Chương 1 nêu lý do nghiên cứu, mục tiêu cần đạt được, câu hỏi, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 cơ sở lý thuyết, đề cập khung phân tích, tổng hợp các nghiên cứu trước và bài học kinh nghiệm về phát triển TCVM. Chương 3 trình bày, tổng hợp và phân tích kết quả nghiên cứu, khảo sát, phỏng vấn làm cơ sở để đưa ra khuyến nghị chính sách. Chương 4 kết luận nội dung và kiến nghị các chính sách.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -5- CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm cơ bản về TCVM và tiếp cận tài chính 2. Hoạt động tài chính vi mô Khái niệm chung TCVM được biết đến rộng rãi sau khi Muhammad Yunus phát triển hệ thống Grameen Bank tại Bangladesh kể từ cuối thập niên 1970. Có nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu định nghĩa về TCVM. Theo Nhóm tư vấn và hỗ trợ người nghèo (CGAP-Consultative Group to Assist the Poor), TCVM là dịch vụ tài chính cung cấp cho những người có thu nhập thấp, người nghèo, những khoản vay nhỏ giúp họ tham gia sản xuất kinh doanh và thoát khỏi đói nghèo.
Theo Ledgerwood (2007), TCVM không chỉ bao gồm các dịch vụ ngân hàng đơn giản, nó là một công cụ phát triển, với dịch vụ tài chính cho người thu nhập thấp bao gồm tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, dịch vụ thanh toán, và các dịch vụ phi tài chính như đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất. TCVM vừa nhằm mục tiêu tài chính (lợi nhuận), vừa có mục tiêu xã hội (tiếp cận người nghèo). Tại Việt Nam, điều 2, nghị định 28/2005/NĐ-CP đưa ra định nghĩa chính thức đầu tiên về tài chính quy mô nhỏ, là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo. Khoản 2, thông tư 02/2008/TT-NHNN, quy định tín dụng quy mô nhỏ là khoản cho vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có bảo đảm cho các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống.
Khoản cho vay đối với một khách hàng được gọi là tín dụng quy mô nhỏ khi tổng dư nợ cho vay của tổ chức tài chính quy mô nhỏ đối với khách hàng đó không vượt quá ba mươi triệu đồng. Vai trò và sản phẩm của TCVM Về mặt kinh tế, TCVM giúp mang cơ hội được tiếp cận với các phương tiện làm kinh tế, cụ thể là nguồn vốn. Về mặt xã hội, giúp người nghèo có cơ hội được tiếp cận với nguồn vốn chính thức, tránh được hệ lụy tự những khoản vay phi chính thức, đặc biệt tài chính vi mô có vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo. TCVM cung cấp các dịch vụ toàn diện bao gồm chương trình tài chính như tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm vi mô và chương trình phi tài chính như giáo dục, cấp học bổng, hỗ trợ kỹ thuật, liên kết đầu ra thị trường.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- Trong đó, TDVM có đặc điểm chung là việc vay vốn theo hình thức vay tín chấp, thường không có thế chấp, hoặc có thế chấp nhưng giá trị không đáng kể. Việc cho vay có thể được thực hiện theo hình thức cho vay cá nhân hoặc cho vay theo nhóm, theo đó, cho vay cá nhân phổ biến ở những nước có thị trường TCVM phát triển. TCVM cung cấp những khoản vay có giá trị nhỏ, việc hoàn trả được thực hiện thường xuyên, theo tuần hoặc theo tháng, điều này giúp người vay trả nợ dễ dàng hơn, do đó tỷ lệ nợ xấu của TCVM thường rất thấp. Bên cạnh đó, TCVM giúp thay đổi về cách thức tiết kiệm của người nghèo.
Về mặt nhận thức, dịch vụ tiết kiệm vi mô giúp người nghèo tin rằng họ hoàn toàn có thể tích lũy tài sản bằng việc tiết kiệm hàng ngày, hàng tuần từ những số tiền rất nhỏ. Về mặt kinh tế, việc tích lũy là cơ sở quan trọng để người nghèo gây dựng tài sản, thoát khỏi nghèo đói và hướng tới làm giàu. Ngoài ra, TCVM còn cung cấp dịch vụ bảo hiểm vi mô, tuy nhiên do năng lực và nhiều quy định giới hạn, nên ít MFI có khả năng cung ứng dịch vụ này, thông thường chỉ giới hạn cung cấp bảo hiểm đối với khoản vay vi mô. Dịch vụ phi tài chính là yếu tố quan trọng giúp tăng hiệu quả sử dụng khoản vay.
Thông qua các chương trình đào tạo kiến thức, TCVM giúp người nghèo nâng cao năng lực quản lý tài chính, kỹ thuật sản xuất kinh doanh….đó là cơ sở giúp người nghèo nâng cao năng lực xã hội và là cơ sở tiếp cận tài chính bền vững.2 Các tổ chức tài chính vi mô và thị trƣờng tài chính vi mô Điều 2, nghị định 28/2005/NĐ-CP định nghĩa về tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp. Năm 2010, Luật các TCTD có hiệu lực, đã công nhận các MFI là một bộ phận của hệ thống tài chính khi định nghĩa tổ chức TCVM là loại hình TCTD chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ (khoản 5, điều 4). MFI được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (khoản 6, điều 6). Thị trường TCVM có sự tham gia của Chính phủ, các NHTM, các MFI, các cá nhân… Theo ADB (2010), các nhà cung cấp TCVM Việt Nam được chia thành 3 nhóm khác nhau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Thị trƣờng TCVM Việt Nam Nguồn: ADB 2010 trích trong Nguyễn Kim Anh và đồng tác giả (2014) Nhóm chính thức gồm các NHTM, Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) và các MFI chính thức được NHNN cấp phép, hoạt động theo Luật các TCTD.
