Chương 1 tác giả đã diễn giải một cách khá đầy đủ và cụ thể, rõ ràng các vấn đề lý luận về chính sách và thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực y tế nói riêng. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra nội dung, các vấn đề tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế để làm cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển nhân lực y tế tại tỉnh Vĩnh Phúc sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2. 15 Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH Y TẾ TỈNH VĨNH PHÚC THỜI GIAN QUA 2. Tình hình cơ bản của tỉnh Vĩnh Phúc tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực ngành y tế 2.
Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội a. Đặc điểm tự nhiên Với lợi thế về vị trí địa kinh tế - chính trị và hệ thống đường giao thông thuận lợi giữa Vĩnh Phúc và vùng thủ đô, tạo ra một lợi thế so sánh trong cung cấp các dịch vụ vui chơi, giải trí cho cư dân thủ đô (thị trường du lịch có quy mô lớn) nên Vĩnh Phúc đã và đang tập trung phát triển công nghiệp và các lĩnh vực du lịch có thế mạnh như: du lịch lễ hội và tín ngưỡng; du lịch sinh thái; du lịch danh thắng và nghỉ dưỡng. Khí hậu không khắc nghiệt, gần với các Bệnh viện Trung ương. Vị trí địa lý vừa thuận lợi vừa khó khăn và là một trong những thách thức với ngành y tế Vĩnh Phúc b.
Đặc điểm kinh tế Kinh tế phát triển, tích lũy xã hội tăng, tạo điều kiện mở rộng qui mô và xây dựng mới các cơ sở y tế, mua sắm nhiều trang thiết bị kỹ thuật cao. Thu nhập của người dân ngày càng tăng lên đã xuất hiện thêm nhiều nhu cầu mới về khám chữa bệnh. Đặc điểm xã hội Theo thống kê, năm 2017 thu nhập bình quân đầu người đạt 78 triệu đồng/người/năm. Qui mô dân số không ngừng tăng lên (0.3%/ năm); tỷ lệ hộ nghèo giảm; d.
Quy mô dân số 16 Quy mô dân số ở mức trung bình, dân số của tỉnh tương đối trẻ. Theo số liệu báo cáo năm 2017, quy mô dân số ở mức trên 1 triệu người; lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm tới 70% dân số. Vĩnh Phúc là tỉnh có tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng năm 2017 đạt 0,77 học sinh/100 dân đây là tỷ lệ đạt cao trong cả nước. Có thể nói chất lượng dân số ngày càng được cải thiện đó vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quy hoạch công tác an sinh xã hội của tỉnh giai đoạn 2015-2020.
Tình hình phát triển ngành y tế tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn (2014- 2017) Trong những năm qua, cùng với phát triển kinh tế - xã hội, sự nghiệp y tế của tỉnh đã được quan tâm, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân và tăng cường nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hệ thống tổ chức, mạng lưới y tế được củng cố; cơ sở vật chất thường xuyên được quan tâm đầu tư; nguồn nhân lực được bổ sung về số lượng và chất lượng; chất lượng dân số đạt kết quả nhất định; lĩnh vực dự phòng có nhiều tiến bộ, không để dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn tỉnh; các dịch vụ y tế ngày càng đa dạng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nhân dân; y đức có nhiều chuyển biến tích cực. Bên cạnh những kết quả đã đạt được, sự nghiệp y tế còn nhiều hạn chế và bất cập so với yêu cầu hiện nay: Cơ sở vật chất các bệnh viện lớn của tỉnh chưa được đầu tư đồng bộ theo tiêu chuẩn tiên tiến, hiện đại; trang thiết bị y tế còn thiếu, công nghệ lạc hậu; huy động nguồn lực xã hội hóa còn ở mức thấp; năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc hạn chế, thiếu người có trình độ, kinh nghiệm, tay nghề cao ở tất cả các lĩnh vực chuyên môn và các tuyến. Chất lượng khám chữa bệnh chưa cao, tỷ lệ kỹ thuật thực hiện theo phân tuyến thấp, chưa kết nối hiệu quả với tuyến trung ương để khám chữa bệnh tại tỉnh.
Tình trạng quá tải ở một số bệnh viện tuyến tỉnh chậm được khắc phục, chưa khai thác hết thế mạnh của từng bệnh viện. Nhìn chung, so với sự phát triển của tỉnh trong gần 20 17 năm qua và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thì sự nghiệp y tế của tỉnh phát triển còn chậm, lĩnh vực khám chữa bệnh đang ở mức thấp hơn các tỉnh lân cận, chưa tương xứng với sự phát triển của tỉnh. Nguyên nhân chủ quan chủ yếu của những hạn chế đó là: Công tác tham mưu, đề xuất, quản lý của ngành chuyên môn còn hạn chế và bất cập; công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt. Lãnh đạo của một số đơn vị của ngành chưa đổi mới tư duy, chưa năng động, sáng tạo để vượt qua khó khăn.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kỹ thuật và công tác phòng bệnh, chữa bệnh. Cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành y tế còn bất cập, chưa phát huy hiệu quả. Mô hình tổ chức hệ thống y tế địa phương, nhất là ở tuyến cơ sở trong nhiều năm không ổn định. Tình hình phát triển các cơ sở y tế Mạng lưới y tế xã phường Hiện nay, 100% thôn/ bản trên địa bàn tỉnh có Nhân viên y tế hoạt động.
