Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng ở Bắc Kạn" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hải Núi thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Quốc Chỉnh và PGS. Đỗ Quang Giám, thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9.05).

Tính cấp thiết của luận án bắt nguồn từ vai trò trọng yếu của tài nguyên rừng đối với kinh tế - xã hội và môi trường tại các quốc gia đang phát triển. Rừng cung cấp tư liệu sản xuất, sinh hoạt, tạo việc làm và nguồn thu nhập cho hàng triệu người dân nông thôn miền núi. Tỉnh Bắc Kạn có đặc điểm địa hình đồi núi phức tạp, kinh tế nông - lâm nghiệp đóng góp trên 1/3 GDP toàn tỉnh và thu hút hơn 70% lực lượng lao động (trong đó lâm nghiệp chiếm khoảng 13%). Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 485.941 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 432.xxx ha, độ che phủ rừng đạt 70,7% (năm 2016) - cao nhất cả nước. Mặc dù gắn bó mật thiết với rừng, đời sống của người dân vùng cao Bắc Kạn đối mặt với nhiều rào cản: thu nhập bình quân của hộ dân sống gần rừng ở mức thấp (khoảng 34 triệu đồng/hộ/năm), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 35,47% (năm 2015), tỷ lệ tái nghèo trên 4%. Nguồn thu từ rừng vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu nhập (khoảng 28,9%), song các mô hình sinh kế còn đơn điệu, chủ yếu dựa vào trồng trọt và lâm nghiệp truyền thống. Việc triển khai các chương trình bảo vệ rừng như Dự án Giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) từ năm 2014 đã hạn chế quyền tiếp cận khai thác tài nguyên rừng, tạo áp lực lớn lên sinh kế của người dân.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu áp dụng khung phân tích sinh kế bền vững một cách định tính hoặc mô tả đơn thuần, chưa làm sáng tỏ toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sinh kế bền vững cho đối tượng đặc thù là hộ dân phụ thuộc vào rừng cấp tỉnh; thiếu sự kết hợp giữa đo lường tính lâu bền (sự tăng trưởng theo thời gian) và tính ổn định (mức độ biến động thấp) trên cả ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng ở Bắc Kạn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng ở địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hoá và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng;
    2. Đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng ở Bắc Kạn;
    3. Đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng ở Bắc Kạn trong thời gian tới.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng phát triển sinh kế bền vững của người dân phụ thuộc vào rừng ở Bắc Kạn là như thế nào? Họ xây dựng chiến lược sinh kế gì? Hoạt động phát triển sinh kế ra sao? Mô hình sinh kế thế nào? Kết quả phát triển sinh kế bền vững của họ như thế nào ở các góc độ kinh tế, xã hội và môi trường?
  2. Những yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển sinh kế bền vững của người dân phụ thuộc vào rừng ở tỉnh Bắc Kạn?
  3. Để phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng, chính quyền và bản thân hộ dân cần thực hiện các giải pháp nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nội dung và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng ở Bắc Kạn.
  • Đối tượng khảo sát: Hộ dân sống gần rừng và sở hữu rừng sản xuất tại tỉnh Bắc Kạn, cán bộ chính quyền địa phương các cấp và các chuyên gia liên quan.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại khu vực vùng cao tỉnh Bắc Kạn, tập trung khảo sát tại hai huyện đại diện là Na Rì và Ba Bể.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2012-2016; số liệu sơ cấp điều tra hộ thực hiện năm 2016 (có thu thập dữ liệu hồi tưởng so sánh với 5 năm trước đó); dữ liệu phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm thực hiện năm 2016 và 2017; các giải pháp định hướng đề xuất cho giai đoạn 10 năm tiếp theo.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào nhóm hộ dân sống trong hoặc gần rừng; tiếp cận phát triển sinh kế trên cơ sở bảo tồn và phát triển rừng, không mở rộng sang nhóm thương lái hay doanh nghiệp chế biến gỗ do đặc thù vùng nghiên cứu có tỷ lệ rừng đặc dụng và phòng hộ lớn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm vấn đề lý thuyết và thực tiễn:

