Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH NHẬP KHẨU 1. Cơ sở lý luận về nhập khẩu 1. Khái niệm về nhập khẩu hàng hóa Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán hàng hóa trên phạm vi quốc tế, đây là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới. Cũng theo đó, nhập khẩu không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.
Còn theo khoản 2 điều 28, Luật Thương mại 2019 do Quốc hội ban hành đã chỉ rõ: “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa là doanh nghiệp thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh và kiếm lợi nhuận từ việc nhập khẩu. Thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là quá trình nhập khẩu hàng hóa từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài sau đó tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau. Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giải quyết sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa.
Mặt khác, hoạt động kinh doanh nhập khẩu còn đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi quốc gia mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo, vật tư, thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển còn hạn chế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Các hình thức của nhập khẩu hàng hóa Nhập khẩu trực tiếp: Nhập khẩu trực tiếp là loại hình nhập khẩu mà trong đó sản phẩm được nhập khẩu trực tiếp vào một quốc gia và không thông qua đại lý/nhà phân phối ủy quyền nào của nhà sản xuất. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nhập khẩu theo hình thức này, trong quá trình nhập khẩu hàng hóa, sản phẩm không có sự tham gia của đối tác trung gian được ủy quyền bởi nhà sản xuất nên chi phí gia tăng trong quá trình nhập khẩu thấp hơn và khách hàng trả sẽ phải trả ít hơn để nhận hàng hóa. Và theo cách thức này, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch và làm việc với nhau, việc mua và việc bán không ràng buộc nhau.
Bên mua có thể chỉ mua mà không bán và bên bán cũng có thể chỉ bán mà không mua. Hoạt động chủ yếu của hình thức nhập khẩu này là doanh nghiệp trong nước nhập khẩu hàng hoá, vật tư ở thị trường nước ngoài sau đó đem về tiêu thụ ở thị trường trong nước. Vì vậy, để tiến tới ký kết hợp đồng kinh doanh nhập khẩu thiết bị, hàng hóa, doanh nghiệp nhập khẩu phải nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu vật tư, thiết bị trên thị trường nội địa, tính toán đầy đủ các chi phí phát sinh đảm bảo việc kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả, đồng thời đàm phán và tính toán kỹ lưỡng về các điều kiện giao dịch với bên xuất khẩu, thực hiện đúng theo hành lang pháp lý quốc gia cũng như thông lệ quốc tế một cách nghiêm túc và đầy đủ. Đặc điểm: - Hoạt động nhập khẩu trực tiếp được tiến hành một cách đơn giản.
Bên nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác trên phạm vi quốc tế, sau đó tiến tới đàm phán và ký kết hợp đồng, thực hiện theo đúng hợp đồng. Doanh nghiệp nhập khẩu sẽ phải tự bỏ vốn và chịu mọi rủi ro, chi phí giao dịch, nghiên cứu, giao nhận hàng hóa… cùng các chi phí có liên quan đến các loại thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ hàng hóa … - Nhập khẩu trực tiếp là hình thức được sử dụng khá phổ biến hiện nay bởi cách thức này khá đơn giản và nhanh chóng. Theo đó, bên nhập khẩu cần nghiên cứu kỹ lưỡng về thị trường để xác định sản phẩm hay dịch vụ cần nhập khẩu. Sau đó tìm kiếm đối tác phù hợp, đàm phán và ký kết và thực hiện hợp đồng, tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí trong giao dịch… Nhập khẩu ủy thác: Nhập khẩu ủy thác là việc thuê ngoài một đơn vị kinh doanh dịch vụ nhập khẩu để tổ chức và thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa cho bên mua.
Hay nói cách khác, đây là nghiệp vụ cần thiết khi bên mua muốn nhập hàng hóa về Việt Nam, nhưng không tự làm mà ủy thác qua công ty dịch vụ thực hiện. Hoạt động này được làm trên cơ sở hợp đồng uỷ thác giữa các doanh nghiệp phù hợp với những quy định của luật pháp và hợp đồng giữa các bên. Theo Điều 16 Nghị định số 187/2013/NĐ-CP quy định: “Thương nhân được ủy thác cho thương nhân khác xuất khẩu, nhập khẩu hoặc được nhận ủy thác xuất 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khẩu, nhập khẩu từ thương nhân khác các loại hàng hóa, trừ hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu”. Như vậy, hợp đồng uỷ thác nhập khẩu được hình thành giữa các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một loại vật tư, thiết bị, hàng hóa nào đó nhưng lại gặp khó khăn trong việc nhập khẩu trực tiếp hoặc gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn hàng, thực hiện thủ tục uỷ thác nhập khẩu cho doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế để tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của bên mua.
