Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên rất gần gũi với người dân sống trong rừng và gần rừng, ngày nay lâm sản ngoài gỗ cũng là đối tượng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Trong đó nhóm cây làm rau ăn đã thể hiện rõ nét nhất điều này, từ xa xưa con người đã biết sử dụng các loại rau, lá, hoa, quả… để chế biến thành các món ăn từ đơn giản đến phức tạp. Về sử dụng rau rừng Rau rừng là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các loài thực vật có thể sử dụng làm rau ăn hàng ngày. Rau rừng là một nhóm sản phẩm của lâm sàn ngoài gỗ.
Theo tổ chức Lương nông liên hợp quốc (FAO) – 1999: “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng.” Và cho đến bây giờ lâm sản ngoài gỗ (LSNG) nói chung và rau rừng nói riêng vẫn có rất nhiều giá trị đối với kinh tế, xã hội và môi trường 1. Lược sử nghiên cứu trên thế giới Việc mô tả các loài thực vật được bắt đầu từ rất sớm, người ta tìm thấy tài liệu mô tả thực vật ở Ai Cập khoảng 3000 năm trước Công nguyên, và ở Trung Quốc 2000 năm trước Công nguyên. Kiến thức về cây cỏ được loài người ghi chép và lưu lại từ rất sớm. Sớm nhất có lẽ là tác phẩm của Aristote (384-322 trước Công nguyên).
Tiếp đó là tác phẩm “Lịch sử thực vật” của Theophraste (khoảng năm 349 trước Công nguyên). Trong đó, Ông đã mô tả, giới thiệu gần 500 loài cây cỏ với các chỉ dẫn về nơi mọc và công dụng. Tuy nhiên trong giai đoạn này những nghiên cứu về thực vật làm thuốc là chủ yếu. Các nghiên cứu về thực vật rừng có giá trị thực phẩm bắt đầu được quan tâm trong giới khoa học khi thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ ra đời.
Tuy 2 nhiên các nghiên cứu hầu như chỉ quan tâm tới những loài có giá trị kinh tế cao như cao su, cánh kiến, nhựa thông, ca cao. Những loài có giá trị tiềm ẩn của các loài thực vật rừng được sử dụng làm rau ăn thông qua vai trò của nó với cộng đồng ít được quan tâm. Những loài này chỉ được biết đến như một thành phần của hệ sinh thái tự nhiên. Trong khi đó việc tìm hiểu chúng thông qua kiến thức cộng đồng là rất hạn chế.
Đứng trước nguy cơ suy thoái tài nguyên rừng, mối quan hệ giữa cộng đồng với tài nguyên rừng từng bước được xem xét một cách toàn diện. Tất cả đều dẫn tới câu trả lời chung: muốn bảo tồn tài nguyên rừng cần có sự hỗ trợ đắc lực của cộng đồng dân cư sống trong rừng và gần rừng. Gắn chặt lợi ích của họ với rừng, đồng thời sử dụng kiến thức của họ cho chính nơi họ sinh sống. Vấn đề này được đặc biệt quan tâm tại các nước kém phát triển – đa số các nước này thuộc vùng nhiệt đới tài nguyên rừng hết sức phong phú.
Các tổ chức phi chính phủ và các nước phát triển hỗ trợ và đầu tư cho các dự án đầu tư nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ để tìm hướng phát triển cho các cộng đồng. Kiến thức bản địa rất được quan tâm, được trở thành mục đích nghiên cứu của nhiều dự án phát triển cộng đồng. Nghiên cứu rau rừng tại Đông Dương Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ được bắt đầu từ khi người Pháp thiết lập chính quyền đô hộ tại Đông Dương. Họ đã áp dụng hình thức quản lý của Châu Âu đối với nghề rừng tại đây, đồng thời tiến hành nghiên cứu khoa học.
Kết quả của hàng loạt các chuyến khảo sát do chuyên gia pháp thực hiện là những cuốn sách về hệ thực vật và các sản vật của Đông Dương. Chúng ta có thể kể đến một số các nghiên cứu sau: - “Những ghi chép về những sản phẩm chủ yếu của tại Đông Dương” (Notes sur les principaux produits de L’Indochine – Saigon 1900) của tác giả A. 3 - “Thực vật chí Đông Dương” do Lecomte (1907 – 1952) chủ biên. Và một số tác phẩm khác có đề cập tới thực vật được sử dụng làm rau ăn.
Tới năm 1931 nhiều lâm sản ngoài gỗ trong đó có các loài rau được giới thiệu trong triển lãm tại Pari. Sau này với sự ra đời của “Viện nghiên cứu Nông lâm Đông Dương” năm 1937, những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ được tiến hành. Tuy nhiên thực vật rừng được sử dụng làm rau ăn không được quan tâm. Trong sự phát triển chung của thế giới và cùng hướng tới mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở các nước kém phát triển.
Các tổ chức phi chính phủ đầu tư nghiên cứu các loại lâm sản ngoài gỗ trong cộng đồng từ đó làm cơ sở phát triển chúng tại địa phương. Đông dương là một trong những khu vực tiến hành các dự án này. Một số tác phẩm được biên soạn từ kết quả của các dự án: Cuốn sánh “Non Timber Forest Products in the Lao PDR” năm 2007 là kết quả hợp tác của các tổ chức phi chính phủ với Lào. Cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Anh, chia làm 2 phần: Phần I – Lâm sản ngoài gỗ và con người; Phần II – Thông tin về các loài lâm sản ngoài gỗ với 5 nhóm chính là thực phẩm, thuốc men, sợi, chiết xuất, cây cảnh.
