Luận án tiến sĩ phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu quân đội nhân dân việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
226
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án

1.2. Giá trị của các công trình khoa học đã tổng quan và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NIỀM TIN KHOA HỌC CỦA HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ VÀO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

2.1. Quan niệm về niềm tin khoa học và phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam

2.2. Nhân tố cơ bản quy định phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NIỀM TIN KHOA HỌC VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NIỀM TIN KHOA HỌC CỦA HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ VÀO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thực trạng niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

3.2. Yêu cầu phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN NIỀM TIN KHOA HỌC CỦA HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ VÀO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể tham gia phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4.2. Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự để phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

4.3. Tích cực hóa nhân tố chủ quan của hạ sĩ quan, binh sĩ trong tự phát triển niềm tin khoa học của họ vào sức mạnh chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về niềm tin khoa học và sức mạnh chiến đấu

Niềm tin khoa học là yếu tố cốt lõi trong cấu trúc ý thức cá nhân và xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Nó quyết định tính tích cực của hạ sĩ quan, binh sĩ trong việc nhận thức và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) không chỉ dựa trên vũ khí, trang bị mà còn dựa vào niềm tin khoa học của bộ đội vào khả năng chiến thắng. Điều này tạo nên sức mạnh tinh thần, yếu tố quyết định trong mọi tình huống chiến tranh. Phát triển niềm tin khoa học cho hạ sĩ quan, binh sĩ là nhiệm vụ cấp thiết nhằm nâng cao chiến đấu hiệu quảtinh thần quân đội.

1.1. Khái niệm niềm tin khoa học

Niềm tin khoa học được định nghĩa là sự tin tưởng dựa trên cơ sở tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn. Trong quân sự, niềm tin này giúp hạ sĩ quan, binh sĩ tự tin vào khả năng chiến đấu và chiến thắng của QĐNDVN. Đây là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng sức mạnh tinh thầnchiến đấu bền bỉ của quân đội.

1.2. Vai trò của niềm tin khoa học trong quân sự

Niềm tin khoa học đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tinh thần quân độichiến đấu hiệu quả. Nó giúp hạ sĩ quan, binh sĩ vượt qua khó khăn, duy trì ý chí chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, niềm tin này cũng góp phần nâng cao năng lực quân sựtinh thần đồng đội, tạo nên sự đoàn kết trong quân đội.

II. Thực trạng niềm tin khoa học của hạ sĩ quan binh sĩ

Hiện nay, niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu của QĐNDVN đã được củng cố, nhưng vẫn còn một số hạn chế. Một bộ phận binh sĩ có niềm tin tự phát, thiếu vững chắc, dễ dao động trước những thay đổi của đối tượng tác chiến. Nguyên nhân chính là do công tác giáo dục, huấn luyện chưa được đổi mới kịp thời, dẫn đến chất lượng chưa cao. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển niềm tin khoa học một cách bài bản và khoa học hơn.

2.1. Những hạn chế trong niềm tin khoa học

Một số hạ sĩ quan, binh sĩ có niềm tin vào sức mạnh chiến đấu của QĐNDVN nhưng còn mang tính tự phát, thiếu căn cứ khoa học. Điều này dẫn đến sự dao động, lo lắng trước những thách thức mới trong chiến tranh hiện đại. Nguyên nhân chính là do công tác giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

2.2. Yêu cầu phát triển niềm tin khoa học

Để nâng cao niềm tin khoa học của hạ sĩ quan, binh sĩ, cần đổi mới phương pháp giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự. Đồng thời, cần tăng cường kỹ năng quân sựtinh thần đồng đội, giúp binh sĩ tự tin hơn trong chiến đấu. Đây là yếu tố quan trọng để xây dựng QĐNDVN tinh nhuệ, hiện đại.

