Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển TTHTCĐ theo định hướng XHHT. - Chương 2: Cơ sở thực tiễn về quản lý phát triển TTHTCĐ theo định hướng xã hội học tập. - Chương 3: Một số giải pháp quản lý phát triển TTHTCĐ theo định hướng XHHT ở Thái Bình. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG THEO ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI HỌC TẬP 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đề tài: “Quản lý phát triển Trung tâm học tập cộng đồng theo định hướng XHHT” liên quan trực tiếp tới xu thế HTSĐ, XHHT, trung tâm học tập cộng đồng và quản lý phát triển TTHTCĐ. Dưới đây là tổng quan các công trình nghiên cứu trong các lĩnh vực trên ở trong nước và trên thế giới. Các công trình nghiên cứu về học tập suốt đời và xã hội học tập Tháng 4 năm 1996, với tên gọi “Học tập, một kho báu tiềm ẩn” UNESCO công bố công trình của Jacque Delors, nguyên chủ tịch Ủy ban châu Âu (EU) nhiệm kỳ 1985-1995 [27] và được thế giới thừa nhận như một triết lý của giáo dục thế kỷ XXI. Trong công trình này tác giả đã dành chương V để phân tích việc HTSĐ.
Người ta có thể tóm tắt triết lý của một nền giáo dục cần thiết cho thế kỷ XXI vào một mạnh đề cơ bản sau: “Giáo dục phải dựa trên 4 trụ cột: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người”. Bốn trụ cột này phải được đặt trên nền tảng HTSĐ và xây dựng XHHT. Từ đây xuất hiện 2 đặc trưng mới của giáo dục thế kỷ XXI là: HTSĐ và XHHT. HTSĐ được coi như là chìa khóa để bước vào thế kỷ XXI, nó vượt qua cách hiểu thông thường về giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy, nó hình thành một quan niệm mới về giáo dục là giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục.
HTSĐ gắn với quan niệm mới tiên tiến quan niệm về một XHHT. Ở một XHHT có thể tạo ra cơ hội học tập và phát huy mạnh mẽ tiềm năng của mỗi con người. Cùng với công trình đã nêu ở trên, còn có nhiều nghiên cứu đề cập và nhấn mạnh tới xu thế HTSĐ trong điều kiện hiện nay. Ví dụ, các nhà tương lai học, giáo dục học trên thế giới như Toffler Alvin [126,127,128], Bennis, Warren Stephen Covey, Gary Hamel, Kevin Kelly, Philip Kotler, John Kotter Michael Porter, Perer Senge [5], Thomas L.
đã phân tích xã hội hiện đại, được xây dựng trên nền tảng của hệ thống tri thức khoa học phát triển nhanh, biến đổi mạnh và sự thông tin toàn cầu. Các nhà tương lai học trên đã 9 đưa ra dự báo nền giáo dục mới hoàn toàn khác với nền giáo dục truyền thống mà đặc trưng cơ bản của nó là sự lỗi thời nhanh chóng của kiến thức cũng như của các ngành sản xuất trong xã hội. Do đó, nền giáo dục mới phải hướng đến sự giáo dục suốt đời. Đi liền với việc nghiên cứu về xu thế HTSĐ của nền giáo dục mới, nhiều nhà khoa học đã tập trung làm sáng tỏ vấn đề XHHT.
Các nhà khoa học đã tiếp cận về XHHT theo nhiều cách khác nhau, có thể kể đến ba cách tiếp cận chính: Cách tiếp cận logic. Điển hình cho cách tiếp cận logic là Faure và cộng sự [137]. Faure, Torsten Husen và Steward Ranson (1998). Theo cách tiếp cận quá trình, Donald Schon trong các năm 1963, 1967, 1973 đã cho rằng xã hội và tất cả các cơ quan, tổ chức trong nó có những quá trình biến đổi liên tiếp.
