CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo Ủy ban Kinh tế vùng Châu Mỹ La tinh và Caribe (ECLAC, 2011) về tác động của BĐKH lên lĩnh vực nông nghiệp Guyana, mô hình kinh tế lượng đã được áp dụng để lượng hóa mối quan hệ giữa BĐKH và NTTS.
Trong mô hình, nhóm tác giả đã xây dựng được mối quan hệ về sự phụ thuộc của sản lượng hải sản (bao gồm cả khai thác và NTTS trên biển) với các yếu tố như giá hải sản xuất khẩu, nhiệt độ bề mặt nước biển và lượng mưa năm theo 3 kịch bản BĐKH đến năm 2050 của IPCC xây dựng [6]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, các tác giả đã không xem xét đồng thời tác động của các yếu tố kỹ thuật (công nghệ nuôi, sử dụng con giống, thức ăn, hóa chất,.) đến sản lượng thủy sản, cũng như tần suất và cường độ các cơn bão, lũ lụt hoặc hạn hán có thể xảy ra trong cả thời kỳ nghiên cứu nên kết quả mô hình cần được xem xét thêm. Tuy nhiên, đây là một hướng nghiên cứu tiềm năng cần được xem xét, chỉnh lý và phát triển để áp dụng vào việc lượng hóa các tác động của BĐKH đến NTTS tại TX Quảng Yên trong nghiên cứu của luận văn này. Đến nay, mặc dù hiện tượng BĐKH toàn cầu do con người gây ra đã được thừa nhận, nhưng từ phương diện nghiên cứu khoa học, thông tin liên quan đến BĐKH còn chứa nhiều yếu tố không chắc chắn.
Nghiên cứu tổng quan của De Silva và Soto (2009), De Silva (2012), Cochrane et al. (2009), Badjeck et al. (2010) [10] về tác động tiềm tàng của BĐKH đến ngành thủy sản cho thấy các nghiên cứu tác động BĐKH trong ngành thủy sản đều chứa đựng yếu tố không chắc chắn, thường dựa trên các tính chất đặc thù của giống loài thủy sản và mối tương quan với môi trường tự nhiên để phán đoán. Đây là những điểm cần lưu ý khi thực hiện đánh giá tác động của BĐKH đến hoạt động NTTS khu vực TX Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Trên thế giới, nghiên cứu tác động của khí hậu, thời tiết đến hoạt động NTTS đã được quan tâm từ khá lâu nhưng nghiên cứu về mối quan hệ, đặc biệt là tính dễ bị tổn thương do BĐKH đối với hoạt động NNTS vẫn còn ở mức hạn 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Neil Adger, Trung tâm nghiên cứu Kinh tế - xã hội về môi trường toàn cầu - Đại học East Anglia Vương quốc Anh, là một trong các nhà khoa học nghiên cứu sâu về tác động của BĐKH đến hoạt động NNTS. Năm 1999, ông đăng tải nghiên cứu về tác động do BĐKH đến các hình thức NTTS, bước đầu tài liệu này đã đưa ra cách tiếp cận trong đánh giá BĐKH và có khả năng áp dụng trên quy mô toàn cầu [33]. CARE là tổ chức đã hướng đến sử dụng đánh giá tính dễ bị tổn thương và năng lực trong bối cảnh BĐKH.
Năm 2007, CARE xây dựng khung đánh giá sử dụng trong an ninh sinh kế hộ NTTS. Trong khung đánh giá này, CARE tiếp cận theo hướng thích ứng BĐKH nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trong các hoạt động khai thác và NTTS. Alisson và các cộng sự đã đưa ra tính dễ bị tổn thương của kinh tế nhà nước do tác động của BĐKH trong ngành thuỷ sản. Tài liệu này đã so sánh tính dễ bị tổn thương của các nền kinh tế trước tác động tiềm tàng của BĐKH trên ngành khai thác thuỷ sản của họ.
Ông đã phân tích tính dễ bị tổn thương dựa trên phân tích tác động tiềm tàng (Potental Impacts) của BĐKH bao gồm mức độ tác động (Exposure), tính nhạy cảm (Sensitivity) và năng lực thích ứng (Adaptive Capacity). Tuy nhiên, trong báo cáo này Alisson và cộng sự chỉ mới sử dụng khung đánh giá tập trung vào đánh giá sinh kế nói chung chưa có đánh giá cụ thể cho từng hoạt động NTTS. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Trong bối cảnh BĐKH ngày càng rõ rệt như hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực chống lại BĐKH với các hoạt động, dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: nông nghiệp, giao thông, thủy lợi với nhiều cơ quan chuyên môn cũng như các tổ chức quốc tế nghiên cứu và triển khai trong những năm qua. Năm 1996, lần đầu tiên Tom G và cộng sự [7] đã nghiên cứu về tính diễn biến thủy triều của đới bờ Việt Nam do sự gia tăng mực nước biển và BĐKH, đã chỉ ra khả năng rủi ro cao cho khoảng 17 triệu dân khu vực đồng bằng ven biển.
