CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN RỪNG TRỒNG GỖ LỚN 1. Cơ sở lý luận về phát triển rừng trồng gỗ lớn 1. Các khái niệm cơ bản 1. Phát triển Thuật ngữ “Phát triển” thông dụng từ sau chiến tranh thế giới thứ II, khái niệm này được hình thành vào cuối những năm 1940.
Theo World Bank (1991) cho rằng phát triển không chỉ là sự tăng trưởng về kinh tế mà còn bao gồm cả những vấn đề liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, tự do về chính trị và quyền tự do con người [96]. Có quan điểm cho rằng phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người, phân phối lại công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội. Phát triển được coi là quá trình hoàn thiện, biến đổi chặt chẽ, kết hợp cả chất và lượng trên các khía cạnh khác nhau, có thể xảy ra ở các bộ phận khác nhau với cách khác nhau, tốc độ khác nhau do những lực lượng khác nhau. Như vậy, đo lường sự phát triển ở mức độ nào cũng phải xét bình diện trên nhiều góc độ [77].
Năm 1980, trong “Chiến lược bảo tồn Thế giới” công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (IUCN), thuật ngữ “Phát triển bền vững” được sử dụng. Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ sau [98]. Theo Ủy ban quốc tế về phát triển và môi trường (UN, 1992) cho rằng “Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, khai thác và sử dụng tài nguyên, đầu tư, phát triển công nghệ kỹ thuật, sự thay đổi tổ chức là thống nhất, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người” [94]. Khái niệm này được bổ sung điều chỉnh là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Bùi Thế Cường và Đỗ Minh Khuê (2006) chỉ ra nhiều quan điểm khác nhau về phát triển, nhưng điểm chung phát triển là một điều tích cực đáng mong muốn đối với một đối tượng, một khu vực hay cả xã hội. Phát triển được coi là quá trình hoàn 8 thiện, biến đổi chặt chẽ, kết hợp cả chất và lượng trên các khía cạnh khác nhau. Có thể xảy ra ở các bộ phận khác nhau với cách khác nhau, tốc độ khác nhau do những lực lượng khác nhau [13]. Trịnh Kim Liên (2013) cho rằng phát triển là sự chuyển biến từ dạng thấp lên trạng thái cao hơn, với trình độ và chất lượng cao hơn.
Phát triển kinh tế là sự tăng tiến về lượng và sự tiến bộ về chất với sự kết hợp chặt chẽ và hoàn thiện kinh tế - xã hội [24]. Mục tiêu chung của Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng, hướng tới là phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Từ đó Tác giả cho rằng, thuật ngữ “Phát triển” có thể được hiểu như sau: “Phát triển là một quá trình cải thiện có chủ ý nhằm phát triển theo cả chiều rộng (tăng về quy mô), phát triển chiều sâu (tăng về chất lượng) ngày càng tốt hơn, đi theo hướng bền vững kinh tế - xã hội và cải thiện môi trường”. Phát triển rừng trồng Các nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết phát triển vào nghiên cứu các vấn đề nông nghiệp nông thôn, trong đó có cả lâm nghiệp.
Phát triển tăng trưởng khu vực nông thôn sẽ giúp xóa đói giảm nghèo không riêng khu vực nông thôn, mà còn giảm nghèo ở cả khu vực thành thị [49]. Theo Chương V Phát triển rừng trong Luật lâm nghiệp (2017), phát triển rừng là việc trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích rừng, khả năng cung cấp lâm sản, và các giá trị khác của rừng. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về phát triển rừng sản xuất nói chung hay rừng gỗ lớn nói riêng được đề cập theo các đối tượng và phạm vi khác nhau [28]. Như vậy, phát triển rừng trồng được hiểu là một quá trình cải thiện có chủ ý nhằm phát triển theo cả chiều rộng (tăng về quy mô), phát triển chiều sâu (tăng về chất lượng) ngày càng tốt hơn của rừng trồng, đi theo hướng bền vững kinh tế - xã hội và cải thiện môi trường.
Gỗ lớn Rừng là một tổng thể nhiều cá thể cây gỗ, có mối liên hệ với nhau, chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển [72]. Trong tổng thể cây 9 gỗ, được phân ra nhiều loại để phục vụ cho các mục đích khác nhau. Trong đó, khái niệm “Gỗ lớn” được đưa ra trên nhiều quan điểm. Quan điểm 1: Khái niệm gỗ lớn tiếp cận theo quan điểm chu kỳ kinh doanh dài.
Gỗ lớn là sản phẩm của cây rừng có liên quan đến chiều dài luân kỳ (thời gian giữa hai lần chặt cuối cùng). Đây là yếu tố quyết định quan trọng đến kích thước và độ tuổi của rừng [81] [106]. Khi tiếp cận theo quan điểm này, có thể nhận định rằng để sản xuất gỗ lớn là gỗ có chu kì kinh doanh rừng trồng dài khác nhau, thường từ 10 năm trở đi. Tuy nhiên, theo cách tiếp cận này còn chưa xét đến các yếu tố về đặc tính loài cây, về kích thước, tính chất hay công dụng khác.