  • Khung lý thuyết sinh kế và sinh kế bền vững: Kế thừa quan điểm của Chambers và Conway (1992), Sách Trắng của Carney (1998), khung phân tích của Cơ quan Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 1999), các phân tích của Scoones (1998, 2009), Ellis (1998, 2000), Hussein (2002), Kollmair và Gamper (2002), Casey (2008), Faiz và cs. (2012). Sinh kế được cấu thành từ năng lực, tài sản (5 nguồn vốn: tự nhiên, xã hội, con người, vật chất, tài chính) và các hoạt động mưu sinh.
  • Lý thuyết phát triển bền vững: Dựa trên báo cáo của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987 / Báo cáo Brundtland), Hội đồng thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ (NRC, 1999) nhấn mạnh sự khác biệt và gắn kết giữa duy trì ổn định (sustain) và phát triển tăng trưởng (develop), quan điểm của Trzyna (2001) và định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005.
  • Nghiên cứu về sự phụ thuộc vào rừng và kinh tế hộ: Tiếp cận phân loại mức độ phụ thuộc vào tài nguyên dựa trên tỷ trọng thu nhập từ rừng theo Babulo và cs. (2008), Vedeld và cs., Xu và cs. (2015), Alary và cs. (2014), Douxchamps và cs. Nghiên cứu của Đinh Đức Thuận và cs. (2005), Sunderlin và Huỳnh Thu Ba (2005), Trần Đức Viên (2005), Iyenger và Shukla (1999), Reddy và Chakravarty (1999), Lý Cẩm Tú (2017), Nguyễn Thị Tám (2016), Nguyễn Thị Thu Hà (2013) về mối quan hệ giữa nghèo đói, dân tộc thiểu số và mức độ khai thác tài nguyên rừng.
  • Kinh nghiệm thực tiễn quốc tế và trong nước:
    • Thái Lan: Phát triển sinh kế thông qua đầu tư hạ tầng, kết hợp kinh nghiệm truyền thống trong quản lý rừng cộng đồng, xây dựng mô hình nông lâm kết hợp, sản xuất phân hữu cơ từ phụ phẩm rừng và giao rừng cho doanh nghiệp thuê lao động địa phương (Chris và Pasuk, 2014; FAO, 2009; Sureeratna, 2006).
    • Nhật Bản: Quản lý rừng cộng đồng với cách tiếp cận có sự tham gia, xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân; ứng dụng công nghệ số hóa dữ liệu tài nguyên rừng và chi phí vận chuyển để lập kế hoạch lâm nghiệp (Fao, 2010; Daisuke, 2010; Takeru, 2017; Japanese Forestry Agency, 2016).
    • Rwanda: Thực thi Chính sách rừng quốc gia (từng đạt Giải Vàng Chính sách Tương lai của LHQ năm 2011), phát triển nông lâm kết hợp phân theo vùng sinh thái, đào tạo năng lực cán bộ lâm nghiệp, ứng dụng công nghệ thu hoạch lâm sản ngoài gỗ bền vững và gắn trách nhiệm bảo vệ rừng cho toàn dân (Republic of Rwanda, 2006, 2017a, 2017b; UNEP, 2011; World Vision Australia, 2010).
    • Tỉnh Điện Biên: Lồng ghép chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PEFS) và REDD+, triển khai dự án Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) với mô hình trồng mây nếp dưới tán rừng và dự án Susform-Now hỗ trợ chăn nuôi, làm hầm Biogas thay thế củi đun, củng cố hương ước thôn bản (Phạm Đức Hiển, 2014; Cục Thống kê tỉnh Điện Biên, 2017).
    • Tỉnh Thanh Hóa: Thực hiện dự án CRES do Phần Lan tài trợ, kết hợp bảo tồn với du lịch sinh thái rừng đặc dụng, tập huấn kỹ thuật khai thác luồng bền vững và kết nối thị trường tiêu thụ với doanh nghiệp (CRES, 2016; Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa, 2017).
    • Tỉnh Thái Nguyên: Triển khai dự án bảo vệ rừng phòng hộ bền vững, thành lập tổ sinh kế và quỹ tín dụng thôn bản giúp người dân vay vốn chăn nuôi, trồng dược liệu dưới tán rừng (Đồng Văn Thưởng, 2015; Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2017).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án bổ khuyết khoảng trống nghiên cứu bằng cách xây dựng khung phân tích hoàn chỉnh về sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng ở cấp độ địa phương; phân loại định lượng hộ gia đình thành ba nhóm chiến lược sinh kế dựa trên tỷ trọng thu nhập từ rừng; áp dụng phương pháp kinh tế lượng kết hợp thước đo Barometer of Sustainability để lượng hóa đồng thời tính lâu bền và tính ổn định trên ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững dựa trên khung DFID (1999) có điều chỉnh phù hợp với điều kiện vùng cao và người dân phụ thuộc vào rừng.