Do đó, cần phải hiểu, định hướng, gây ảnh hưởng và quản lý được những sự thay đổi liên tiếp đó [140]. Tiêu biểu cho cách tiếp cận theo nhu cầu là Rober M. Hutchins khẳng định sự cấp thiết cần phải hình thành XHHT và giáo dục phải tạo điều kiện cho việc học tập của con người diễn ra liên tục [139]. Công trình của Donal Shon [178], với ý tưởng các công ty, các phong trào xã hội và các cơ quan đều phải là “các hệ thống học tập” (learning system).
Trong các công trình của mình, Robert M.Hutchins [170] đã phân tích cơ sở xã hội của của một XHHT. Một trong những công trình nghiên cứu về XHHT đáng quan tâm nhất là của Hutsen [169], nghiên cứu vai trò của sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật với sự ra đời của XHHT, đặc biệt từ những năm 40 của thế kỷ trước. Một trong những công trình được nhiều người đánh giá cao là của Richard Ewards [166]. Theo Richard Ewards, XHHT là một xã hội đảm bảo tự do dân chủ và bình đẳng cho mọi người, đặc biệt là mọi người dân đều tạo cho mình khả năng tự học và tự học suốt đời, từ đó nẩy sinh ra động cơ học tập, nhu cầu học tập là một động lực quan trọng thúc đẩy sự học ngày càng cao.
Về mô hình XHHT, Roger Boshier đã đề xuất một mô hình XHHT cho phép con người có thể tham gia học tập trong suốt cuộc đời của họ [140]. Hughes và Tight (1998:184) bằng cách tiếp cận theo nguồn cảm hứng, mô tả XHHT như là một xã hội mà các quốc gia và khu vực đòi hỏi cần phải có để duy trì cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu ngày càng tăng [50]. Còn Edwards [137], năm 1997 đã đưa ra 3 mô hình XHHT. Các mô hình XHHT do Edwards đề xuất tuy có nhiều điểm khác nhau nhưng 10 tổng hợp lại chúng đều đề cập tới các khía cạnh cơ hội và điều kiện học tập của người dân.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên, đã giải quyết được các nội dung cơ bản của vấn đề xu thế HTSĐ và xây dựng một XHHT như tính tất yếu của thời đại. Đến những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, xu thế HTSĐ và một XHHT đang được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới. Đơn cử một số nước như sau: Tại Mỹ, trong báo cáo của Ủy ban Giáo dục chất lượng cao đã gửi Quốc hội (tháng 4 năm 1984), trong đó nhấn mạnh: Cần phải dốc sức vào việc giáo dục suốt đời, mở ra phong trào giáo dục với mục tiêu xã hội hóa giáo dục. Ngày 18 tháng 4 năm 1991, trong chiến lược giáo dục của kế hoạch năm 2000 của Mỹ lại nhấn mạnh thêm: HTSĐ kiến thức, kỹ thuật và hô hào mở cuộc vận động cả nước Mỹ thành một nước “cả nước đi học”.
Tại Pháp, tư tưởng HTSĐ lần đầu tiên được đề xuất vào năm 1960 bởi Paolo Langơ, nhà quản lý giáo dục. Năm 1972 Ủy ban quốc tế do Thủ tướng Pháp chủ trì đã đưa ra báo cáo với tên gọi: “Sự tồn tại của học hội thế giới, giáo dục hôm nay và ngày mai” đã chính thức xác nhận tính pháp lý của tư tưởng HTSĐ không chỉ ở Pháp mà trên phạm vi quốc tế. Từ đó quan niệm HTSĐ ngày càng thâm nhập vào thực tiễn giáo dục của nhiều nước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến. Tại Hàn Quốc, Hội đồng của Tổng thống về cải cách giáo dục đã xuất bản cuốn sách “Hệ thống giáo dục mới” (ngày 31 tháng 5 năm 1995) mà quan điểm cơ bản là xây dựng một xã hội giáo dục sống động và mở cửa.