Quan điểm 2: Khái niệm gỗ lớn tiếp cận theo quan điểm là cây cổ thụ lớn, cây bản địa quý. Theo quan điểm tiếp cận này thì gỗ lớn là sản phẩm khai thác từ những cây lâu đời, thời gian trồng rất dài. Quan điểm "Gỗ lớn" từ chủ rừng địa phương, theo đó gỗ lớn là cây gỗ quý theo truyền thống, cây bản địa có tuổi đời 40-50 tuổi với đường kính lớn. Sự phát triển của những cây này là không thực tế vì chúng mất quá nhiều thời gian để sinh trưởng, trong khi họ không chắc chắn yếu tố ổn định trong tương lai.
Chủ rừng cho rằng gỗ lớn là gỗ có giá trị từ cây có tuổi đời lâu, được trồng hàng chục, hàng trăm năm, thường là những cây bản địa quý của địa phương. Chứ người trồng rừng không quan tâm đến kích thước hay những yếu tố quy định khác [48]. Tuy nhiên, khi đưa quan điểm này để thuyết phục các chủ rừng trồng và sản xuất thì rất khó thực hiện để đảm bảo được lợi ích kinh tế, chưa phù hợp với phương thức canh tác thực tế “Lấy ngắn nuôi dài” với điều kiện thực tế của hộ gia đình. Cũng từ thực tế điều tra, hầu hết các chủ rừng của địa phương (Quảng Trị) khi được hỏi về “gỗ lớn” thì chủ rừng đang nhầm lẫn giữa gỗ lớn và gỗ có chứng chỉ FSC.
Chủ rừng chưa có một định hình về tiêu chuẩn sự khác nhau giữa gỗ có chứng chỉ và gỗ lớn để có sự phân biệt rõ ràng. Quan điểm 3: Khái niệm gỗ lớn tiếp cận theo quan điểm từ kích thước gỗ phù hợp với mục đích sử dụng. Khi đề cập đến “gỗ lớn” trong các nghiên cứu, cũng có những quan điểm cho rằng gỗ lớn là gỗ có kích thước lớn, phù hợp với mục đích sử dụng [73]. 10 Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 126-2006 về hướng dẫn kỹ thuật trồng cây gỗ lá rộng dưới tán rừng trồng để cung cấp gỗ lớn khái niệm “Gỗ lớn” trong bản hướng dẫn kỹ thuật này được hiểu là sản phẩm gỗ tròn khi khai thác cây có mục đích, có đường kính từ 25 cm trở lên và chiều dài sản phẩm tối thiểu là 3m [5].
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11567:2016 về rừng trồng – rừng gỗ lớn chuyển hoá từ rừng trồng gỗ nhỏ sử dụng thuật ngữ gỗ lớn là gỗ có đường kính đầu nhỏ lớn hơn hoặc bằng 15m và chiều dài lớn hơn hoặc bằng 2m [7]. Theo Quyết định số 02/1999/QĐ- BNN-PTLN ngày 05/1/1999 ban hành quy chế về khai thác gỗ, lâm sản đã đưa ra cấp đường kính khai thác tối thiểu đối với rừng kinh doanh gỗ lớn [4]. Một số quyết định khác được ban hành đã nhấn mạnh gỗ lớn theo yêu cầu về kích thước gỗ. Chỉ ra rằng, để khai thác được sản phẩm gỗ có kích thước đạt tiêu chuẩn gỗ lớn (đường kính >= 15 cm) và tùy từng điều kiện cụ thể có thể kéo dài thời gian nuôi dưỡng rừng (trên 10 năm đối với cây Keo; trên 14 năm đối với cây Mỡ,.
Từ việc tổng luận một số các nghiên cứu của tác giả, các công trình đã đưa ra những khái niệm gỗ lớn theo các cách tiếp cận riêng, nhưng có rất ít các học thuật nghiên cứu về khái niệm niệm gỗ lớn xét về tiêu chuẩn vật lý của gỗ. Trong điều kiện kéo dài thời gian trồng, đường kính ngang ngực lớn, được gọi là “gỗ lớn” nhưng tính chất cơ lý của gỗ không đủ tiêu chuẩn để sản xuất thì mục đích sử dụng liệu có đạt hiệu quả cao hay không?. Tuy nhiên, cũng như kết quả từ việc tổng luận các nghiên cứu ngoài nước, các nghiên cứu trong nước tiếp cận khái niệm gỗ lớn theo các quan điểm khác nhau và chưa được thống nhất: Có nghiên cứu chỉ đề cập đến khái niệm gỗ lớn là gỗ có chu kỳ trồng dài (thường trên 10 năm trở đi), có những quan niệm của chủ rừng thì gỗ lớn là những đối tượng cây bản địa cổ thụ. Các doanh nghiệp chế biến lại tiếp cận khái niệm gỗ lớn theo mục đích sử dụng và đáp ứng được yêu cầu.
Một số những nhận định thì cho rằng gỗ có kích thước đường kính đầu nhỏ lớn hơn 25cm, hoặc những cây gỗ có đường kính ngang ngực ≥ 15cm cũng được gọi là “Gỗ lớn”. Từ đó, Tác giả đưa ra nhận định khái niệm gỗ lớn được khái quát như sau: “Gỗ lớn là những cây gỗ có thân chính rõ ràng, dài (chiều dài lớn ≥ 2m), có kích cỡ lớn (đường kính đầu nhỏ ≥ 15cm), thường có chu kỳ trồng dài (đối với loài 11 cây Keo từ 10 năm trở đi), đáp ứng được các yêu cầu về tính chất cơ – lý của gỗ để phục vụ cho mục đích chế biến gỗ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu”. Phát triển rừng trồng gỗ lớn Phát triển nông nghiệp bền vững là việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cho hiện tại và thế hệ sau.