Khái niệm và tiêu chí phân loại chiến lược sinh kế theo mức độ phụ thuộc vào rừng:

Ký hiệu Chiến lược sinh kế Tiêu chí phân loại (Tỷ trọng thu nhập từ rừng so với tổng thu nhập hộ)
LS1 Phụ thuộc thấp $\le 20%$
LS2 Phụ thuộc trung bình Từ trên $20%$ đến $40%$
LS3 Phụ thuộc cao $> 40%$

Khung phân tích 5 nguồn vốn sinh kế:

Loại nguồn vốn Mô tả nội dung theo khung phân tích
Vốn tự nhiên Đất đai sản xuất, diện tích đất lâm nghiệp, nguồn nước sạch, khả năng tiếp cận tài nguyên rừng và hệ sinh thái.
Vốn xã hội Mạng lưới quan hệ, mức độ tin cậy cộng đồng, thành viên các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân), sự tham gia tổ tự quản/tuần tra rừng.
Vốn con người Quy mô lao động hộ, trình độ học vấn của chủ hộ và lao động, tình trạng sức khỏe, kỹ năng sản xuất, tiếp cận tập huấn khuyến nông - lâm.
Vốn vật chất Cơ sở hạ tầng (giao thông, nước sinh hoạt, điện, truyền thông), điều kiện nhà ở, phương tiện sinh hoạt, máy móc và công cụ lao động.
Vốn tài chính Thu nhập ổn định, nguồn tiền tiết kiệm, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng chính thức/phi chính thức, các nguồn hỗ trợ và kiều hối.

Bối cảnh dễ bị tổn thương được phân tích thông qua: các xu hướng (dân số, tài nguyên, kinh tế, quản trị, công nghệ), các cú sốc (thiên tai lũ quét, sạt lở đất, dịch bệnh con người, sâu bệnh hại cây trồng vật nuôi, mất mùa, chi tiêu đột xuất cho hiếu hỷ) và tính thời vụ (giá cả nông lâm sản, việc làm thời vụ).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận khung sinh kế bền vững; tiếp cận theo mức độ phụ thuộc vào rừng; tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA); tiếp cận theo chương trình REDD+.
  • Địa bàn và cỡ mẫu điều tra: Nghiên cứu tại 2 huyện đại diện vùng cao tỉnh Bắc Kạn là Na Rì và Ba Bể. Đối tượng khảo sát là các hộ gia đình sống gần rừng và sở hữu rừng sản xuất.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn (2012-2016), Cục Thống kê, Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm, các văn bản chính sách của Trung ương và địa phương.
    • Dữ liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình bằng phiếu điều tra cấu trúc năm 2016 (kèm câu hỏi hồi tưởng 5 năm trước); tổ chức các cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD); phỏng vấn sâu cán bộ quản lý các cấp và chuyên gia năm 2016-2017; thực hiện phương pháp cho điểm cơ cấu thu nhập (sử dụng công cụ trực quan).
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
    • Công cụ xử lý: Nhập liệu và tổng hợp trên Microsoft Excel, xử lý thống kê trên phần mềm Stata phiên bản 13.
    • Phương pháp phân tổ và thống kê mô tả: Tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, độ lệch chuẩn (SD).
    • Phương pháp so sánh và kiểm định thống kê: Kiểm định sự khác biệt về thu nhập, nguồn vốn và các chỉ tiêu sinh kế giữa ba nhóm hộ (LS1, LS2, LS3).
    • Phương pháp mô hình kinh tế lượng:
      1. Mô hình hồi quy ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới lựa chọn chiến lược sinh kế của hộ.
      2. Mô hình hàm hồi quy đa biến ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ.
      3. Mô hình hàm nhị phân (Binary Logit) ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ.
    • Phương pháp phân tích thang đo bền vững: Ứng dụng Thước đo tính bền vững (Barometer of Sustainability) kết hợp thang đo Likert để đánh giá mức độ phát triển bền vững trên ba phương diện thu nhập (kinh tế), mối quan hệ xã hội (xã hội) và môi trường sinh thái (môi trường).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1. Tính cấp thiết đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Nội dung phần này xác lập luận cứ khoa học về sự cần thiết nghiên cứu sinh kế của hộ dân sống phụ thuộc vào rừng tại tỉnh Bắc Kạn trong bối cảnh thực thi chính sách đóng cửa rừng tự nhiên và tham gia dự án REDD+. Xác định rõ 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng khảo sát trọng tâm là hộ nông dân sống gần rừng tại hai huyện Ba Bể và Na Rì, cùng phạm vi không gian, thời gian và nội dung nghiên cứu.

