịch có trách nhiệm, gắn liền với việc nâng cao nhận thức và mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương. Các hoạt động như đi bộ xuyên rừng, xem chim, tham quan các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã không chỉ mang lại trải nghiệm độc đáo cho du khách mà còn là cơ hội để thực hiện công tác giáo dục môi trường. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Thìn (2017) cho thấy doanh thu từ du lịch sinh thái Cát Tiên có xu hướng tăng trưởng ổn định, là nguồn tài chính bổ sung quan trọng cho các hoạt động bảo tồn. Để phát triển bền vững, cần xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, nâng cao chất lượng dịch vụ và đặc biệt là thúc đẩy các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng, đảm bảo người dân địa phương được hưởng lợi và trở thành đối tác tích cực trong việc bảo vệ di sản thiên nhiên.

3.1. Mô hình du lịch dựa vào cộng đồng để cải thiện sinh kế

Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là cách hiệu quả để hài hòa lợi ích kinh tế và bảo tồn. Bằng cách hỗ trợ người dân địa phương cung cấp các dịch vụ như homestay, hướng dẫn viên bản địa, phục vụ ẩm thực truyền thống, và bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, Vườn có thể tạo ra nguồn sinh kế cộng đồng bền vững. Mô hình này không chỉ giúp giảm sự phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng mà còn khuyến khích họ tham gia bảo vệ môi trường sống của chính mình. Hơn nữa, du khách có cơ hội trải nghiệm và tìm hiểu sâu hơn về bảo tồn văn hóa bản địa của các dân tộc Mạ, Stiêng, làm phong phú thêm sản phẩm du lịch của Cát Tiên.

3.2. Nâng cao trải nghiệm du khách qua giáo dục môi trường

Mỗi du khách đến VQG Cát Tiên đều là một đại sứ tiềm năng cho công tác bảo tồn. Do đó, việc lồng ghép các hoạt động giáo dục môi trường vào tour du lịch là vô cùng cần thiết. Các chương trình tham quan có hướng dẫn viên chuyên nghiệp, các bảng diễn giải thông tin về hệ sinh thái, và các hoạt động tương tác tại trung tâm du khách giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học. Khi du khách hiểu rõ hơn về giá trị của khu rừng, họ sẽ có ý thức trách nhiệm hơn và sẵn lòng chi trả cao hơn cho các dịch vụ, góp phần tạo nguồn thu bền vững cho Vườn.

IV. Bí quyết tối ưu hóa giá trị gia tăng từ kinh tế rừng hiện đại

Để phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên một cách toàn diện, cần áp dụng các công cụ kinh tế rừng hiện đại, vượt ra ngoài các giá trị sử dụng trực tiếp. Hai cơ chế tài chính tiềm năng nhất là chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) và khai thác thị trường tín chỉ carbon. Đây là những phương pháp tiên tiến giúp lượng hóa và thương mại hóa các giá trị vô hình của rừng, tạo ra nguồn thu ổn định để tái đầu tư cho công tác quản lý và bảo tồn. Chính sách PFES đã được triển khai và bước đầu cho thấy hiệu quả rõ rệt tại Cát Tiên, giúp cải thiện sinh kế cộng đồng và giảm thiểu các vi phạm luật bảo vệ rừng. Trong khi đó, thị trường carbon mở ra một cơ hội lớn trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu. Việc xây dựng các dự án tín chỉ carbon không chỉ mang lại lợi ích tài chính mà còn nâng cao vị thế của VQG Cát Tiên trên trường quốc tế. Tận dụng hiệu quả hai công cụ này là bí quyết để giải quyết bài toán tài chính cho phát triển bền vững.

4.1. Thực thi hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) là một cơ chế mà các đơn vị hưởng lợi từ dịch vụ của rừng (như các nhà máy thủy điện, công ty nước sạch) sẽ trả tiền cho các chủ rừng để bảo vệ và phát triển rừng. Tại VQG Cát Tiên, nguồn kinh phí này được sử dụng để chi trả cho các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng. Theo số liệu nghiên cứu, chính sách này đã góp phần đáng kể vào thu nhập bình quân của các hộ nhận khoán, giúp họ ổn định cuộc sống và giảm áp lực khai thác rừng. Đồng thời, kết quả khoán bảo vệ rừng cho thấy số vụ vi phạm đã giảm, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên thiên nhiên.