100% các xã, phường, thị trấn trong tỉnh có Trạm y tế. 100% xã, phường có bác sĩ làm việc, 100% số trạm y tế có Y sĩ sản nhi hoặc Nữ hộ sinh trung học. Bình quân mỗi TYT có 6,3 cán bộ y tế. Tỷ lệ xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế xă là 100% (137/137 xã).
Mạng lưới y tế tuyến huyện Mạng lưới y tế cơ sở được tổ chức lại theo Nghị định số 14/2008/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV. Hệ thống y tế tuyến huyện bao gồm 9 Trung tâm y tế tuyến huyện. Đảm nhiệm công tác dự phòng, khám chữa bệnh trên địa bàn huyện. Quy mô 820 giường bệnh tại các huyện: Tam Đảo, Bình Xuyên, Vĩnh Yên, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Lập Thạch, Tam Dương, Sông Lô và Bình Xuyên.
Các BVĐK huyện có quy mô từ 50 đến 150 giường, đều được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tuy chưa được hoàn chỉnh nhưng cũng làm thay đổi bộ mặt của các đơn vị. Trang thiết bị y tế hiện đại hàng năm được bổ sung như: máy siêu âm, máy xét nghiệm, các dụng cụ phẫu thuật, xe ô tô cứu thương tạo điều 18 kiện cho nhân dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế công gần nhất, chất lượng dịch vụ y tế được cải thiện một bước [28]. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có trên 100 doanh nghiệp vừa và lớn có Trạm y tế và cán bộ y tế tham gia CSSK người lao động. Các cơ sở y tế này chủ yếu làm nhiệm vụ CSSK ban đầu cho cán bộ viên chức của nhà máy, xí nghiệp.
Cơ sở Khám chữa bệnh bộ ngành đóng trên địa bàn tỉnh Tuyến trung ương có Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương Phúc Yên với quy mô 200 giường. Các cơ sở khám chữa bệnh của Quân đội và các Ngành như: Bệnh viện Quân y 109 (của QKII) với 300 giường bệnh. BVĐK của Bộ Giao thông vận tải với quy mô 200 giường bệnh. Các bệnh viện trên ngoài chức năng KCB cho ngành mình còn dành khoảng 10% số GB để tiếp nhận và điều trị cho nhân dân trong tỉnh.
Số giường bệnh do Sở Y tế quản lý năm 2017 (không tính giường bệnh của các Trạm y tế xã) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là 2. Số giường bệnh công/10.000 dân tăng từ 21 năm 2010 lên 31 năm 2016. Số giường bệnh/10.000 dân đã tăng lên đáng kể trong thời gian qua, nhưng vẫn còn thấp so với các tỉnh lân cận (như Phú Thọ: 33,04). - Cơ sở khám chữa bệnh Y tế tư nhân Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 01 bệnh bệnh viện tư nhân thực hiện chức năng khám chữa bệnh nội trú, các cơ sở y tư nhân bao gồm các phòng khám đa khoa, chuyên khoa, các phòng chẩn trị YHCT và các nhà thuốc tư nhân.
Đến nay có 233 cơ sở hành nghề y tư nhân và 441 cơ sở dược tư nhân. Trong số các cơ sở KCB tư có 47% là phòng chẩn trị YHCT, số phòng khám chuyên khoa chiếm gần 31%. Các cơ sở y tế tư nhân đều có giấy phép hoạt động và do cán bộ có chuyên môn về lĩnh vực hành nghề đảm nhiệm. Các PKĐK và chuyên khoa tập trung chủ yếu ở thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên.
Mạng lưới cấp cứu vận chuyển Như các tỉnh/thành khác trong cả nước, Vĩnh Phúc chưa có mạng lưới vận chuyển cấp cứu. Bệnh nhân cấp cứu chủ yếu được đưa vào các PKĐKKV hoặc khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Ngoại của các bệnh viện. Trong những năm tới, Vĩnh Phúc 19 cần xây dựng một trung tâm vận chuyển cấp cứu cùng với việc phát triển mạng lưới vận chuyển cấp cứu vệ tinh (cơ sở là các khoa hồi sức cấp cứu của các BVĐK huyện) trong toàn tỉnh để thực hiện vận chuyển và cấp cứu trong các trường hợp cần cứu hộ, cứu nạn khi thiên tai, thảm hoạ xẩy ra tại các cụm xã/phường, đặc biệt ở các huyện, xã vùng sâu, vùng xa nơi người dân đi lại khó khăn. Mạng lưới y tế tuyến tỉnh Hiện có 6 bệnh viện tuyến tỉnh với tổng số 1.430 giường bệnh, bao gồm: BV Đa khoa tỉnh, BVĐKKV Phúc Yên, Bệnh viện Y học cổ truyền, Bệnh viện Điều dưỡng & Phục hồi chức năng, Bệnh viện Tâm thần và Bệnh viện Sản Nhi , 01Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Giai đoạn 2016-2020, ngành y tế Vĩnh Phúc được nâng mức đầu tư từ 4% năm 2014 lên 7% ngân sách; Hiện Vĩnh Phúc đạt tỷ lệ 10,7 bác sĩ/vạn dân; 2,5 dược sĩ/vạn dân.
Tình hình đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị Ngoài hệ thống các bệnh viện đa khoa tỉnh và huyện, đã thành lập được nhiều bệnh viện chuyên khoa như: Sản nhi, tâm thần, y học cổ truyền, phục hồi chức năng. Đầu tư ngày càng nhiều trang thiết bị tiên tiến, hiện đại; mạng lưới y tế dự phòng được củng cố.