III. Giải pháp phát triển niềm tin khoa học

Để phát triển niềm tin khoa học cho hạ sĩ quan, binh sĩ, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trước hết, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình này. Tiếp theo, cần đổi mới phương pháp giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự, đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Cuối cùng, cần tích cực hóa nhân tố chủ quan của binh sĩ, giúp họ tự giác rèn luyện và củng cố niềm tin vào sức mạnh chiến đấu của QĐNDVN.

3.1. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm

Các cấp lãnh đạo cần nhận thức rõ tầm quan trọng của niềm tin khoa học trong việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của QĐNDVN. Đồng thời, cần có trách nhiệm trong việc tổ chức và thực hiện các chương trình giáo dục, huấn luyện nhằm củng cố niềm tin này.

3.2. Đổi mới giáo dục và huấn luyện

Cần đổi mới phương pháp giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn. Điều này giúp hạ sĩ quan, binh sĩ có được niềm tin khoa học vững chắc vào sức mạnh chiến đấu của QĐNDVN.

3.3. Tích cực hóa nhân tố chủ quan

Cần khuyến khích hạ sĩ quan, binh sĩ tự giác rèn luyện, học tập và nâng cao kỹ năng quân sự. Điều này giúp họ tự tin hơn trong chiến đấu và củng cố niềm tin khoa học vào sức mạnh chiến đấu của QĐNDVN.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ phát triển niềm tin khoa học của hạ sĩ quan binh sĩ vào sức mạnh chiến đấu quân đội nhân dân việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến niềm tin khoa học V. Xu-khôm-lin-xki (1983), Hình thành niềm tin cộng sản cho thế hệ trẻ [164], tác giả cho rằng, bản chất của niềm tin là một trong những nhân tố quyết định đời sống tinh thần của con người, trong đó yếu tố thế giới quan kết hợp một cách hữu cơ với yếu tố đạo đức, đồng thời nhấn mạnh mặt hoạt động của niềm tin: “chúng ta quan sát thấy niềm tin khi con người hành động theo một thế giới quan nhất định” [164, tr.

Tác giả đề cao niềm tin cộng sản, luận giải các mặt cấu thành của quá trình hình thành niềm tin cộng sản, từ đó tiếp cận cấu trúc của niềm tin cộng sản gồm tư tưởng, tình cảm và ý chí. Trong đó, tác giả phân tích vai trò to lớn của tư tưởng tiến bộ, tư tưởng chủ nghĩa cộng sản đối với sự hình thành niềm tin cộng sản. Theo tác giả, vai trò của niềm tin cộng sản thể hiện ở chỗ nó bảo đảm cho cá nhân một sự tự do chân chính, làm cho con người trở thành một lực lượng quyết định xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp giáo dục và hình thành niềm tin cộng sản cho thế hệ trẻ.

Trịnh Đình Bảy (2003), Niềm tin và xây dựng niềm tin khoa học [5], khẳng định dưới góc độ triết học, căn cứ vào kết cấu và cơ sở hình thành niềm tin, tính chất của niềm tin, thì niềm tin có hai loại cơ bản: Niềm tin tôn giáo và niềm tin khoa học. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra khái niệm niềm tin khoa học: “Niềm tin được hình thành trên kinh nghiệm thực tiễn, tri thức khoa học, lập trường triết học duy vật biện chứng và tình cảm tích cực gọi là niềm tin khoa học (phi tôn giáo)” [5, tr. 76], qua đó vạch ra ranh giới rõ ràng giữa niềm tin khoa học và niềm tin tôn giáo. Theo tác giả, cấu trúc của niềm tin 11 khoa học gồm hai yếu tố cơ bản: Tri thức và xúc cảm.

Tri thức là bộ phận chủ yếu nhất của niềm tin khoa học, nhưng để có được niềm tin khoa học trong quá trình nhận thức, chủ thể cần có cả cảm xúc. Về vai trò của niềm tin khoa học đối với đời sống xã hội, theo tác giả, có niềm tin khoa học, con người sẽ tự tin hơn vào cuộc sống hiện tại, tin vào tương lai, tạo ra ý chí quyết tâm, thúc đẩy hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao. Cách tiếp cận cấu trúc niềm tin khoa học của tác giả dựa quan điểm triết học về ý thức, có ý nghĩa quan trọng trong luận giải các nội dung có liên quan trong luận án. Lưu Hà Vĩ (2005), “Niềm tin khoa học - điều kiện tiên quyết đối với đội ngũ giảng viên Mác - Lênin” [158], tác giả chỉ rõ niềm tin khoa học phải dựa trên ý thức hệ Mác - Lênin - học thuyết phát triển đích thực khoa học và sáng tạo về xã hội.