4.2. Khai phá tiềm năng to lớn từ thị trường tín chỉ carbon

Với diện tích rừng tự nhiên rộng lớn, VQG Cát Tiên có khả năng hấp thụ và lưu giữ một lượng carbon khổng lồ. Một khu rừng nguyên sinh có thể lưu giữ tới 280 tấn carbon/ha. Giá trị này có thể được quy đổi thành tín chỉ carbon và bán trên thị trường tín chỉ carbon tự nguyện hoặc tuân thủ. Nguồn thu từ việc bán tín chỉ carbon có thể là một con số rất lớn, tạo ra một nguồn lực tài chính đột phá cho công tác bảo tồn. Để khai thác tiềm năng này, Vườn cần tiến hành các hoạt động kiểm kê, đo đạc trữ lượng carbon một cách chính xác và xây dựng các dự án theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là một hướng đi chiến lược cho kinh tế rừngphát triển bền vững trong tương lai.

V. Kết quả nghiên cứu về các giá trị gia tăng tại VQG Cát Tiên

Nghiên cứu khoa học đóng vai trò then chốt trong việc cung cấp bằng chứng để hoạch định chính sách phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên. Luận văn của Nguyễn Thị Ngọc Thìn (2017) đã lượng hóa một số giá trị gia tăng quan trọng, khẳng định tiềm năng to lớn của các cơ chế tài chính bền vững. Kết quả cho thấy doanh thu từ du lịch sinh thái Cát Tiên không chỉ là một con số mà còn là động lực thúc đẩy kinh tế địa phương. Tương tự, chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đã chứng minh được tác động tích cực kép: vừa cải thiện sinh kế cộng đồng, vừa nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng. Các con số cụ thể về thu nhập của người dân hay sự sụt giảm số vụ vi phạm là minh chứng rõ ràng nhất. Những kết quả này cung cấp cơ sở vững chắc để các nhà quản lý mạnh dạn đầu tư và nhân rộng các mô hình thành công, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và tự chủ về tài chính cho VQG Cát Tiên. Đây là nền tảng của quá trình chuyển đổi từ tư duy bảo tồn thuần túy sang bảo tồn gắn liền với phát triển.

5.1. Lượng hóa giá trị kinh tế từ các dịch vụ hệ sinh thái

Các nghiên cứu đã từng bước lượng hóa giá trị kinh tế của VQG Cát Tiên. Ví dụ, một nghiên cứu năm 2012 ước tính giá trị điều tiết dòng chảy và chất lượng nước lên tới 536,01 tỷ đồng, và giá trị lưu trữ carbon là 175,54 tỷ đồng. Về du lịch, doanh thu từ năm 2011 đến 2016 có sự tăng trưởng, đạt đỉnh vào năm 2014 với hơn 19 tỷ đồng. Những con số này cho thấy giá trị kinh tế khổng lồ mà các dịch vụ hệ sinh thái mang lại, vượt xa những gì được ghi nhận trong các báo cáo tài chính truyền thống. Việc công nhận các giá trị này giúp khẳng định tầm quan trọng của việc đầu tư cho bảo tồn.

5.2. Đánh giá tác động của PFES đến thu nhập và bảo vệ rừng

Chương trình PFES đã tạo ra tác động tích cực rõ rệt. Nguồn kinh phí từ PFES giúp VQG Cát Tiên chi trả cho các hộ dân tham gia khoán bảo vệ rừng. Theo Bảng 4.21 trong nghiên cứu, khoản thu nhập này chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng thu nhập của các hộ nhận khoán, giúp họ trang trải cuộc sống. Quan trọng hơn, việc gắn lợi ích của người dân với việc bảo vệ rừng đã làm giảm đáng kể tình hình vi phạm. Thống kê giai đoạn 2012-2016 cho thấy số vụ vi phạm có xu hướng giảm, chứng tỏ sự thành công của chính sách trong việc huy động sức mạnh cộng đồng cho công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên.

VI. Hướng đi tương lai cho phát triển bền vững VQG Cát Tiên

Để đảm bảo tương lai lâu dài, việc phát triển Vườn Quốc gia Cát Tiên cần một chiến lược tổng thể, kết hợp hài hòa giữa các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Hướng đi trong tương lai không chỉ dừng lại ở việc duy trì các hoạt động hiện có mà phải liên tục đổi mới, sáng tạo để tối ưu hóa các giá trị gia tăng. Một trong những ưu tiên hàng đầu là tích hợp sâu hơn yếu tố văn hóa vào phát triển kinh tế, đặc biệt là bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển các sản phẩm OCOP địa phương gắn với thương hiệu Cát Tiên. Đồng thời, cần đẩy mạnh vai trò của khoa học công nghệ, biến Vườn thành một trung tâm nghiên cứu khoa học Cát Tiên hàng đầu. Việc ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học sẽ giúp Vườn ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức như biến đổi khí hậu và áp lực phát triển. Tầm nhìn dài hạn là xây dựng VQG Cát Tiên thành một mô hình kiểu mẫu về phát triển bền vững, nơi di sản thiên nhiên và văn hóa được bảo tồn trọn vẹn, đồng thời mang lại cuộc sống ấm no cho cộng đồng.

