CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan 1. Văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại.
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được con người tạo dựng cùng với bề dài lịch sử dân tộc, văn hóa là một khái niệm rộng, liên quan đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của mỗi con người. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Triết học Mác – Lenin thì cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình; biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định” [1, tr433]. Đến năm 1943, chủ tịch Hồ Chí Minh có đưa ra định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn ở và các phương tiện, phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Theo UNESCO: ‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [7, tr259] Theo E. Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả.
Văn hóa không chỉ là những cái chúng ta học được, nó còn là những thứ có sẵn, những gì đã qua mà ta không thể chối bỏ. Dù muốn hay không thì văn hóa nó luôn đi từ quá khứ, mang những thứ từ quá khứ đến hiện tại và tiếp tục học hỏi, tích lũy trong tương lai. Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Xong chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa được Sinh viên: Lê Minh Thư Lớp K20QTDNA 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:PGS. Phạm Thị Tuyết truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Văn hóa doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức nhỏ trong toàn thể xã hội loài người nên văn hóa doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng và là một bộ phận cấu thành nên văn hóa nói chung. Văn hóa doanh nghiệp gắn với văn hóa xã hội là một bước tiến của văn hóa xã hội, là tầng sâu của văn hóa xã hội. Tác giả Georges de Saite Marie đưa ra định nghĩa như sau: “ Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”[8, tr7] Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [2, tr259]. Định nghĩa phổ biến và được dùng rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schien: “Văn hóa công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề môi trường xung quanh” [12, tr32].
Nhìn chung, dù được hiểu bằng nhiều cách khác nhau theo những cách nhìn riêng, nhưng chúng ta có thể hiểu văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên trong doanh nghiệp, tạo nên bản sắc riêng của doanh nghiệp đó. Đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp Doanh nghiệp có nền văn hóa mạnh, nhân viên sẽ ý thức được giá trị cốt lõi của tổ chức, tự họ sẽ có sự cam kết với những giá trị đó và không ngừng phát huy văn hóa của doanh nghiệp, góp sức mạnh nội lực của mỗi cá nhân giúp doanh Sinh viên: Lê Minh Thư Lớp K20QTDNA 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:PGS. Phạm Thị Tuyết nghiệp phát triển bền vững. Văn hóa doanh nghiệp tồn tại khách quan Văn hoá tồn tại ngoài sự nhận biết của chúng ta.
Văn hóa doanh nghiệp được hình thành khi thành lập doanh nghiệp, nó mang đậm dấu ấn phong cách của người sáng lập, lãnh đạo. Những các nhân trong tổ chức là người tạo nên văn hóa của tổ chức đó, dù muốn hay không thì hành động của họ vẫn sẽ ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp. Đặc điểm chung của VHDN cũng như bất kỳ loại hình văn hoá khác là văn hoá tồn tại khi có một nhóm người cùng sống và làm việc với nhau. Vậy, với tư cách là chủ DN hay nhà quản lý, bản thân chúng ta cần nhận thức: VHDN vẫn tồn tại và phát triển dù ta không tác động vào chúng.
Vì vậy, chúng ta nên tác động tích cực để nó mang lại những hiệu quả hoạt động tốt cho chúng ta. Văn hóa doanh nghiệp mang tính lịch sử Văn hóa doanh nghiệp mang tính lịch sử được hình thành trong thời gian dài từ khi thành lập doanh nghiệp và thông qua quá trình hoạt động kinh doanh. Từ khi mới thành lập mỗi doanh nghiệp đã định hướng xây dựng cho mình một nền văn hóa riêng và tích lũy từ từ qua những năm tháng hoạt độngtạo nên 1 nền văn hóa đặc sắc và duy nhất. Tuy nhiên nền văn hóa luôn vận động, thay đổi theo định hướng doanh nghiệp và chịu tác động của môi trường bên ngoài, phù hợp với văn hóa xã hội.