Phần 2. Tổng quan về phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng

Trình bày hệ thống cơ sở lý luận về phát triển, tính bền vững và sinh kế bền vững; phân tích vai trò, 5 đặc điểm và yêu cầu của sinh kế bền vững đối với cư dân vùng cao sống gần rừng. Tổng hợp các quan điểm về 5 nguồn vốn sinh kế và bối cảnh dễ bị tổn thương. Đúc kết kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Nhật Bản, Rwanda) và kinh nghiệm thực tiễn tại các tỉnh miền núi Việt Nam (Điện Biên, Thanh Hóa, Thái Nguyên), từ đó rút ra 6 bài học kinh nghiệm áp dụng cho tỉnh Bắc Kạn.

Phần 3. Phương pháp nghiên cứu và đặc điểm địa bàn

Phân tích đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012-2016: diện tích tự nhiên 485.941 ha, đất lâm nghiệp chiếm 432.xxx ha, độ che phủ rừng đạt 70,7% (năm 2016), tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp trên 70%. Trình bày chi tiết khung phân tích sinh kế, quy trình chọn mẫu điều tra tại Na Rì và Ba Bể, các kỹ thuật thu thập dữ liệu sơ cấp/thứ cấp, phương pháp cho điểm cơ cấu thu nhập và hệ thống chỉ tiêu phân tích gồm: nhóm chỉ tiêu thực trạng phát triển sinh kế và nhóm chỉ tiêu phản ánh nhân tố ảnh hưởng. Giới thiệu các mô hình kinh tế lượng (hồi quy đa biến thu nhập, hồi quy nhị phân nghèo đói, mô hình lựa chọn chiến lược sinh kế) và phương pháp đánh giá theo Thước đo tính bền vững (Barometer of Sustainability).

Phần 4. Kết quả và thảo luận

Chương này tập trung toàn bộ kết quả phân tích định lượng và định tính của luận án:

  • Thực trạng chính sách: Phân tích việc thực hiện chính sách hạ tầng (Chương trình 134, 135), chính sách giảm nghèo bền vững, chính sách lao động việc làm, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PEFS). Kết quả chỉ ra mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng còn thấp, công tác thu phí dịch vụ môi trường rừng còn gặp nhiều vướng mắc.
  • Chiến lược và hoạt động sinh kế: Phân nhóm hộ theo 3 chiến lược sinh kế (LS1, LS2, LS3). Đánh giá 5 nhóm hoạt động sinh kế: trồng lúa, trồng trọt khác, chăn nuôi, hoạt động rừng, hoạt động phi nông lâm nghiệp và hoạt động khác; cùng các mô hình kết hợp (trồng trọt - rừng, trồng trọt - chăn nuôi, trồng trọt - chăn nuôi - rừng...).
  • Kết quả sinh kế và tính bền vững: Thu nhập bình quân của hộ đạt khoảng 34 triệu đồng/hộ/năm, nguồn thu từ rừng đóng góp 28,9%. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 35,47%, tỷ lệ tái nghèo trên 4%. Đánh giá qua Barometer of Sustainability cho thấy tính bền vững sinh kế của mẫu khảo sát ở mức trung bình. Nhóm hộ LS3 (phụ thuộc cao vào rừng) đạt mức bền vững thấp và tăng trưởng thu nhập kém sau 5 năm; ngược lại nhóm LS1 (phụ thuộc thấp vào rừng) đạt mức tiệm cận bền vững và có mức tăng trưởng thu nhập tốt.
  • Phân tích các yếu tố ảnh hưởng: Đánh giá chi tiết 5 nguồn vốn sinh kế (vốn tự nhiên, con người, xã hội, vật chất, tài chính). Kết quả ước lượng mô hình kinh tế lượng khẳng định nguồn vốn sinh kế có ảnh hưởng quyết định đến việc lựa chọn chiến lược sinh kế, mức thu nhập và xác suất nghèo của hộ. Phân tích các biến cố trong bối cảnh dễ bị tổn thương (thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, biến động giá cả) tác động tiêu cực đến sinh kế hộ.
  • Định hướng và giải pháp: Đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp nhằm nâng cao tính bền vững cho sinh kế của người dân phụ thuộc vào rừng tại Bắc Kạn.