Nhóm các MFI bán chính thức, gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO- Non-governmental organization), các quỹ xã hội, quỹ từ thiện…cung cấp dịch vụ TCVM, nhưng không hoạt động theo Luật các TCTD, không được phép nhận tiền gửi TKTN hay tham gia thị trường vốn. Nhóm thứ ba là các hoạt động phi chính thức gồm gia đình, bạn bè, dịch vụ cầm đồ, các cá nhân cho vay.3 Tiếp cận tài chính bền vững Theo WB (2017), tiếp cận tài chính có nghĩa là các cá nhân, doanh nghiệp được tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài chính chính thức và giá cả phải chăng, đáp ứng nhu cầu tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm, thanh toán…một cách có trách nhiệm và bền vững, đồng nghĩa với việc người sử dụng dịch vụ tài chính có thể bắt đầu công việc kinh doanh, quản lý rủi ro và tránh được những thiệt hại do các cú sốc có thể xảy ra, trong đó TCVM được hiểu là một cách thức giúp tăng cường tiếp cận tài chính.27), tăng cường tiếp cận tài chính là các nỗ lực chính sách và thị trường nhằm giải quyết những vấn đề về loại trừ tài chính (financial exclusion) (ám chỉ khó khăn của người thu nhập thấp đặc biệt là người nghèo, phụ nữ ở các vùng nông thôn trong tiếp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -8- cận tài chính) thông qua việc tạo ra khung pháp lý rõ ràng, môi trường thông tin minh bạch và thực hiện tốt các chương trình giáo dục tài chính và các nguyên tắc bảo vệ khách hàng. Các nỗ lực đẩy mạnh tiếp cận tài chính phải đảm bảo được các yêu cầu: (i) Đảm bảo tiếp cận tài chính và mở rộng dịch vụ đến các cộng đồng khó tiếp cận, bao gồm phụ nữ và người nghèo ở nông thôn. (ii) Tăng hiểu biết và khả năng tài chính của người dân.
(iii) Đảm bảo mọi người đều được tiếp cận sản phẩm dịch vụ, các tài liệu chính thống về sản phẩm dịch vụ với chi phí thấp và có các phương thức chứng thực điều đó. (iv) Phát triển sản phẩm dịch vụ có liên quan và đáp ứng được nhu cầu của người dân. (v) Thiết lập các nguyên tắc bảo vệ khách hàng, đáp ứng yêu cầu của cơ quan quản lý. Theo CGAP, tiếp cận tài chính là những nỗ lực nhằm đảm bảo cho tất cả mọi người và doanh nghiệp, bất kể mức thu nhập đều có thể tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các dịch vụ tài chính phù hợp.
Phần lớn người nghèo, thường sử dụng các dịch vụ tài chính phi chính thức như từ bạn bè, cầm đồ…có chi phí cao, ẩn chứa những rủi ro không lường trước được. Được tiếp cận tài chính chính thức giúp họ quản lý dòng tiền tốt hơn, an toàn hơn, giảm những chấn động từ các rủi ro và cú sốc bên ngoài. Tính bền vững, theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là tồn tại dài lâu. Theo CGAP, tính bền vững trong ngành TCVM là “năng lực của một MFI bù đắp được mọi chi phí và có lãi trong khi cung cấp được các dịch vụ tài chính cho cộng đồng dân nghèo” (Nguyễn Kim Anh, (2013, tr.
Xét từ góc độ tổ chức, tính bền vững được dựa trên ba yếu tố, bền vững thể chế (ISS-Institutional Self-sufficiency), bền vững hoạt động (OSS-Operational Self-sufficiency) và bền vững tài chính (FSS-Financial Self-sufficiency), có nghĩa là MFI đảm bảo được hiệu quả kiểm soát, quản lý và sở hữu, đồng thời thu nhập đủ bù đắp chi phí hoạt động và chi phí tài chính. Xét từ góc độ khách hàng, sự bền vững được hiểu là đảm bảo tính liên tục, giá cả hợp lý và hiệu quả của dịch vụ bao gồm việc tiết kiệm liên tục để đảm bảo ổn định, việc vay vốn liên tục để quay vòng và duy trì sản xuất kinh doanh, đảm bảo gia tăng lợi ích từ các dịch vụ bổ sung như liên tục được tiếp cận các kiến thức và kinh nghiệm quản lý tài chính, nâng cao năng lực hòa nhập xã hội và có sự gắn kết dài lâu giữa MFI và khách hàng. Trong phạm vi mục tiêu, thời gian và nguồn lực nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến hoạt động TCVM của các MFI chính thức, bán chính thức hiện nay, và một khía cạnh của tiếp cận tài chính đó là việc đảm bảo tiếp cận TD của người nghèo đạt hiệu quả và bền vững. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khung phân tích 2.