CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015): “Tín dụng là quan hệ giữa các bên về việc vay mượn một tài sản, gồm tài sản thực, tài sản tài chính hay uy tín”. Trong chế độ công xã nguyên thủy, mọi thứ đều là của chung nên không tồn tại quan hệ vay mượn, tức không tồn tại hình thức tín dụng.
Khi chế độ công xã tan rã, thì chế độ Tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa, làm phát sinh quan hệ vay mượn bằng hiện vật. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, hình thức tín dụng chủ yếu là sử dụng tiền tệ để thực hiện vay mượn nhằm thực hiện mục đích riêng của người đi vay. Quan hệ tín dụng thể hiện sự vay mượn, là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy đặc điểm cơ bản nhất của các loại hình tín dụng đó là tính hoàn trả, tính thời hạn và tính chất tin tưởng người sử dụng tài sản có khả năng hoàn trả đúng hạn Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền vốn) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao một lượng tiền tệ cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán.” Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có nêu ra khái niệm về cấp tín dụng như sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.” Trong đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng cốt lõi quan trọng nhất, tạo ra lợi nhuận lớn nhất cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, 26 Như vậy có thể hiểu cơ bản “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Đặc điểm tín dụng ngân hàng Theo tác giả Nguyễn Thị Lan, Giáo trình tín dụng ngân hàng, NXB Thống Kê, 2014: Tín dụng ngân hàng có các đặc điểm của tín dụng nói chung như sau: Thứ nhất, “Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin, uy tín của người đi vay”. Đây là đặc điểm quan trọng nhất, từ đó tiền đề cho các đặc điểm sau. Cơ sở quyết định một khoản tín dụng là ngân hàng tin tưởng về việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả của khách hàng và khách hàng hoàn trả nợ vay trước hạn hoặc đúng hạn. Còn người đi vay ngân hàng thì tin tưởng vào kế hoạch kinh doanh và khả năng điều phối được hoạt động kinh doanh của minh để có thể hoàn trả cho ngân hàng cả phần nợ gốc và nợ lãi trên số vốn ngân hàng mình đã đi vay.
Do đó, trong các quyết định cho vay, ngân hàng có các tiêu chí ưu tiên theo thứ tự như sau: - Tín nhiệm (uy tín, thiện chí) của người đi vay - Tính khả thi của dự án (phương án kinh doanh) - Bảo đảm tiền vay (tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba,…) 27 Thứ hai, “tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả”. Ở quan hệ tín dụng có mặt đồng thời cả người vay và người cho vay. Ngân hàng là một trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, do đó mọi khoản tín dụng đều phải có thời hạn, để đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay. Ngân hàng phải căn cứ tính toán rất nhiều các yếu tố về tính chất thời hạn nguồn vốn của mình, cân đối được nguồn lực đầu vào và nguồn lực đầu ra (huy động – cho vay).
Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Bên cạnh đó, thời hạn cho vay phải phfu hợp với chu trình luân chuyển vốn của đối tượng vay vốn thì người đi vay mới có thể có điều kiện trả nợ đúng hạn. Việc xác định chính xác hoặc tương đối chu kỳ luân chuyển vốn vay của người đi vay nhằm mục đích đảm bảo người đi vay có khả năng hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi vay. Thứ ba, tín dụng phải dựa trên cơ sở nguyên tắc “cam kết hoàn trả vô điều kiện”.
Khách hàng và ngân hàng thực hiện giao kết thông qua các văn bản có tính pháp lý và tính ràng buộc cao như ký kết hợp đồng cho vay xác định chi tiết các quy dịnh về vấn đề vay và hoàn trả lãi vay, ký kết hợp đồng thế chấp xác định tài sản thế chấp của người đi vay cho ngân hàng, … theo đó, bất kỳ văn bản cũng nêu rõ cam kết của người đi vay trong việc tuân thủ và cam kết hoàn trả gốc vay, lãi vay. Trong những trường hợp đi vay không đảm bảo khả năng trả nợ đùng hạn, ngân hàng có quyền yêu cầu tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết theo quy định pháp luật, yêu cầu người đi vay hoàn trả gốc và lãi vay. Chính vì khách hàng không phải là chủ sở hữu thực sự của số tiền vay nên tất yếu phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay này cho ngân hàng. 28 Thứ tư, “tín dụng phải trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi”.
Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015): “Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc ban đầu), nghĩa là ngoài việc hoàn trả gốc, người đi vay phải trả cho ngân hàng môt khoản lãi, đây là giá của quyền sử dụng vốn vay”. Do Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn n. Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn nhằm thu được lợi nhuận.
Do đó, ngân hàng cho vay phải có lãi để bù đắp chi phí vốn, và tạo ra lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh. Thứ năm, “tín dụng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động ngân hàng, phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng thời hạn trả nợ, biểu hiện cụ thể là chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi. Việc thu hồi tín dụng không chỉ phụ thuộc vào bản thân khách hàng mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như môi trường hoạt động, sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, dịch bệnh” Các đặc điểm nêu trên của tín dụng ngân hàng đều thể hiện hai nội dung cơ bản của tín dụng ngân hàng như sau: - Một là sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. - Hai là cam kết và thực hiện trả vốn vay ngân hàng đúng thời hạn, và việc hoàn trả phải bao gồm hoàn trả cả gốc và lãi vay 1.
Vai trò của tín dụng ngân hàng Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh, Tín dụng Ngân hàng, Nhà xuất bàn Thống Kê 2013, vai trò của tín dụng Ngân hàng được tóm tắt như sau: 1. Vai trò đối với nền kinh tế 29 Thứ nhất, vai trò của ngân hàng là công cụ điều tiết nền kinh tế xã hội cả nước. Ví dụ hiện nay, đứng trước tốc độ tăng trưởng nhanh của ngành bất động sản, chính phủ đã có những biện pháp làm giảm sự tăng trưởng đó bằng việc Ngân hàng nhà nước chỉ thị tăng lãi suất của các ngân hàng, từ đó, thắt chặt hoạt động kinh doanh bất động sản. Không chỉ vậy, tín dụng ngân hàng còn giúp phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế thông qua việc tập trung nguồn lực, bổ trợ nguồn vốn cho các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đang được ưu tiên đầu tư, thúc đẩy và mở rộng hoạt động của các lĩnh vực đó.
Hiện nay, Việt Nam đã thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất với một số ngành nghề ưu tiên như năm nhóm ngành, lĩnh vực gồm: xuất khẩu, nông nghiệp và nông thôn; công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, theo đó mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng tiền đồng đối với các lĩnh vực này, không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp. Thông qua những công cụ tín dụng, các cơ chế điều tiết lãi suất, định hướng hạn chế hay phát triển ngành nghề, ngân hàng giúp điều tiết và phát triển nền kinh tế theo hướng đi của chính phủ. Thứ hai, tín dụng ngân hàng có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm. Bởi vì nó góp phần tăng lượng vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư.
Chức năng của ngân hàng là điều tiết nền kinh tế, làm trung gian tài chính kết nối giữa người có nhu cầu vay và người có lượng tiền nhàn rỗi để gửi tiết kiệm sinh lời. Nói cách khác, tín dụng ngân hàng có vai trò điều chuyển nguồn vốn từ những người có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi do chi tiêu ít hơn thu nhập đến những người (cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, và chính phủ) có sự thiếu hụt, có nhu cầu sử dụng vốn vào mục đích kinh doanh hoặc phục vụ nhu cầu đời sống do chi tiêu vượt quá thu nhập. Như vậy, nếu không có ngân hàng, thì việc điều chuyển vốn, điều tiết nền kinh tế, phân chia và san sẻ nguồn lực giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ rất khó khăn, vốn nằm ách tắc trong dân.