Tổng quan luận án

Công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 và bước ngoặt chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1996 đã đặt nguồn lực con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định việc bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các văn kiện tiếp theo, bao gồm Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội XII (2016), tiếp tục khẳng định phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong ba khâu then chốt của chiến lược phát triển.

Tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Đồng Nai giữ vai trò đầu mối giao thông huyết mạch và là địa bàn phát triển công nghiệp quy mô lớn. Mặc dù kinh tế tăng trưởng liên tục trên 12% mỗi năm và cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh sang công nghiệp - xây dựng, thực tiễn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 1996-2015 bộc lộ nhiều điểm nghẽn về nguồn nhân lực. Tình trạng thiếu công nhân lành nghề, thiếu kỹ sư kỹ thuật cao, thiếu đội ngũ quản trị doanh nghiệp và chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn diễn ra phổ biến. Đồng thời, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, chất lượng giáo dục - đào tạo chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhằm giải quyết các bất cập này, Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ IX (2010) xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2015; từ đó đúc kết những kinh nghiệm phục vụ thực tiễn lãnh đạo ở giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm bốn nhiệm vụ:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, khái quát những vấn đề về nội dung, phương pháp mà luận án có thể kế thừa và tiếp tục phát triển.
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2015.
  3. Khái quát chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về phát triển nguồn nhân lực, làm rõ sự chỉ đạo về phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2015 qua hai giai đoạn (1996-2005) và (2006-2015).
  4. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nêu nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó; rút ra các kinh nghiệm chủ yếu trong lãnh đạo thực hiện phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 1996 đến năm 2015 để vận dụng, phát triển trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu là những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2015.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Về nội dung: Luận án tập trung vào ba hoạt động lãnh đạo chính: (1) Chỉ đạo công tác quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; (2) Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực, tập trung vào đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và nhân lực chuyên môn kỹ thuật trong khu vực công nghiệp, đô thị, nông nghiệp, nông thôn; (3) Chỉ đạo công tác thu hút, đãi ngộ và tạo lập môi trường làm việc.
  • Về không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính tỉnh Đồng Nai, bao gồm thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và 9 huyện (Trảng Bom, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Định Quán, Tân Phú, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc, Long Thành, Nhơn Trạch).
  • Về thời gian: Khảo sát từ năm 1996 (năm tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI, mở đầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa) đến năm 2015 (thời điểm tổng kết Chương trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X). Một số dữ liệu trước năm 1996 và sau năm 2015 được mở rộng để phục vụ tính logic lịch sử.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia thành ba nhóm công trình:

Nhóm thứ nhất gồm các nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ngoài và nghiên cứu trong nước về kinh nghiệm quốc tế. Về lý thuyết phát triển nhân lực, Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith (2003) nghiên cứu mối liên hệ giữa tổ chức, sử dụng chất xám và phương thức quản lý lao động. Wang và Judy Y. Sun (2009) làm rõ ranh giới giữa phát triển nguồn nhân lực, phát triển vốn nhân lực và phát triển con người. Braj Raj Kumar Sinha (2012) phân tích khái niệm nguồn nhân lực và đưa ra bảy phương pháp tiếp cận phát triển (không gian - thời gian, thành phần tuổi, giới tính, nhóm xã hội, giáo dục, nghề nghiệp, điểm tổng hợp), nhấn mạnh giáo dục là công cụ chiến lược. Fapohunda Tinuke (2015) khảo sát khía cạnh quản lý nhân sự gắn với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Talat Afza và Mian Sajid Nazir (2007) phân tích năng lực cạnh tranh kinh tế và phát triển nguồn nhân lực dưới góc nhìn thu hút vốn FDI. Tiếp cận kinh nghiệm quốc tế, các công trình của Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1996), Trần Văn Tùng (2005), Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2008), Tạ Ngọc Tấn (2012) khảo cứu chính sách giáo dục, đào tạo và trọng dụng nhân tài tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc.