Phần 5. Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp những kết luận chính rút ra từ công trình nghiên cứu và đưa ra hệ thống kiến nghị cụ thể đối với Chính phủ, các Bộ, ban ngành Trung ương (Bộ NN&PTNT, Bộ LĐTBXH), Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Kạn và các cơ quan chuyên môn cấp huyện, xã.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận:

  • Hệ thống hoá và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển sinh kế bền vững chuyên biệt cho nhóm đối tượng người dân phụ thuộc vào rừng tại địa bàn miền núi.
  • Xác lập quan điểm phát triển sinh kế bền vững là quá trình tương tác tổng hòa giữa chính sách của chính quyền, nguồn vốn sinh kế, bối cảnh tổn thương, việc lựa chọn chiến lược và hoạt động sinh kế, hướng đến đảm bảo cân đối ở cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa sự lâu bền (tăng trưởng theo thời gian) và tính ổn định.

Đóng góp mới về phương pháp:

  • Ứng dụng khung phân tích sinh kế bền vững DFID có điều chỉnh, kết hợp phương pháp phân loại định lượng chiến lược sinh kế theo ba ngưỡng tỷ trọng thu nhập từ rừng (LS1 $\le 20%$, LS2 từ $>20%$ đến $40%$, LS3 $>40%$).
  • Kết hợp đồng bộ các phương pháp phân tích kinh tế lượng (hồi quy đa biến xác định yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, mô hình Logit nhị phân xác định yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói, mô hình ước lượng lựa chọn chiến lược sinh kế) với Thước đo tính bền vững (Barometer of Sustainability) và thang đo Likert để lượng hóa tính bền vững sinh kế.

Đóng góp mới về thực tiễn:

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về thực trạng nguồn vốn sinh kế, cơ cấu thu nhập (thu nhập từ rừng chiếm 28,9%), các mô hình kết hợp sinh kế và mức độ tổn thương của hộ dân vùng cao tỉnh Bắc Kạn.
  • Chỉ ra mối quan hệ thực chứng: hộ gia đình có nguồn vốn sinh kế càng mạnh thì xu hướng phụ thuộc vào rừng càng giảm và mức độ bền vững của sinh kế càng cao; nhóm hộ phụ thuộc cao vào rừng có mức độ bền vững sinh kế thấp nhất.
  • Đúc kết 6 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quốc tế và trong nước cho tỉnh Bắc Kạn.

Hệ thống 8 nhóm giải pháp đề xuất:

  1. Nhóm giải pháp nâng cao nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, con người, xã hội, vật chất, tài chính);
  2. Xây dựng và nhân rộng mô hình phát triển sinh kế bền vững (kết hợp nông - lâm nghiệp thân thiện môi trường);
  3. Nâng cao năng lực, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho người dân;
  4. Đa dạng hoá và nâng cao thu nhập cho hộ dân (phát triển chăn nuôi, trồng trọt có giá trị kinh tế, phi nông nghiệp);
  5. Duy trì và cải thiện mối quan hệ xã hội (củng cố hương ước, các tổ chức tự quản và tổ tuần tra rừng);
  6. Duy trì và cải thiện môi trường sinh thái (gắn giao khoán bảo vệ rừng với các chương trình REDD+, PEFS);
  7. Thống nhất chủ trương, hoàn thiện chính sách phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng;
  8. Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực địa tập trung tại vùng cao của hai huyện Ba Bể và Na Rì tỉnh Bắc Kạn, nơi có diện tích lớn là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, do đó chưa bao quát hết các nhóm đối tượng trung gian trong chuỗi giá trị lâm sản như thương lái, cơ sở thu gom hoặc doanh nghiệp chế biến gỗ thương mại.
  • Các chỉ tiêu đánh giá sự thay đổi sinh kế trong quá khứ 5 năm chủ yếu dựa vào phương pháp hồi tưởng của chủ hộ điều tra, có thể chịu ảnh hưởng nhất định từ trí nhớ của người trả lời.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các địa bàn có diện tích rừng sản xuất quy mô lớn và các vùng sinh thái rừng khác để so sánh đối chứng.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo chuỗi thời gian (panel data) để theo dõi và lượng hóa sâu hơn tác động dài hạn của các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (PEFS) và dự án REDD+ đối với sự chuyển dịch sinh kế hộ gia đình.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với:

