CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Hiện nay có rất nhiều tác giả nghiên cứu về việc sử dụng bài tập hoá học trong bồi dưỡng HSG nhằm phát triển tư duy nói chung và tư duy sáng tạo nói riêng cho HS như: 1. Lê Văn Dũng (2001), Phát triển tư duy cho HS thông qua bài tập hoá học, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội. Vũ Anh Tuấn (2004), Xây dựng hệ thống bài tập hoá học nhằm rèn luyện tư duy trong việc bồi dưỡng HSG hoá học ở trường THPT, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội.
Đỗ Mai Luận (2006), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo của HS qua bài tập hoá học vô cơ lớp 11- Ban Khoa học tự nhiên, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Hà Nội. Đỗ Văn Minh (2007), Xây dựng hệ thống bài tập hoá vô cơ nhằm rèn luyện tư duy trong bồi dưỡng HSG trường THPT, Luận văn thạc sĩ khoa học, ĐHSP Hà Nội. Nguyễn Thị Hường (2013), Nâng cao năng lực nhận thức và tư duy của HS thông qua dạy học chương Sự điện li hoá học 11 chương trình nâng cao, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN 6. Tạ Thị Thu Thảo (2014), Sử dụng dạy học khám phá phát triển năng lực tư duy cho HS trong dạy học chương điện li - Hoá học lớp 11, Luận văn thạc sĩ khoa học, Trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN cùng một số luận văn thạc sĩ khác.
Nội dung của các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học, sư phạm hoá học trên chủ yếu nghiên cứu về vấn đề sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển tư duy cho HS ở các khía cạnh, mức độ khác nhau. Tuy nhiên, đến nay còn ít nghiên cứu sâu về vấn đề sử dụng bài tập nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo trong bồi dưỡng HSG ở trường phổ thông. Vì vậy, cần có những công trình tập trung nghiên cứu kĩ về lĩnh vực này, nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của ngành giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ năng động sáng tạo. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tổng quan về bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường phổ thông 1. Bồi dưỡng học sinh giỏi với việc đào tạo nhân tài cho đất nước Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong các nhân tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt”. Nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục là phải phát hiện những HS có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập để bồi dưỡng thành những người có lòng yêu đất nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc; có nền tảng kiến thức vững vàng; có phương pháp tự học, tự nghiên cứu và sáng tạo; có sức khỏe tốt; tiếp tục đào tạo thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế.
Quá trình phát hiện, bồi dưỡng HSG các môn học ở bậc THPT là một quá trình mang tính khoa học nghiêm túc, không chỉ ngày một ngày hai hay vài tháng mà phải có tính chiến lược dài hơi trong suốt cả ba năm học. Đặc biệt đối với môn hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm và là môn học mà ở Việt Nam, HS bắt đầu được nghiên cứu từ năm lớp 8, sau nhiều năm so với các môn học khác nên chỉ có quá trình học tập ở bậc THPT mới cung cấp được tương đối đầy đủ các kiến thức cần thiết cho HS và phát hiện chính xác khả năng học tập của các em, từ đó mới có thể tiếp tục đào tạo thành nhân tài cho đất nước. Những năng lực, phẩm chất của học sinh giỏi hoá học [24] - Năng lực tiếp thu kiến thức, khả năng tự học - Năng lực suy luận logic - Năng lực đặc biệt - Năng lực lao động sáng tạo - Năng lực kiểm chứng - Năng lực thực hành - Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Trước mắt cần xác định những phẩm chất và năng lực quan trọng nhất của một 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com HSG hoá học là: - Có kiến thức hoá học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống. Chính là nắm vững bản chất hoá học của các hiện tượng hoá học.
- Có năng lực tư duy hoá học: Biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá cao, có khả năng sử dụng phương pháp mới (quy nạp, diễn dịch, loại suy…). - Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường mòn. Một số biện pháp phát hiện học sinh giỏi hoá học ở trường THPT [24] GV bồi dưỡng HSG cần phải phát hiện được HSG thông qua các dấu hiệu sau: - HSG có thể học bằng nhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các HS khác. - Mức độ nắm vững kiến thức, kĩ năng một cách đầy đủ, chính xác của HS so với yêu cầu của chương trình hoá học phổ thông.