Theo tác giả, niềm tin khoa học là điều kiện tiên quyết đối với đội ngũ giảng viên Mác - Lênin, nhằm xác lập ở các đối tượng đào tạo một thế giới quan kiểu mới thực sự khoa học và cách mạng. Tác giả chỉ rõ vai trò của tri thức đối với việc hình thành niềm tin khoa học, song cũng nhấn mạnh niềm tin khoa học không chỉ được tạo thành bởi riêng tri thức của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà đó còn là thuộc tính vốn có của mọi khoa học chân chính. Tác giả chỉ ra những hạn chế của niềm tin chủ quan, duy ý chí và phi khoa học, đồng thời nhấn mạnh cơ sở và tiêu chuẩn cho việc phát triển niềm tin khoa học tuỳ thuộc vào khả năng vận dụng các quy luật khách quan của con người. Vũ Anh Tuấn (2006), “Giáo dục và hình thành niềm tin từ hướng tiếp cận tâm lý học” [154], đã tiếp cận khái niệm niềm tin cả về những đặc tính cơ bản và cơ chế tác động của niềm tin đến thực tiễn xây dựng và phát triển xã hội hiện thực của con người.

Tác giả cho rằng niềm tin được hình thành trên cơ sở sự thống nhất giữa ba yếu tố: Nhận thức, tình cảm và ý chí. Niềm tin có xu hướng thúc đẩy chủ thể hành động phù hợp với những định hướng, những giá trị đã được xác định. Theo tác giả, có nhiều cách phân loại niềm tin, trong đó căn cứ vào sự biểu hiện của niềm tin trong đời sống xã hội thông qua thực 12 hiện mối quan hệ giữa con người với nhau, niềm tin được chia thành ba loại: Niềm tin thông thường, niềm tin khoa học và niềm tin tôn giáo. Từ đó tác giả cho rằng, theo cách phân loại niềm tin này thì niềm tin cần hình thành ở cán bộ, nhân dân ta là niềm tin khoa học, niềm tin lý tưởng.

Tác giả nhấn mạnh vai trò của tri thức, tình cảm trong việc hình thành niềm tin và vai trò của ý chí trong biến niềm tin thành hành động. Cách tiếp cận cấu trúc niềm tin của tác giả dưới góc độ tâm lý học là cơ sở để luận án kế thừa những điểm hợp lý, đưa ra cách tiếp cận dưới góc độ triết học. Hoàng Đình Cúc (2007), “Vấn đề xây dựng và củng cố niềm tin trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay” [18], đã khẳng định: Niềm tin là một lĩnh vực đặc biệt của ý thức, liên hệ mật thiết với sự hiểu biết về thế giới khách quan, tồn tại trong từng con người và xã hội nhằm phản ánh thế giới khách quan. Do vậy, niềm tin có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mỗi con người nói riêng, sự phát triển xã hội nói chung.

Trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả có hai loại niềm tin là niềm tin khoa học và niềm tin tôn giáo. Tác giả chỉ rõ sự hình thành của niềm tin khoa học trong đời sống xã hội ở Việt Nam gắn liền với quá trình tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tin khoa học đã thắp sáng nên trong quần chúng nhân dân niềm tin vào tương lai. Với niềm tin vào sức mạnh của con người mà lý luận khoa học ấy mang lại, nhân dân Việt Nam đã tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những giải pháp để xây dựng và củng cố niềm tin trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay. Nguyễn Chí Mỳ (2009), Niềm tin của nhân dân về chủ nghĩa xã hội và đổi mới công tác tuyên truyền [103], tác giả khẳng định niềm tin thuộc nhu cầu tinh thần của con người, là trạng thái biểu hiện của ý thức xã hội. Niềm tin gắn liền với xã hội, mang tính xã hội, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới của con người, trong đó, nhận thức có vai trò định hướng cho hành vi và lựa 13 chọn hành vi. Niềm tin giúp con người biến nhận thức thành hành động, biến khả năng khách quan thành hiện thực khách quan, góp phần vào quá trình phát triển xã hội.