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu trong nước về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Về chuyên khảo lý luận và chính sách cán bộ, tiêu biểu có Mai Quốc Chánh (1999), Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2001), Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa, Đặng Hữu Toàn (2002), Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Hồ Bá Thâm (2003), Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường, Nguyễn Kim Liệu (2004), Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2004), Bùi Văn Nhơn (2006), Nguyễn Văn Nam và Nguyễn Văn Áng (2007), Kim Thúy (2008), Trương Thị Hiền (2009), Trần Khánh Đức (2010), Trung tâm Tri thức Doanh nghiệp Quốc tế (2010), Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy Hùng (2012), Lê Thị Hồng Điệp (2012), Nguyễn Văn Khánh (2018). Về luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ các địa phương, có các đề tài của Nguyễn Thị Vân Hằng (2014, tại Lào Cai), Phạm Thị Kim Lan (2015, tại Thái Bình), Hà Vũ Tuyến (2015, tại Vĩnh Phúc), Nguyễn Thị Thanh Nga (2017, tại Vĩnh Phúc), Trương Thị Hồng Nga (2018, tại Vĩnh Long), Lê Hồ Hiếu (2018, tại Quảng Ninh). Ngoài ra, các luận án ở các ngành kinh tế, triết học và xã hội học như của Trần Thanh Đức (2002), Trương Thị Minh Sâm (2002), Phạm Thế Chi (2003), Phan Chính Thức (2003), Lê Thị Ngân (2005), Lê Thị Hồng Điệp (2010), Nguyễn Thị Tú Oanh (2012), Nguyễn Long Giao (2013) cùng các bài báo của Nguyễn Trọng Chuẩn (1994), Nguyễn Duy Quý (1998), Hoàng Ngọc Hòa (2004), Dương Đức Lân (2007) đã phân tích thực trạng đào tạo nghề, gắn kết đào tạo với sử dụng lao động trong bối cảnh kinh tế tri thức.

Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu trực tiếp về địa bàn tỉnh Đồng Nai. Lịch sử kinh tế - xã hội địa phương được phản ánh trong các ấn phẩm của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2000, 2005), Ban Kinh tế Tỉnh ủy Đồng Nai (2006), Tỉnh ủy Đồng Nai (2007) về lịch sử Đảng bộ tỉnh giai đoạn 1975-2000, công trình "Biên Hòa - Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển" (1998). Nghiên cứu về đội ngũ công nhân và cán bộ cơ sở có Dương Thanh Tân, Nguyễn Văn Long, Phạm An Ninh (2005), Phạm Tấn Linh (2005), Nguyễn Văn Thuộc (2013), Phạm Thị Minh Nguyệt (2016). Quy hoạch tổng thể nhân lực có văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2011). Các bài viết chuyên đề về nhân lực khu công nghiệp Đồng Nai gồm các tác giả Nguyễn Thị Thu Lan (2007), Thái Bảo (2011), Cảnh Chí Hoàng (2012), Tăng Quốc Lập (2012).

Khoảng trống được luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về kinh tế - xã hội, giai cấp công nhân hoặc cán bộ công chức cơ sở, chưa có công trình nào phục dựng một cách toàn diện tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đối với sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực trong suốt 20 năm (1996-2015) theo tiến trình lịch sử Đảng, làm rõ các bước chuyển biến về chủ trương, kết quả triển khai trên ba trụ cột (quy hoạch, đào tạo - bồi dưỡng, thu hút - đãi ngộ) và đúc kết các bài học kinh nghiệm cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, vị trí của con người với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử và động lực cơ bản của quá trình phát triển xã hội. Luận án vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn nhân lực, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ qua các kỳ Đại hội toàn quốc từ năm 1996 đến năm 2015.

Khái niệm công cụ được xác định trong luận án gồm:

  • Nguồn nhân lực: Toàn bộ lực lượng lao động của xã hội, bao gồm số lượng dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, được xem xét trên các tiêu chí về thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tác phong, kỷ luật và kỹ năng nghề nghiệp, tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và tinh thần.
  • Phát triển nguồn nhân lực: Quá trình làm gia tăng quy mô số lượng, hoàn thiện cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, thể lực và phẩm chất của người lao động; đồng thời bao gồm các chính sách quy hoạch, phân bổ, đãi ngộ và sử dụng hợp lý nguồn lao động nhằm nâng cao năng suất xã hội.

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hai trục chính:

  • Phương pháp lịch sử: Đóng vai trò chủ đạo trong việc tái hiện trung thực, khách quan và liên tục quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai ban hành nghị quyết, chương trình hành động và chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện phát triển nhân lực qua hai giai đoạn 1996-2005 và 2006-2015.
  • Phương pháp logic: Được sử dụng đan xen để phân tích bản chất các sự kiện lịch sử, khái quát các quy luật vận động nội tại, chỉ ra mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với cơ cấu lao động, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
  • Các phương pháp nghiên cứu liên ngành bổ trợ: Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh đối chiếu số liệu thống kê qua các giai đoạn phát triển.

