Chương I của Luật các TCTD). h 9 Xét trên khía cạnh tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì tín dụng ngân hàng được hiểu như sau: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung (i) Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sử hữu sang cho người sử dụng; (ii) sự chuyển nhượng này có thời hạn và chỉ mang tính tạm thời và (iii) sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí” (Võ Đình Toàn, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, NXB Công An Nhân Dân, Đại học Luật Hà Nội 2017). Như vậy, tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội.
Nó không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2 bên cùng có lợi. Đặc điểm tín dụng ngân hàng Tín dụng là hoạt động truyền thống của ngân hàng, là một khoản mục cơ bản của tài sản có của một ngân hàng. Khoản mục này phát triển và hoàn thiện với nhiều loại hình khác nhau từ cho vay ngắn hạn đến dài hạn, thời hạn cấp tín dụng càng dài thì tính rủi ro càng lớn, do đó thông thường lãi suất cho vay dài hạn càng lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn.
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, phải thỏa mãn 4 đặc điểm: lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro. Một là, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở đánh giá, thẩm định về khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ giữa hai bên. Ngân hàng cấp tín dụng khi tin tưởng, đánh giá rằng người đi vay có thiện chí trả nợ và có khả năng trả nợ, đồng thời tin rằng người sử dụng lượng giá trị đó sẽ thu được lượng giá trị cao hơn, đạt hiệu quả sau một thời gian nhất định, người cho vay cũng tin tưởng người đi vay có thiện chí trả nợ thì quan hệ cho vay mới xảy ra, như vậy có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. h 10 Hai là tính hoàn trả.
Đối với tín dụng ngân hàng thì đây là đặc trưng cơ bản nhất và sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng ngân hàng với các quan hệ tài chính khác. Trong tính hoàn trả thì lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn về cả thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: Gốc và lãi. Phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời.
Nói cách khác, nó là giá trị cho sự sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu, vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng nó. Mặt khác nếu không có sự hoàn trả thì đó là quan hệ cho vay không hoàn hảo. Ba là, tính thời hạn. Xuất phát từ bản chất của tín dụng là sự tín nhiệm, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày trong tương lai.
Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời gian sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay hoàn trả cho người cho vay. Bốn là, hoạt động tín dụng ngân hàng ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro do sự không cân xứng về thông tin và người cho vay không hiểu rõ hết về người đi vay. Một mối quan hệ tín dụng được gọi là hoàn hảo nếu người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn. Tuy nhiên trong thực tế không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy, không hiếm trường hợp người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng do các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra.
Đó là trường hợp khi đến hạn hoàn trả vốn vay, người đi vay không thể thực hiện được việc trả nợ cho người cho vay dẫn đến các khoản nợ bị quá hạn. Nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng, là sự báo hiệu của rủi ro. Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng hỗ trợ sự phát triển của Khách hàng Thông qua hoạt động cấp tín dụng, ngân hàng tạo điều kiện cho các chủ doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn từ đó thực hiện được mục tiêu thành lập và phát triển doanh nghiệp. Qua nguồn vốn được tài trợ bởi ngân hàng, các Khách hàng có điều kiện nâng cấp các máy móc thiết bị, khoa học kĩ thuật, tài trợ nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên, qua đó, góp phần làm tăng h 11 năng suất, cải thiện năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, ngân hàng có thể hỗ trợ Khách hàng mở rộng quan hệ thương mại với các đối tác, giao lưu kinh tế quốc tế, quảng bá sản phẩm từ đó có thể đẩy mạnh xuất khẩu. Tín dụng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho Khách hàng Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, Khách hàng phải tìm kiếm thêm các nguồn vốn từ bên ngoài để tận dụng đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh, trong đó nguồn vốn ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Khách vay vốn cần xây dựng cơ cấu vốn hợp lý, kết hợp hiệu quả giữa vốn vay và vốn tự có nhằm sản xuất ra sản phẩm tại giá vốn bình quân tối ưu nhất, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng hàng hóa, được thị trường chấp nhận và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tín dụng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Khách hàng Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng phải đảm bảo việc hoàn trả cả vốn lẫn lãi theo đúng thời hạn quy định.
Trong trường hợp quá hạn, doanh nghiệp phải chịu lãi suất phạt cao đồng thời ảnh hưởng xấu đến uy tín của doanh nghiệp. Vì vậy, ngay từ khi lập phương án sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đã phải quan tâm tới việc lên kế hoạch sử dụng vốn nhằm tăng nhanh vòng quay của vốn, rút ngắn thời gian vay nợ, giảm chi phí lãi vay, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất vay vốn để đảm bảo hoạt kinh doanh có lãi. Như vậy, tín dụng ngân hàng giúp tạo động lực thúc đẩy khách vay vốn sử dụng vốn một cách hiệu quả. Tín dụng là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường kinh tế - xã hội ổn định cho sự phát triển của Khách hàng Thông qua tín dụng ngân hàng, nhà nước thực thi các chính sách tiền tệ nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hạn chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho Khách hàng.
Phân loại tín dụng ngân hàng Tùy theo các tiêu thức khác nhau mà tín dụng ngân hàng có thể phân thành các loại khác nhau. Sau đây là các cách phân loại tín dụng ngân hàng phổ biến: Căn cứ theo thời gian cấp tín dụng - Cấp tín dụng ngắn hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn đến 01 năm; h 12 - Cấp tín dụng trung hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn từ trên 01 năm đến 05 năm; - Cấp tín dụng dài hạn: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn trên 05 năm. Căn cứ vào mục đích cấp tín dụng - Cấp tín dụng bổ sung vốn lưu động: là hình thức cấp tín dụng tài trợ vốn cho nhu cầu vốn lưu động còn thiếu của doanh nghiệp trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường nhằm bù đắp sự chênh lệch giữa kỳ hạn, giá trị của tài sản và nguồn vốn trong Doanh nghiệp. Cấp tín dụng bổ sung vốn lưu động thường là cấp tín dụng ngắn hạn, phụ thuộc vào thời gian quay vòng vốn lưu động của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và có nguồn trả nợ chủ yếu là nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng sau khi kết thúc chu kỳ kinh doanh.
- Cấp tín dụng đầu tư tài sản cố định, đầu tư dự án: Là việc cấp tín dụng phục vụ cho nhu cầu mua sắm các tài sản cố định và thực hiện các Dự án đầu tư của Doanh nghiệp. Cấp tín dụng đầu tư TSCĐ đầu tư dự án là hoạt động cấp tín dụng trung, dài hạn, phụ thuộc vào thời gian thu hồi vốn theo đánh giá của Doanh nghiệp cũng như thẩm định của Ngân hàng. Nguồn trả nợ chủ yếu đến từ dòng tiền khấu hao TSCĐ và lợi nhuận. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm - Cấp tín dụng có biện pháp bảo đảm: là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở có biện pháp bảo đảm như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của người thứ ba… và các hình thức, biện pháp bảo đảm khác được Ngân hàng chấp thuận.
- Cấp tín dụng không có bảo đảm: là hình thức cấp tín dụng không được bảo đảm bằng các biện pháp như trên mà chỉ dựa trên uy tín của khách hàng. Tổng quan chung về hoạt động tín dụng xanh 1. Khái niệm tín dụng xanh Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai.
Để phát triển bền vững nền kinh tế, Việt Nam đã xây dựng chiến lược phát triển nền kinh tế xanh, thể hiện rõ h 13 trong Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 1/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050. Theo đó, hoạt động tín dụng xanh, ngân hàng xanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc triển khai thành công Chiến lược này.