6.1. Tích hợp bảo tồn văn hóa bản địa và sản phẩm OCOP

Các cộng đồng dân tộc Mạ, Stiêng sinh sống tại vùng đệm vườn quốc gia sở hữu một kho tàng văn hóa phi vật thể độc đáo. Việc bảo tồn văn hóa bản địa thông qua các hoạt động du lịch, trình diễn nghệ thuật, và các lễ hội truyền thống không chỉ giúp gìn giữ bản sắc mà còn tạo ra sản phẩm du lịch khác biệt. Bên cạnh đó, cần hỗ trợ người dân phát triển các sản phẩm OCOP địa phương như mật ong rừng, hàng thủ công mỹ nghệ, nông sản đặc hữu. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm này gắn liền với hình ảnh VQG Cát Tiên sẽ giúp nâng cao giá trị và mở rộng thị trường, tạo nguồn sinh kế cộng đồng ổn định.

6.2. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học Cát Tiên ứng dụng

Khoa học là kim chỉ nam cho mọi hoạt động quản lý và phát triển. Cần tăng cường đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học Cát Tiên ứng dụng, tập trung vào các lĩnh vực như giám sát biến động đa dạng sinh học, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, và nghiên cứu các giải pháp phục hồi hệ sinh thái. Việc hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước sẽ giúp nâng cao năng lực và tiếp cận các phương pháp tiên tiến. Kết quả nghiên cứu không chỉ phục vụ công tác quản lý nội bộ mà còn phải được phổ biến rộng rãi, đóng góp vào hệ thống tri thức chung về quản lý tài nguyên thiên nhiênphát triển bền vững của Việt Nam.

05/10/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá một số giá trị gia tăng góp phần tăng cường nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển vườn quốc gia cát tiên

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Các hệ sinh thái rừng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với cuộc sống con ngƣời và sự tồn tại của trái đất. Theo Báo cáo đánh giá hệ sinh thái Thiên niên kỷ [0] “Những lợi ích con ngƣời đạt đƣợc từ các hệ sinh thái bao gồm dịch vụ cung cấp nhƣ thực phẩm, nƣớc sạch, gỗ và lâm sản ngoài gỗ, nhiên liệu …; dịch vụ điều tiết nhƣ điều tiết khí hậu, lũ lụt, phòng chống dịch bệnh, làm sạch nƣớc … dịch vụ hỗ trợ nhƣ chuỗi thức ăn, giữ gìn địa tầng, sản xuất cơ bản …; dịch vụ văn hóa nhƣ thẩm mỹ, tâm linh, giáo dục, giải trí … Việt Nam đƣợc đánh giá là 1 trong 10 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, các hệ sinh thái tự nhiên phong phú. Tuy nhiên, việc bảo vệ và phát triển rừng luôn đứng trƣớc những thách thức to lớn khi mà phần lớn dân cƣ vẫn phải sống dựa vào canh tác nông nghiệp. Nạn chặt phá rừng và chuyển đổi rừng sang mục đích sử dụng khác đang diễn ra ở mức báo động.

Sự suy giảm về tài nguyên, đặc biệt là sự thu hẹp diện tích rừng đang đƣợc coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu và suy thoái môi trƣờng. Trƣớc thực trạng đó, Chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát triển rừng bền vững nhƣ Chƣơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020, …. Mặc dù đã quan tâm đến việc bảo vệ các hệ sinh thái hiện có, trồng bổ sung diện tích rừng các loại, nhƣng chƣa thực sự quan tâm đến việc đánh giá giá trị kinh tế của các hệ sinh thái rừng, đặc biệt là các hệ sinh thái rừng đặc dụng hiện nay nhằm góp phần tăng cƣờng nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng tại các khu rừng đặc dụng. Vƣờn quốc gia Cát Tiên đƣợc thành lập ngày 13/01/1992 theo quyết định số 08/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Thủ tƣớng Chính phủ).

