phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung nghiên cứu chính của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản phẩm thủ công truyền thống; - Chƣơng 2: Thực trạng phát triển sản phẩm thủ công truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; - Chƣơng 3: Định hƣớng, mục tiêu, giải pháp phát triển sản phẩm thủ công truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. NỘI DUNG NGHI N CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ L LUẬN V THỰC TIỄN VỀ PH T TRIỂN SẢN PHẨM THỦ C NG TRU ỀN TH NG TR N ĐỊ N TỈNH QUẢNG TRỊ 1. Lý luận về phát tr ển sản p ẩm t ủ n tru ền t ốn 1.
Sản p ẩm t ủ n tru ền t ốn 1. Một số k n ệm *K n ệm n ềt ủ n tru ền t ốn Sản phẩm thủ công truyền thống ở nƣớc ta đã có từ rất lâu, đƣợc hình thành và tồn tại cùng với lịch sử phát triển của dân tộc, từ hàng triệu đến hàng vạn năm cách ngày nay. Nghề thủ công truyền thống tạo ra các sản phẩm truyền thống mang tính thủ công để phục vụ cho các mục đích sử dụng khác nhau của đời sống xã hội loài ngƣời. Đầu tiên, con ngƣời đã làm ra các sản phẩm thủ công với khoảng 12 loại nguyên liệu: đá, gỗ, tre, vỏ sò, vỏ ốc, đất, vỏ cây, dây leo, xƣơng, sừng, ngà, da,… nhƣng khi đó thủ công chƣa phải là nghề chuyên nghiệp, nó chỉ phục vụ cho việc hái lƣợm, săn bắt của con ngƣời.
Sau hàng ngàn, hàng vạn năm từ thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới, nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi) ra đời và thủ công nghiệp dần tách khỏi nông nghiệp và theo hƣớng chuyên môn hoá. Bên cạnh nông dân, một tầng lớp thợ thủ công đƣợc hình thành nhƣ thợ gốm, thợ rèn, sắt, thợ mộc, thợ nề, sau đó là thợ kim hoàn, thợ thêu, thợ nhuộm, thợ mây tre đan, thợ sơn son thếp vàng,… cũng dần hình thành và phát triển. Các sản phẩm từ những ngƣời thợ đó cũng rất phong phú, đa dạng. Các sản phẩm từ nghề rèn sắt, tiện, đồng nhƣ cuốc, cày, xẻng, liềm, hái, dao, rựa,… đến các sản phẩm thờ cúng nhƣ Tƣợng Phật, tháp đồng, chuông đồng, lƣ đồng,…; các sản phẩm nghề dệt, thêu nhƣ trang phục hàng ngày, trang phục, lọng lễ nghi, thờ cúng,…; sản phẩm nghề kim hoàn, dát vàng nhƣ đồ trang sức, đồ dùng, tủ thờ, liễn,…; sản phẩm nghề mộc, gỗ, khắc ván in, tạc tƣợng, sơn vẽ; nghề da; nghề đan; nghề làm lƣợc; nghề giấy; nghề khảm trai; nghề khắc đá; nghề chế tạo súng; nghề xây dựng; nghề nấu kẹo mạch nha, bún, bánh,… Từ một vài ngƣời thợ của một nghề, đã đào tạo thành nhiều ngƣời thợ trong một làng, một vùng, tạo thành các làng chuyên biệt.
Làng ở nƣớc ta trƣớc đây cũng 8 khá đơn giản, ban đầu chủ yếu là làng tiểu nông, sau đó tính chuyên biệt đã dần dà tạo ra làng ruộng (làng làm ruộng là chính), làng vƣờn (làng làm vƣờn vùng Nam Bộ), làng nghề (Bát Tràng, Triều Khúc, Kim Bồng, làng Vân…), làng buôn (Đồng Kỵ, Đa Ngƣu, Đình Bảng, Phú Thị,…) làng chài (ven sông, ven biển),… [8]. Từ quá trình lịch sử đó, hiện nay chúng ta có thể có những khái niệm rõ ràng hơn về nghề thủ công truyền thống: Theo Dƣơng Bá Phƣợng: “Nghề thủ công truyền thống bao gồm những ngành nghề phi nông nghiệp có từ trước thời thuộc Pháp còn tồn tại cho đến ngày nay. Nghề thủ công truyền thống còn bao hàm cả những ngành nghề được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng phải tuân thủ công nghệ truyền thống, thể hiện được những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam” [8]. Theo tác giả, có thể phân chia ngành nghề thủ công truyền thống thành các nhóm chính là: + Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhƣ gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, thêu, ren, thảm, khảm, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, chạm, mạ vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm, mây tre đan các loại,… + Các ngành nghề sản xuất công cụ sản xuất nhƣ rèn, sắt, làm cày bừa, nông cụ, đóng thuyền,… + Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thƣờng nhƣ dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, sọt, bồ; bện thừng, chạo, dệt vải; may mặc, … + Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống nhƣ nề, mộc, hàn, đúc đồng, gang, sản xuất vật liệu xây dựng,… + Các ngành nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm nhƣ xay xát, làm bún, bánh, đƣờng, mật, làm tƣơng, đậu phụ, nấu rƣợu, chế biến hải sản các loại,… [8] *K n ệm sản p ẩm t ủ n tru ền t ốn Nhƣ vậy, có thể hiểu, sản phẩm thủ công truyền thống là những sản phẩm được sản xuất ra từ nghề thủ công truyền thống và có những đặc tính sau: - Tính thủ công và truyền thống, tri thức tích tụ lâu đời - Đƣợc làm chủ yếu từ những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên nhƣ phẩm phẩm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản hoặc mây, tre, cói, dệt tơ tằm, thổ cẩm, thêu, ren, thảm, khảm, chạm khắc gỗ, đá, chạm, mạ vàng bạc, hay sơn mài, gốm sứ mỹ nghệ,…Chúng đƣợc làm thủ công bằng tay.