Văn hoá doanh nghiệp mang tính bền vững: Tính bền vững thể hiện giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, là sự khác biệt của một DN có văn hoá mạnh với một DN “phi văn hoá”. Giá trị văn hoá của DN có giá trị nội bộ, giá trị vùng, giá trị quốc gia, giá trị quốc tế. DN càng tôn trọng và theo đuổi những giá trị chung cho cộng đồng càng rộng lớn bao nhiêu thì vai trò của nó càng lớn bấy nhiêu. Văn hoá doanh nghiệp mang tính hệ thống: VHDN được xem xét mọi giá trị trong mối quan hệ mật thiết với nhau.
Tính hoàn chỉnh cho phép phân biệt một nền văn hoá hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị của VHDN. Bản thân các yếu tố văn hoá liên quan mật thiết với nhau Sinh viên: Lê Minh Thư Lớp K20QTDNA 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:PGS. Phạm Thị Tuyết trong những thời điểm lịch sử cũng như trong một thời gian dài. Do vậy, việc xem xét VHDN mang tính hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn một cách đầy đủ nhất về văn hoá nói chung và VHDN nói riêng.
CÁC BIỂU TRƯNG CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Biểu trưng trực quan 1. Đặc trưng kiến trúc Những kiến trúc đặc trưng của một tổ chức bao gồm kiến trúc ngoại thất và kiến trúc nội thất công sở được sử dụng như những biểu tượng và hình ảnh về công ty, để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí của công ty. Kiến trúc ngoại thất như kiến trúc cổng, mặt tiền, trụ sở công ty, bố cục các bộ phận,… Phần lớn những công ty thành đạt hoặc đang phát triển muốn gây ấn tượng đối với mọi người về sự khác biệt, thành công và sức mạnh của họ bằng những công trình kiến trúc đặt biệt và đồ sộ.
Những công trình kiến trúc này được sử dụng như biểu tượng và hình ảnh về tổ chức. Có thể thấy trong thực tế những ví dụ minh họa ở các công trình kiến trúc lớn của các nhà thờ, trường đại học,… ở Mỹ và Châu Âu. Các công trình này rất được các tổ chức, công ty chú trọng như một phương tiện thể hiện tính cách đặc trưng của tổ chức. Những thiết kế nội thất cũng rất được các công ty, tổ chức quan tâm.
Từ những vấn đề rất lớn như tiêu chuẩn hoá về màu sắc, kiểu dáng của bao bì đặc trưng, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, phòng, giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục,… đến những chi tiết nhỏ nhặt như đồ ăn, vị trí công tắc điện, thiết bị và vị trí của chúng trong các phòng… Tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí và được quan tâm. Đặc trưng kiến trúc được các tổ chức rất quan tâm là vì: - Kiến trúc ngoại thất thất có thể có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phản ứng và thực hiện công việc. Ví dụ như kiến trúc nhà thờ tạo ấn tượng quyền lực, thâm nghiêm; chùa chiền tạo ấn tượng thanh bạch, thoát tục; thư viện gây ấn tượng thông thái, tập trung cao độ. Khi khách hàng chưa trải nghiệm sản phẩm của doanh nghiệp thì cái kiến trúc, hình ảnh công ty là thứ tạo nềm tin cho họ theo kiểu “Trông mặt mà bắt hình dong”.
Sinh viên: Lê Minh Thư Lớp K20QTDNA 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD:PGS. Phạm Thị Tuyết - Công trình kiến trúc có thể được coi là một “linh vật” biểu thị một ý nghĩa, giá trị nào đó của một tổ chức, xã hội. Ví dụ như tháp Eiffel của Pháp, Tháp Đôi của Mỹ hay của Malaysia, tháp truyền hình của một số nước, Vạn Lý Trường Thành của Trung quốc, Văn miếu, Chùa Một Cột… đã trở thành hình ảnh, biểu tượng về một giá trị tinh thần quốc gia, địa phương. - Kiểu dáng kết cấu có thể thể hiện được phương châm chiến lược của tổ chức.
- Công trình kiến trúc trở thành một bộ phận hữu cơ trong các sản phẩm của công ty.