Vƣờn Quốc gia Cát Tiên (VQG CT) nằm ở phía nam Việt Nam, có diện tích là 72.663,53 ha nằm trên địa bàn 3 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phƣớc. 2 Nằm giữa 2 vùng sinh học địa lý chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Trƣờng Sơn xuống vùng đồng bằng Nam bộ, do vậy hội tụ đƣợc các luồng hệ thực vật, hệ động vật phong phú, đa dạng, đặc trƣng cho hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới thƣờng xanh của các tỉnh miền đông Nam bộ, Việt Nam.Với những đặc trƣng về địa lý, cảnh quan thiên nhiên và các giá trị về đa dạng sinh học, các nguồn gen động, thực vật quý hiếm và đặc hữu của Việt Nam, toàn cầu, ngày 10/11/2001, tổ chức UNESCO/MAB đã công nhận VQG Cát Tiên là Khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của Thế giới, một mắt xích quan trọng trong hệ thống khu dự trữ sinh quyển toàn cầu. Ngày 04/8/2005 Ban thƣ ký Công ƣớc Ramsar công nhận vùng đất ngập nƣớc Bàu Sấu là Khu Ramsar thứ 1.499 của Thế giới và thứ 2 của Việt Nam với diện tích 13. VQG Cát Tiên đƣợc đánh giá là một VQG thực hiện công tác bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên tốt nhất hiện nay, tuy nhiên chƣa có một nghiên cứu đánh giá nào về các giá trị mà các hệ sinh thái rừng mang lại.Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Đánh giá một số giá trị gia tăng góp phần tăng cường nguồn lực cho việc bảo vệ và phát triển VQG Cát tiên”.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về định giá hệ sinh thái 1. Phân hạng các dịch vụ hệ sinh thái và các giá trị kinh tế Nghiên cứu phân loại các dịch vụ hệ sinh thái theo 4 hạng mục cơ bản bao gồm dịch vụ cung ứng, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ văn hóa [0]. Theo báo cáo đánh giá của Thiên niên kỷ các dịch vụ hệ sinh thái không chỉ tạo ra các hàng hóa và nguyên liệu thô mà còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cuộc sống và các hoạt động sản xuất cơ bản đặc biệt quan trọng đối với phúc lợi của con ngƣời và đối với sự vận hành của nền kinh tế.

Ngày nay các nhà quy hoạch bảo tồn và các nhà hoạch định chính sách cũng sử dụng khái niệm dịch vụ hệ sinh thái theo cách phân loại trên. Các dịch vụ hệ sinh thái gồm: + Dịch vụ cung ứng: thực phẩm, nƣớc sạch, gỗ và sợi, nhiên liệu … + Dịch vụ điều tiết: điều tiết khí hậu, điều tiết lũ lụt, phòng chống dịch bệnh, làm sạch nƣớc … + Dịch vụ hỗ trợ: chuỗi thức ăn, giữ gìn địa tầng, sản xuất cơ bản … Nhu cầu cơ bản của con ngƣời gồm: + An toàn: an toàn cá nhân, đảm bảo tiếp cận nguồn lực, an toàn trƣớc những thảm họa … + Nhu cầu căn bản: Đủ sinh kế, đủ thức ăn, đủ nơi trú ngụ, tiếp cận hàng hóa … + Sức khỏe: thể lực, tinh thần, tiếp cận nguồn nƣớc và không khí sạch … + Các mối quan hệ xã hội tốt: gắn kết xã hội, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau … 4 Tự do lực chọn và hành động: cơ hội có thể đạt những giá trị cá nhân đang có và thực hiện. Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value – TEV) đƣợc sử dụng nhằm tìm hiểu giá trị của đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái trong kinh tế học.Trong hai thập kỷ qua khái niệm TEV đã đƣợc áp dụng rộng rãi trong các quá trình xác định và phân loại các giá trị hệ sinh thái [0] Điểm mới của khái niệm tổng giá trị kinh tế là nó không giới hạn bởi các loại hàng hóa có giá và có thị trƣờng, vốn là các loại hàng hóa mà các nhà kinh tế thƣờng đƣa vào các phân tích của mình và quan tâm tới tất cả những hàng hóa và dịch vụ quan trọng về mặt kinh tế sinh ra từ các dịch vụ hệ sinh thái. Việc nghiên cứu tổng giá trị kinh tế của các hệ sinh thái liên quan tới việc xem xét các đặc điểm của chúng là những hệ thống tổng hợp – kho dự trữ tài nguyên, các dòng dịch vụ và các thuộc tính của hệ sinh thái bao gồm: + Các giá trị trực tiếp: nhƣ nguyên liệu thô và các sản phẩm cơ học làm nguyên liệu cho các quá trình sản xuất, tiêu thụ và kinh doanh chẳng hạn nhƣ những sản phẩm tạo ra thu nhập, năng lƣợng, nơi trú ngụ, thức ăn, dƣợc phẩm và các cơ sở giải trí… + Các giá trị gián tiếp: các chức năng sinh thái giúp duy trì và bảo vệ những điều kiện tự nhiên và con ngƣời nhƣ duy trì chất lƣợng nguồn nƣớc và giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, điều hòa tiểu khi hậu và hấp thụ carbon… + Các giá trị lựa chọn: là những giá trị chƣa biết đến của nguồn gen, các loài động, thực vật hoang dã có tiềm năng sử dụng trong tƣơng lai, một trong số đó hiện nay có thể chƣa đƣợc biết đến, ví dụ phục vụ cho giải trí, cho ứng dụng trong sản xuất dƣợc phẩm, nông nghiệp, công nghiệp, thƣơng mại hoặc các hoạt động phát triển dựa vào nguồn nƣớc.