Tác giả cho rằng có ba loại niềm tin: Niềm tin ngây thơ, niềm tin mù quáng và niềm tin khoa học. Trong đó niềm tin cộng sản là niềm tin khoa học, dựa trên sự phản ánh đúng hiện thực khách quan. Trên cơ sở đó, tác giả khảo sát thực trạng và tổng kết những kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền để tạo dựng niềm tin vững chắc của nhân dân vào lý tưởng cộng sản và vào chế độ xã hội, vào định hướng XHCN ở nước ta. Nguyễn Văn Thắng, Lưu Thị Hường (2013), “Niềm tin khoa học - yếu tố quan trọng trong giảng dạy các môn lý luận chính trị ở trường đại học, cao đẳng” [136], cho rằng cần “hiểu đúng bản chất của niềm tin với tư cách là một trong những nhân tố quyết định bộ mặt tinh thần của con người” [136, tr.

Trong cấu trúc của niềm tin khoa học, tác giả nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của tri thức chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối cách mạng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Theo tác giả, niềm tin khoa học bảo đảm cho con người có sự tự do chân chính, trở thành một lực lượng quyết định xã hội. Do đó, công tác giáo dục lý luận chính trị phải đạt đến mục đích cuối cùng là hình thành, củng cố niềm tin khoa học cho sinh viên. Tác giả chỉ rõ hạn chế trong giảng dạy các môn lý luận chính trị hiện nay là thay thế việc hình thành, củng cố niềm tin khoa học bằng sự lĩnh hội tri thức một cách đơn giản các khái niệm, chân lý.

Trên cơ sở đó, tác giả xác định các yêu cầu để nâng cao hiệu quả hình thành, củng cố niềm tin khoa học trong giảng dạy lý luận chính trị hiện nay. Nguyễn Hải Hoàng (2015), Vấn đề niềm tin trong triết học thực dụng Peirce [63]. Tác giả đã làm rõ thuật ngữ “niềm tin”, khẳng định niềm tin thuộc phạm trù đời sống tinh thần, là một trong những biểu hiện của tồn tại người. Trên cơ sở nghiên cứu quan niệm niềm tin từ thời cổ đại, trung đại, Phục hưng, cận đại, đặc biệt là quan niệm niềm tin trong triết học I.

Kant, Hegel, tác giả phân loại niềm tin gồm: “Niềm tin tôn giáo” và “niềm tin triết học”. 14 Tác giả đã làm rõ nội hàm, nguyên nhân hình thành của niềm tin tôn giáo, khẳng định đây là khái niệm được sử dụng để chỉ rõ những điểm chung của ý thức tôn giáo. Về niềm tin khoa học, tác giả cho rằng đây là khái niệm gắn liền với hoạt động trực giác trí tuệ, có ảnh hưởng đáng kể bởi nhân tố chủ quan. Theo tác giả, niềm tin khoa học có vai trò quan trọng, tạo ra nguồn năng lượng tinh thần to lớn, thúc đẩy con người nhận thức và cải tạo thực tiễn, “không có niềm tin, đặc biệt là niềm tin khoa học, con người sẽ sống và hoạt động không có định hướng, luôn bi quan, dao động và không phát huy được khả năng chủ động sáng tạo của mình” [63, tr.

Nguyễn Quang Hùng (2017), Niềm tin chính trị của sinh viên Việt Nam hiện nay [67], tác giả đã luận giải khái niệm niềm tin, khẳng định niềm tin có vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người nói riêng, sự phát triển xã hội nói chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