Hướng ưu tiên của chương trình cải cách là đa dạng hóa các loại hình giáo dục, tạo ra nhiều cơ hội giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân lựa chọn. Từ đó thành lập Trung tâm đa phương tiện Quốc gia tạo điều kiện cho nhiều người dân được tiếp cận và các phương tiện thông tin hiện đại vào việc học tập của mình [144]. Tại Nhật Bản, có thể nói đây là nước đi đầu trong việc triển khai tư tưởng HTSĐ và xây dựng XHHT. Ngay từ những năm 70 Nhật Bản đã công bố cuốn sách trắng, trong đó khẳng định: Nhật Bản đang đối diện với mục tiêu của việc cải cách giáo dục thế kỷ XXI: “Thực hiện một XHHT suốt đời”.
Trong lĩnh vực triển khai XHHT, Nhật Bản cũng là nước đi đầu với hệ thống Trung tâm học tập cộng đồng (KO-MIN-KAN), các nhà bảo tàng, các thư viện nhà văn hóa và các cơ sở giáo dục xã hội khác. 11 Ở Việt Nam, Các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập tới xu thế HTSĐ và xây dựng một XHHT. Có thể nêu một số trong các nhà nghiên cứu về vần đề này: Phạm Minh Hạc [59,60,61], Vũ Ngọc Hải [63,64,66], Nguyễn Vinh Hiển [72], Nguyễn Minh Đường [51,52], Phạm Tất Dong [29,30,31,32], Đặng Quốc Bảo [6], Nguyễn Hữu Châu[16], Nguyễn Ngọc Phú[107], Mạc Văn Trang [133,134,135], Tô Bá Trượng [136,138], Nguyễn Hồng Sơn [115], Phạm Đỗ Nhật Tiến [122,124], Thái Xuân Đào [44,45,46,47], Bế Hồng Hạnh [69], Nguyễn Hoàng Hải [68], Bùi Minh Hiền [71], Nguyễn Xuân Đường [54].; Vũ Ngọc Hải [67], Trần Khánh Đức [55], Nguyễn Tiến Đạt [48] đã nhấn mạnh quan điểm, cơ sở lý luận về nền giáo dục hiện đại và XHHT suốt đời, những vấn đề cơ bản để xây dựng XHHT ở nước ta, quan niệm mới về việc học. Phạm Tất Dong [28] đã đề cập đến nội dung phát triển các thiết chế giáo dục trên địa bàn xã, phường, thị trấn theo hướng xây dựng XHHT và những điều kiện để xây dựng XHHT ở xã, phường, thị trấn.
Vũ Ngọc Hải [66] cho rằng cần gắn vấn đề xây dựng XHHT với xây dựng nông thôn mới. Trong các năm 2004 và 2005, Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đã tổ chức hai cuộc Hội thảo toàn quốc với chủ đề xây dựng XHHT ở Việt Nam. Hội thảo đã thu hút rất nhiều nhà khoa học giáo dục và xã hội. Nhiều vấn đề cơ bản về tư tưởng HTSĐ và xây dựng XHHT ở Việt Nam đã được làm sáng tỏ như các khái niệm về HTSĐ về XHHT, cơ sở phương pháp luận của việc xây dựng XHHT, vai trò của XHHT trong thời đại mới, đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục để xây dựng XHHT.
Cũng từ đây, vấn đề HTSĐ và xây dựng XHHT đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đưa vào các nghị quyết của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà nước. Các công trình nghiên cứu về quản lý phát triển trung tâm HTCĐ Việc thực hiện HTSĐ và xây dựng XHHT phải được gắn kết chặt chẽ với các phương thức giáo dục mở: Giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy hay giáo dục ban đầu và giáo dục tiếp tục hay là giáo dục thường xuyên với đặc trưng là giáo dục cộng đồng và được thực hiện bởi Trung tâm học tập cộng đồng.