- Mức độ tư duy, cách xử lý vấn đề của từng HS, khả năng vận dụng kiến thức của HS một cách linh hoạt, sáng tạo. - Những đề xuất, những phương pháp giải mới, ngắn gọn. Tính logic và độc đáo khi trình bày vấn đề. - Thời gian hoàn thành bài kiểm tra nhanh hơn.
Muốn vậy, GV phải kiểm tra toàn diện các kiến thức về lý thuyết, bài tập và thực hành; kết hợp nhiều PPDH, biện pháp, kĩ thuật dạy học như tổ chức các buổi báo cáo chuyên đề, tổ chức cho HS làm việc hợp tác theo nhóm. Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi hoá học ở trường THPT [24] Đối với GV, khi bồi dưỡng những HSG về môn hoá học ta cần thực hiện các biện pháp cơ bản sau: - Hình thành cho HS có kiến thức cơ bản, vững vàng, sâu sắc. Đó là lý thuyết chủ đạo, là các định luật và các quy luật cơ bản của bộ môn. - Rèn luyện cho HS kĩ năng vận dụng các lý thuyết chủ đạo, các định luật, các quy luật của môn học một cách linh hoạt, sáng tạo trên cơ sở bản chất hoá học của sự vật, hiện tượng.
- Rèn luyện cho HS kĩ năng dựa vào bản chất hoá học, kết hợp với kiến thức của môn học khác có được hướng GQVĐ một cách logic gọn gàng. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Rèn luyện cho HS khả năng phán đoán (quy nạp, diễn dịch.) một cách độc lập, sáng tạo giúp HS có cách giải bài tập nhanh hơn, ngắn gọn hơn. - Rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh, giúp các em biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại những dự đoán. - Hướng dẫn HS biết cách tự nghiên cứu tài liệu một cách hiệu quả và xem đó là biện pháp không thể thiếu được trong công tác bồi dưỡng HSG.
Như vậy, đối với GV khi đào tạo những HSG về môn hoá học ta cần hướng dẫn HS học tập để các em được trang bị những kiến thức, những kĩ năng, giúp các em tự học hỏi, tự sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực của mình. Tư duy và tư duy sáng tạo trong dạy học 1. Khái niệm tư duy Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông: “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý”. Theo Tâm lý học, tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao – bộ não người.
“Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết”[10]. Dưới góc độ giáo dục, có thể hiểu TD là hệ thống gồm nhiều ý tưởng, tức là gồm nhiều biểu thị tri thức về một vật hay một sự kiện. Nó dùng suy nghĩ để hiểu hay giải quyết một vấn đề nào đó. Tóm lại, có thể hiểu TD là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con người.
Hoạt động TD đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ nhằm mục tiêu tìm ra các giải pháp trong mọi hoạt động của con người. Những đặc điểm cơ bản của tư duy Những đặc điểm cơ bản của tư duy bao gồm tính có vấn đề, tính khái quát, tính độc lập tương đối, vai trò của tư duy với ngôn ngữ và nhận thức con người. Tư duy mà con người là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống “có vấn đề”. Tuy nhiên, vấn đề đó phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành nhiệm vụ cá nhân (cái gì đã biết, cái gì còn cần tìm kiếm), đồng thời nằm trong ngưỡng hiểu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biết của cá nhân và là nhu cầu động cơ tìm kiếm của cá nhân.
Tiếp theo, tính khái quát của TD luôn phản ánh cái bản chất nhất chung cho nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại, một phạm trù, đồng thời trừu xuất khỏi những sự vật đó những cái cụ thể, cá biệt. Ngoài ra, TD luôn phản ánh gián tiếp hiện thực. Trong TD, có sự thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính. Cuối cùng, ngôn ngữ có vai trò cố định lại các kết quả của TD và nhờ đó làm khách quan hoá chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể TD [26].
Các thao tác của tư duy Việc hình thành và vận dụng các khái niệm, cũng như việc thiết lập các mối quan hệ giữa chúng được thực hiện trong quá trình sử dụng các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoá kết hợp với các PP hình thành phán đoán mới là quy nạp, diễn dịch, suy diễn và loại suy. Các thao tác TD cơ bản được xem như quy luật bên trong của mỗi hành động TD. Trong thực tế TD, các thao tác đan chéo vào nhau mà không theo trình tự máy móc. Tuy nhiên, tuỳ theo từng nhiệm vụ TD, điều kiện TD, không phải mọi hành động TD nào cũng nhất thiết phải thực hiện hết tất cả các thao tác trên [26].