  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, UBND tỉnh Bắc Kạn cùng các sở, ban, ngành địa phương trong việc xây dựng và điều chỉnh chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo và quản lý tài nguyên rừng.
  • Ban quản lý các chương trình, dự án lâm nghiệp: Cung cấp cơ sở thực tiễn để thiết kế các can thiệp sinh kế phù hợp với từng nhóm mức độ phụ thuộc vào rừng trong khuôn khổ các dự án REDD+ và PEFS.
  • Cơ quan nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung phân tích, quy trình phương pháp luận định lượng kết hợp kinh tế lượng và thang đo tính bền vững trong nghiên cứu kinh tế nông thôn, kinh tế phát triển và quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân loại mức độ phụ thuộc vào rừng của hộ dân dựa trên tiêu chí nào? Tác giả phân loại dựa trên tỷ trọng thu nhập từ rừng so với tổng thu nhập của hộ gia đình thành 3 nhóm chiến lược sinh kế: nhóm LS1 (phụ thuộc thấp, thu nhập từ rừng $\le 20%$), nhóm LS2 (phụ thuộc trung bình, thu nhập từ rừng từ $>20%$ đến $40%$), và nhóm LS3 (phụ thuộc cao, thu nhập từ rừng $> 40%$).

  2. Thu nhập bình quân và tỷ trọng thu nhập từ rừng của hộ dân tại địa bàn nghiên cứu là bao nhiêu? Thu nhập bình quân của hộ dân sống gần rừng tại địa bàn khảo sát đạt khoảng 34 triệu đồng/hộ/năm. Tỷ trọng thu nhập từ rừng đóng góp bình quân chiếm 28,9% trong tổng thu nhập hộ.

  3. Mức độ bền vững sinh kế khác nhau như thế nào giữa các nhóm hộ phụ thuộc vào rừng? Kết quả đánh giá theo Thước đo tính bền vững (Barometer of Sustainability) cho thấy: nhóm hộ phụ thuộc cao vào rừng (LS3) có mức độ bền vững thấp, mới chỉ tiệm cận mức trung bình và thu nhập tăng trưởng không đáng kể sau 5 năm; trong khi đó, nhóm hộ phụ thuộc thấp vào rừng (LS1) đạt mức tiệm cận bền vững và có mức tăng trưởng thu nhập tốt.

  4. Những mô hình kinh tế lượng nào được tác giả sử dụng trong phân tích dữ liệu? Tác giả sử dụng ba mô hình kinh tế lượng chính trên phần mềm Stata 13: mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới lựa chọn chiến lược sinh kế; mô hình hàm hồi quy đa biến ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ; và mô hình hàm nhị phân (Binary Logit) ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng nghèo của hộ.

  5. Những hạn chế chính của các chính sách lâm nghiệp tại địa phương được luận án chỉ ra là gì? Luận án chỉ ra rằng mức đơn giá hỗ trợ khoán bảo vệ rừng cho người dân hiện còn thấp, chưa đủ bù đắp chi phí cơ hội; công tác thu nộp và chi trả dịch vụ môi trường rừng (PEFS) còn nhiều khó khăn, vướng mắc; các hỗ trợ phát triển sinh kế thay thế khi thực hiện cam kết giảm phát thải (REDD+) chưa thực sự tạo được nguồn thu nhập ổn định cho người dân vùng cao.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hải Núi đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sinh kế bền vững cho người dân phụ thuộc vào rừng tại tỉnh Bắc Kạn. Bằng việc kết hợp khung phân tích sinh kế DFID, các mô hình kinh tế lượng trên phần mềm Stata 13 và thước đo Barometer of Sustainability, luận án đã lượng hóa thực trạng thu nhập (chiếm 28,9% từ rừng), phân hóa tính bền vững giữa các nhóm chiến lược sinh kế và chỉ ra vai trò quyết định của các nguồn vốn sinh kế. Công trình đã đúc kết 6 bài học kinh nghiệm và đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp đồng bộ, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quản lý, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ rừng tại tỉnh Bắc Kạn và các địa phương tương đồng.