9 - Là những mặt hàng thuộc các ngành nghề truyền thống, đƣợc sản xuất ra bởi các thợ thủ công có tay nghề cao, độc đáo, truyền qua nhiều thế hệ và đƣợc phát triển thay đổi theo nhu cầu của cuộc sống. - Là sản phẩm của những ngành nghề thủ công truyền thống, mang đậm nét của một nền văn hoá dân tộc, nên nó không chỉ là những sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những văn hoá phẩm phục vụ thờ cúng, đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thƣởng thức những tinh hoa văn hoá của dân tộc. Đặ ểm ủ sản p ẩm t ủ n tru ền t ốn Nghề thủ công truyền thống sản xuất ra các sản phẩm thủ công truyền thống. Vì thế đặc điểm của sản phẩm thủ công truyền thống gắn liền với nghề thủ công truyền thống và có các đặc điểm sau: - ản phẩm thủ công truyền thống với các bí quyết của nó là sản phẩm có bề dày lịch sử hàng ngàn năm của nền văn hoá Việt Nam, một nền văn hoá lấy cộng đồng làng làm đơn vị t ch c x hội cơ bản.
Làng nghề truyền thống là một bộ phận của làng Việt cổ truyền, đã tạo ra nhiều sản phẩm không những có giá trị về hàng hoá mà còn có nhiều giá trị về văn hoá và lịch sử. Các bí quyết và quy trình nghề, các nghệ nhân, các sản phẩm đƣợc lƣu truyền cùng với toàn bộ cảnh quan, môi trƣờng, các hệ thống giá trị và chuẩn mực, lối sống, phong tục tập quán, lễ hội của làng nghề truyền thống đã và đang trở thành một di sản văn hoá cần đƣợc bảo tồn và phát huy. các giá trị về văn hoá và lịch sử này là rất quan trọng, thông qua chuyển đổi số, các giá trị này đƣợc số hoá, lƣu giữ và quảng bá ra toàn thế giới. - ản phẩm thủ công truyền thống với bề dày lịch sử là s tích tụ, biểu hiện của đa dạng văn hóa dân tộc vào từng sản phẩm cụ thể.
Sự đa dạng về tộc ngƣời (Việt, Khmer, Hoa, H Mông, Dao,.), về không gian văn hóa sinh tồn (mỗi làng, mỗi nghề, mỗi sản phẩm có những không gian văn hóa riêng biệt),., đã dẫn đến sự đa dạng trong từng sản phẩm của mỗi con ngƣời, trong mỗi thời điểm khác nhau - ỗi làng nghề truyền thống là một “bảo tàng sống” về truyền thống văn hóa. Những truyền thống văn hóa đó đƣợc hình thành và chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành đặc trƣng, bản sắc của mỗi cộng đồng. Các sản phẩm 10 của nghề thủ công truyền thống phục vụ nhu cầu sử dụng của con ngƣời; luôn đƣợc kế thừa và sáng tạo phù hợp với nhu cầu của các tầng lớp khác nhau trong mỗi bối cảnh xã hội khác nhau. Các sản phẩm đó chính là biểu trƣng, bản sắc tộc ngƣời và nhóm cộng đồng, đây là cơ hội để chúng ta có thể giao lƣu văn hoá, hoà nhập cộng đồng quốc tế, từng bƣớc phát huy và bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc.
- ản phẩm thủ công truyền thống gắn liền với những vật dụng phục vụ đời sống nhân dân địa phương, gắn liền với công cụ sản xuất, đặc biệt lĩnh v c nông nghiệp nông thôn nước ta. Hiện nay, nghề thủ công truyền thống đang đóng một vai trò quan trọng trong xã hội, cùng với nền sản xuất công nghiệp tạo ra một khối lƣợng sản phẩm lớn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng đang ngày càng đa dạng, giải quyết việc làm cho lao động dƣ thừa ở nông thôn, tăng thu nhập quốc dân và ngân sách nhà nƣớc, xoá bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn. Các ngành nghề truyền thống còn cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn của đất nƣớc. Việc kết hợp máy móc công nghệ hiện đại sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo ra một lƣợng lớn sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội.
- Trong bối cảnh hiện nay, thị trường m rộng cả trong nước và quốc tế, dẫn đến người tiêu d ng rất đa dạng và phong ph. Song, ngƣời tiêu dùng, đặc biệt là du khách nƣớc ngoài lại chuộng sử dụng sản phẩm thủ công truyền thống. Tính chất truyền thống, phong tục riêng của từng địa phƣơng, tính độc đáo về hình thức sản phẩm và cả địa danh làm ra sản phẩm đó. đều góp phần làm tăng giá trị của sản phẩm.
Đồng thời, làng nghề truyền thống còn là điểm du lịch lý thú cho khách tham quan trong và ngoài nƣớc, góp phần đáng kể vào thu nhập cho các làng nghề. Thực tế là, việc sản xuất hàng loạt và chạy theo thị hiếu, chạy theo các mẫu mã đặt hàng đã làm lai căng, biến dạng dần các mẫu sản phẩm thủ công truyền thống vốn là kết tinh tài hoa của cha ông từ hàng ngàn năm để lại. Thậm chí, có những sản phẩm mà ngƣời ta không thể nhận diện ra đƣợc bản sắc văn hoá truyền thống của địa phƣơng đó nữa. Cần nhấn mạnh rằng, giá trị của sản phẩm thủ công truyền thống không chỉ đƣợc đánh giá bởi chất lƣợng hàng hóa, mà nó còn đƣợc đánh giá bằng hàm lƣợng văn hóa chứa trong đó.