Theo báo cáo “Phân tích tác động của BĐKH đến nông nghiệp Việt Nam đề xuất các biện pháp thích ứng và chính sách giảm thiểu” trong dự án tăng cường 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng lực BĐKH cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [7], cũng đã đưa ra nhưng kết quả nghiên cứu về thiệt hại của lĩnh vực nông nghiệp trước thiên tai trong giai đoạn thập niên 90 và 2000; đưa ra cảnh báo về sự giảm năng suất của cây trồng; mất đất do nước biển dâng. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường [7] đã nghiên cứu và xây dựng hướng dẫn “Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng” nhằm phục vụ cho công tác xây dựng kế hoạch hành động của các Bộ, ngành địa phương với BĐKH. Hướng dẫn sử dụng cách tiếp cận như sau: - Đánh giá tác động của BĐKH ở thời điểm hiện tại sau đó đánh giá tác động trong tương lai dựa vào các kịch bản kết hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường; - Đánh giá tác động của BĐKH theo ngành, vùng địa lý, ranh giới hệ sinh thái… Tổ chức CARE International nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong đó đề cập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân. Nghiên cứu cho thấy người nghèo và người dân vùng ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất.
Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất nông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng (Morten Fauerby Thomsen, 2010). Ngoài ra Tổng cục Môi trường Việt Nam – Bộ Tài nguyên Môi trường, cũng đã có nhiều đề án nghiên cứu về BĐKH tại tỉnh Quảng Ninh. Ví dụ, dự án “Nghiên cứu đánh giá tác động BĐKH mức độ thiệt hại đến hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất địa bàn tỉnh Quảng Ninh” đã đưa ra được mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất trong bối cảnh BĐKH cũng như kế hoạch ứng phó của tỉnh trước những nguy cơ tác động này. Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đánh giá tác động và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng tại khu vực đảo Hà Nam, TX Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” của Lương Thị Thu Huệ (2014) [9], đã chỉ ra được các biểu hiện và xu hướng của BĐKH trong vòng 15 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm qua tại đảo Hà Nam - một địa điểm nhạy cảm với BĐKH thuộc địa bàn TX Quảng Yên.
Luận văn đã đánh giá được những tác động của BĐKH đến cộng đồng địa phương tại khu vực đảo Hà Nam, đồng thời xem xét những hệ lụy của các tác động này đến quá trình thực hiện phát triển bền vững và kinh tế xanh theo chiến lược của tỉnh. Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về NTTS, nội dung đa phần là đánh giá về thực trạng NTTS, phân tích yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp cụ thể: Nguyễn Tài Phúc (2005) với “Nghiên cứu phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế” [15], đã đánh giá thực trạng về hệ thống tổ chức quản lý nuôi trồng vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế giai đoạn 1998-2004; trọng tâm là nuôi tôm, tác giả dùng phương pháp phân tích hàm sản xuất để phân tích lượng hóa ảnh hưởng các yếu tố đầu vào với năng suất tôm, đánh giá được hiệu quả nuôi trồng theo mô hình thâm canh và bán thâm canh. Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NTTS của vùng đầm phá ven biển Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu chỉ phân tích 1 loại sản phẩm là tôm trong khi ở các vùng ven biển khác lại có sự phát triển đa dạng các loài khác như ngao, cá.
Nguyễn Thị Quỳnh Anh (2014), luận án “Giải pháp kinh tế và quản lý môi trường cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản các huyện phía nam Thành phố Hà Nội” [2], đã phân tích, đánh giá kết quả phát triển NTTS giai đoạn 2009 – 2011, với nuôi cá ưu thế, những ảnh hưởng của sự phát triển này đến các thành phần môi trường, nhằm đề xuất hoàn thiện hệ thống các giải pháp về kinh tế và quản lý môi trường nhằm thức đẩy NTTS phát triển ổn định hơn nữa. Đặng Thị Hoa (2014) cho rằng biến đổi khí hậu làm năng suất thủy sản giảm sút, chết hàng loạt, nguồn lợi hải sản suy giảm, rạt ra xa bờ, gây thiệt hại lớn cho ngành thủy sản. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng muốn giảm tác động của biến đổi khí hậu cần nâng cấp, gia cố các khu NTTS vững chắc hơn, thay đổi kỹ thuật nuôi trồng. Nguyễn Thanh Long (2015) kết luận nuôi tôm thẻ chân trắng là một trong những mô hình nuôi thủy sản quan trọng ở vùng ven biển tỉnh Cà Mau và lợi nhuận thu được là rất cao nhưng chi phí là đầu tư lớn, đặc biệt là chi phí thức ăn, cơ sở hạ tầng, dịch bệnh nhiều.
Nguyễn Thị Thanh Hương (2016) [11] chỉ ra 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển NTTS của các hộ nông dân đang gặp các khó khăn, thách thức như thiếu quy hoạch chi tiết vùng nuôi, rủi ro dịch bệnh cao, thị trường khổng ổn định. Lê Kim Long (2017) trong nghiên cứu “Hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Phú Yên” [13], nghề nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng vẫn còn đủ khả năng sinh lợi để tiếp tục duy trình sản xuất nhưng sức hấp dẫn của nghề đã xuống thấp khi mức rủi ro và nhu cầu vốn sản xuất lớn. Nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng đã bước vào trạng thái bão hòa, nó còn ảnh hưởng tiêu cực ra môi trường.