5 + Các giá trị tồn tại: là giá trị nội tại của hệ sinh thái và các thành phần của nó, không phụ thuộc khả năng sử dụng của chúng ở hiện tại hay tƣơng lai nhƣ tầm quan trọng của văn hóa, thẩm mỹ di sản và tài sản cho thế hệ mai sau. Giá trị sử dụng gồm: các giá trị trực tiếp, các giá trị gián tiếp, các giá trị lựa chọn. Giá trị phi sử dụng: Các giá trị tồn tại. Xác định ước lượng và nhận thức các giá trị hệ sinh thái Thứ nhất, phải xác định và đánh giá đƣợc đầy đủ sự thay đổi của các dịch vụ hệ sinh thái và tác động của nó đối với các nhóm chủ thể khác nhau trong xã hội.

Nhƣ vậy cần phải huy động đầy đủ sự tham gia của các bên liên quan chịu ảnh hƣởng và/hoặc đƣợc hƣởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học bị thay đổi. Thứ hai, phải ƣớc lƣợng và biểu thị đƣợc giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái với phƣơng pháp phù hợp. Có nghĩa là phân tích đƣợc mối liên hệ giữa mức độ và thời điểm có ảnh hƣởng đến thời điểm và địa điểm mà lợi ích và phí tổn của một sự sử dụng cụ thể đa dạng sinh học và các hệ sinh thái đƣợc nhìn nhận, để xác định tác động của các quyết định. Thứ ba, thừa nhận giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái và tìm kiếm giải pháp, nói cách khác là giải quyết những đánh giá thấp về giá trị của dịch vụ hệ sinh thái thông qua các công cụ xây dựng chính sách dựa trên giá trị kinh tế chứng minh.

Một số nghiên cứu đã thực hiện Trƣớc đây, khái niệm về tổng giá trị kinh tế của rừng (Total Economic Value-TEV) đƣợc xem xét rất hạn hẹp. Các nhà kinh tế thƣờng có xu hƣớng chỉ xem xét giá trị của rừng thông qua lƣợng sản phẩm hữu hình mà rừng tạo ra để phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con ngƣời. Tuy nhiên, các sản 6 phẩm có thể sử dụng trực tiếp này chỉ thể hiện đƣợc một phần nhỏ trong tổng giá trị của rừng. Trong thực tế, rừng đã tạo ra một lợi ích kinh tế vƣợt xa giá trị của các sản phẩm hữu hình đang đƣợc buôn bán chính thức trên thị trƣờng.

Với sự ra đời của Nghị định thƣ Kyoto, vai trò của rừng trong việc hấp thụ khí CO2 đã khẳng định: Một khu rừng nguyên sinh có thể hấp thụ đƣợc 280 tấn carbon/ha và sẽ giải phỏng 200 tấn carbon nếu bị chuyển thành đất du canh du cƣ và sẽ giải phóng nhiều hơn một chút nếu đƣợc chuyển thành đồng cỏ hay đất nông nghiệp; Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng 115 tấn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng bị chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp[0]. Năm 1995, tổ chức FAO cho rằng rừng có tác dụng rất quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy, giảm lƣu lƣợng nƣớc mặt, góp phần làm giảm lũ lụt. Với các giá trị to lớn của rừng về dịch vụ môi trƣờng, nhiều quốc gia đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trƣờng rừng (Payment for Environment Services – PES) nhằm quản lý bền vững các dịch vụ môi trƣờng rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