Đặc điểm: - Doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu uỷ thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng nhập khẩu, giá trị hàng nhập sẽ chỉ được tính vào kim ngạch nhập khẩu và sẽ không được tính vào doanh thu của doanh nghiệp. Khi nhận uỷ thác, doanh nghiệp phải làm hai hợp đồng: một hợp đồng mua bán hàng hoá, vật tư với bên bán - doanh nghiệp nước ngoài và một hợp đồng uỷ thác nhập khẩu với bên mua - doanh nghiệp uỷ thác ở trong nước. - Đối với loại hình nhập khẩu ủy thác, không chỉ có sự tham gia của bên mua và bên bán mà còn có một bên thứ 3 (đơn vị trung gian). Hình thức này được sử dụng khi bên bán đứng ra thuê một đơn vị khác (đơn vị ủy thác) đứng ra thay họ nhập khẩu hàng hóa.
- Những cá nhân hay doanh nghiệp mới thường gặp khó khăn khi tự nhập khẩu hàng hóa, phần lớn là do thiếu kinh nghiệm và không am hiểu về các điều khoản, luật pháp thương mại quốc tế, hoặc không đủ tư cách pháp nhân. Do đó, họ sẽ ủy thác cho một đơn vị trung gian để giúp cho việc nhập lô hàng được nhanh chóng và suôn sẻ. - Trách nhiệm của bên nhận ủy thác là phải cung cấp thông tin một cách đầy đủ về thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện, thông tin có liên quan đến đơn hàng được ủy thác, ký kết hợp đồng và thực hiện các thủ tục liên quan đến nhập khẩu hàng hóa về tay bên ủy thác, đồng thời tham gia vào quá trình thương lượng đàm phán và ký kết hợp đồng uỷ thác. - Với hình thức này, doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu sẽ nhận được phí dịch vụ ủy thác từ bên ủy thác.
Buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu hay còn gọi là nhập khẩu hàng đổi hàng và được thực hiện song song với hoạt động xuất khẩu. Hình thức này không dùng tiền tệ để thanh toán 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà dùng hàng hóa làm phương tiện trao đổi. Hàng hóa dùng để nhập - xuất có giá trị tương đương với nhau. Như vậy, mua bán đối lưu thực chất chỉ là sự trao đổi hàng hóa giữa các bên tham gia với nhau.
Đồng tiền chỉ đóng vai trò cơ bản là chức năng tính toán giá trị chứ không sử dụng vai trò là chức năng thanh toán vốn có. Người mua và người bán trong trường hợp này vừa phải làm thủ tục xuất hàng đi và cũng vừa phải làm thủ tục nhập hàng về. Do đó, trong buôn bán đối lưu, hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt động nhập khẩu. Xét dưới góc độ ngoại thương, thực chất đây là hoạt động trao đổi hàng hóa và hoạt động này không làm tăng hay giảm cán cân thương mại của các quốc gia tham gia, hoạt động mua và bán chỉ đóng vai trò là hình thức, hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu đóng vai trò hỗ trợ cho quan hệ trao đổi đó.
Đặc điểm: Trong mua bán đối lưu, hàng hóa được trao đổi với nhau nên các bên tham gia chú trọng đến yêu cầu cân bằng giá trị trao đổi. Yêu cầu về sự cân đối giữa nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên, cân bằng về giá cả và điều kiện giao dịch. Bản thân hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị và giá trị sử dụng đều sẽ được so sánh và cân bằng. Do đó, đặc tính của buôn bán đối lưu là: - Cân bằng về mặt hàng trao đổi.
- Cân bằng về giá cả. - Cân bằng về tổng giá trị hàng hóa hai bên trao đổi với nhau. - Cân bằng về điều kiện giao hàng và vận chuyển. Tạm nhập tái xuất Theo khoản 1 điều 29, Luật Thương Mại ban hành năm 2019 quy định: “Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam”.