Trong đó nhóm thức ăn được đề cập tới tất cả các loài thực vật bậc cao. Với các nội dung: mô tả bậc taxon, mô tả loài, và các thông tin liên quan tới loài về thu hái, buôn bán… 1. Tại Việt Nam Việt Nam là một bộ phận của Đông Dương về mặt địa lý, có cùng lịch sử đô hộ bởi thực dân Pháp. Những nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ - nói chung, những nghiên cứu về rau rừng nói riêng đều được bắt đầu nghiên cứu một cách khoa học từ khi thực dân Pháp thiết lập chính quyền đô hộ.
Tuy nhiên những kiến thức về các loài rau rừng được luôn được người dân tìm hiểu và tích lũy. Những kiến thức này được lưu truyền trong cộng đồng cũng như qua các thế hệ đều thông qua kênh thông tin cộng đồng. 4 Ngay sau năm 1954, nước ta bắt đầu đầu tư nghiên cứu và khai thác lâm sản. Nhưng mục tiêu trong giai đoạn này là các cây gỗ, và sản phẩm từ gỗ.
Năm 1974 “Phân viện Đặc sản rừng” được chuyển việc quản lý trực tiếp từ viện Lâm nghiệp sang tổng công ty Lâm đặc sản. Đánh dấu sự bắt đầu quan tâm tới lâm sản ngoài gỗ, và đặt chúng ngang bằng với các lâm sản là gỗ. Tuy nhiên, mối quan tâm trong giai đoạn này là các sản phẩm cho giá trị kinh tế cao: dược liệu, sản phẩm của cây công nghiệp,… Rau rừng dường như vẫn rất ít được đề cập tới. Năm 1995, Phân viện Lâm đặc sản được trở về Viện Khoa học Lâm nghiệp và được đổi tên thành “ Trung tâm nghiên cứu Đặc sản rừng” cho tới nay.
Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam đã biên soạn cuốn “Rau rừng” – Nhà xuất bản Quân đội, bước đầu nghiên cứu một số loại rau rừng. Cuốn sách tổng kết lại theo kinh nghiệm sử dụng rau rừng của người lính trong 30 năm sống và chiến đấu trong rừng. Trong đó 150 loài đã được mô tả với 56 loài có thể sử dụng trực tiếp, 36 loài phải qua chế biến, 11 loài ăn quả, 10 loài làm nước uống. Gần đây, lâm sản ngoài gỗ được nhiều quan tâm từ nhiều hướng.
Ngoài những nỗ lực nghiên cứu của các chuyên gia trong nước, còn được sự hỗ trợ cả về tài chính, vật chất cũng như con người của các tổ chức phi chính phủ, các quốc gia phát triển. Lâm sản ngoài gỗ đã trở thành một môn học của các trường trong khối Nông – Lâm – Ngư nghiệp. Hệ thống bài giảng luôn được cập nhật các thông tin mới nhất. Trong cuồn giáo trình “Lâm sản ngoài gỗ” xuất bản năm 2009 – nhà xuất bản Nông nghiệp, nhóm tác giả đại học lâm nghiệp đã thống kê 6 nhóm lâm sản ngoài gỗ.
Trong đó nhóm thực phẩm có nguồn gốc thực vật như chồi, lá, hoa, quả, hạt, nấm…gồm 30 loài. Một số dự án có tính chất ứng dụng trong phát triển rau rừng được Bộ Nông nghiệp&PTNT và một số địa phương tiến hành. Mối quan tâm về việc 5 bảo tồn và phát triển rau rừng dần dần được khẳng định. Bộ Nông nghiệp & PTNT thực hiện dự án “Bảo tồn loài rau Sắng chùa Hương bằng phương pháp giâm hom”.
Tại Lâm Đồng đề tài “Đánh giá tiềm năng của cây lá bép tại Lâm Đồng” của kỹ sư Nguyễn Thành Đạt, Trung tâm nghiên cứu Ứng dụng kỹ thuật Nông nghiệp. Cuốn sách “Edible wild plants of Vietnam” do 2 tác giả Youshitaka tanaka và Nguyễn Văn Kế biên soạn. Đây là kết quả của dự án “Indigenous Plant Species Used As Vegetable, Fruits, Herbs, Spices and Medicine in Some Ethnic Minorities in Vietnam” thực hiện trong khoảng những năm 1998 – 2003 của Nguyễn Văn Kế và Võ Văn Chi. Trong cuốn sách này 130 loài thuộc 59 họ thực vật bậc cao được thống kê với 4 tiêu chí: Đặc điểm thực vật, phân bố, thành phần và cách sử dụng.
Về nhân giống 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nhân giống sinh dưỡng là sự nhân giống từ một bộ phân sinh dưỡng của cây như: lá, cành, thân, củ, mô phân sinh hoặc sự tiếp hợp các bộ phận sinh dưỡng (ghép) để tạo thành cây mới. Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằng hom, củ khí sinh, chiết cành, ghép, nuôi cấy mô phân sinh…Còn theo nghĩa hẹp thì nhân giống sinh dưỡng thường được hiểu là nhân giống hom. Cùng với sự phát triển của công tác chọn giống, kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng ngày càng được ứng dụng rộng rãi.
Ngay cả với những cây trồng bằng hạt dễ dàng, nhưng để đưa nhanh kết quả chọn giống vào sản xuất, để giữ đặc tính đã chọn nào đó người ta thường sử dụng nhân giống hom. Nhân giống hom là một phương thức nhân nhanh các loài cây quý hiếm đang bị đe dọa, vì vậy đây được xem là phương thức quan trọng góp phần bảo tồn nguồn gen cây rừng.