Nguồn tư liệu thực hiện luận án gồm:

  1. Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai các khóa VI, VII, VIII, IX; các nghị quyết chuyên đề, chỉ thị, chương trình hành động, kết luận và báo cáo tổng kết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai từ năm 1996 đến năm 2015.
  2. Văn bản quy phạm pháp luật và kế hoạch điều hành của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai; số liệu thống kê từ Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai; báo cáo nghiệp vụ của Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai.
  3. Các công trình lịch sử Đảng bộ địa phương, kỷ yếu hội thảo khoa học, sách chuyên khảo và các tạp chí lý luận chính trị chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài. Tác giả phân tích các khuynh hướng tiếp cận nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế học lao động, quản lý học, triết học và lịch sử Đảng. Luận án khẳng định các công trình đi trước đã làm rõ khái niệm nguồn nhân lực, vai trò của nhân tố con người trong công nghiệp hóa và kinh nghiệm quản lý nhân lực ở nhiều quốc gia cũng như một số tỉnh, thành phố tại Việt Nam.

Tiểu kết chương nêu rõ khoảng trống học thuật: các nghiên cứu về Đồng Nai trước đây chủ yếu tập trung vào các lát cắt kinh tế, lịch sử chung hoặc khảo sát từng nhóm nhân lực hẹp (cán bộ xã, công nhân khu công nghiệp) trong các khoảng thời gian ngắn. Chương 1 xác lập tính độc lập của luận án, chỉ ra hệ thống tư liệu lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai cần được khai thác và định hình khung nội dung nghiên cứu xuyên suốt giai đoạn 1996-2015 trên ba mặt: quy hoạch; đào tạo, bồi dưỡng; thu hút, đãi ngộ và tạo môi trường làm việc.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2005

Chương 2 làm rõ bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội và quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai xác lập chủ trương, triển khai chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực trong 10 năm đầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đồng Nai có diện tích tự nhiên 5.894,7 km², chiếm 1,76% diện tích cả nước và 19,4% diện tích vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Địa giới hành chính có sự điều chỉnh theo Nghị định số 97/2003/NĐ-CP ngày 21/8/2003 của Chính phủ, hình thành 11 đơn vị hành chính cấp huyện (thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và 9 huyện) với 171 xã, phường, thị trấn. Dân số toàn tỉnh tăng nhanh, từ 2.054.100 người (năm 1996) lên ước tính 2.214.838 người (năm 2005), mật độ dân số tăng từ 348 người/km² (năm 1996) lên 376 người/km² (năm 2005). Đồng Nai có cơ cấu dân cư đa dân tộc (32 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 92%, các dân tộc thiểu số chiếm 8% với 180 ngàn người) và đa tôn giáo (trên 60% dân số theo tôn giáo, riêng Công giáo có 718.255 tín đồ, chiếm 32,64% dân số toàn tỉnh; Phật giáo có 419.268 tín đồ, chiếm 19,05%).

Tăng trưởng kinh tế của tỉnh giai đoạn này đạt tốc độ bình quân 12%/năm, gấp hai lần mức tăng chung của cả nước (6,7%). GDP năm 2000 tăng gấp hai lần năm 1995. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh: năm 2000, công nghiệp chiếm 52,1%, dịch vụ chiếm 24,9%, nông nghiệp chiếm 22,9%. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000 gấp 12,3 lần năm 1990; vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thực hiện giai đoạn 1996-2000 chiếm 67,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn. Đến năm 2000, tỉnh hoàn thành quy hoạch tổng thể 17 khu công nghiệp với diện tích 8.119 ha.

Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội và nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1990 - 2005:

Chỉ tiêu Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000 Năm 2005
Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm (%) - - 12,0% Trên 12,0%
Tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế (%) - - 52,1% Tăng liên tục
Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế (%) - - 22,9% Giảm dần
Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế (%) - - 24,9% Tăng dần
Lao động ngành nông - lâm nghiệp (%) 64,50% - 52,78% Chuyển dịch giảm
Lao động ngành công nghiệp chế biến (%) 13,67% - 19,40% Chuyển dịch tăng
Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (%) 51,88% (1989) - 58,97% Tiếp tục tăng
Số khu công nghiệp hoàn thành quy hoạch - - 17 KCN Tiếp tục mở rộng
Mật độ dân số (người/km²) - 348 (1996) - 376

Về chủ trương và chỉ đạo thực tiễn, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai các khóa VI (1996-2000) và VII (2000-2005) đã ban hành các nghị quyết nhấn mạnh phát triển giáo dục - đào tạo gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉnh ủy chỉ đạo:

  • Công tác quy hoạch nguồn nhân lực: Từng bước khảo sát cung - cầu lao động, lập quy hoạch mạng lưới trường đào tạo nghề, phân bổ lực lượng lao động gắn với quy hoạch các khu công nghiệp tại Biên Hòa, Long Thành, Nhơn Trạch.
  • Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực: Chỉ đạo sắp xếp lại mạng lưới dạy nghề, đẩy mạnh đào tạo cán bộ, công chức, viên chức về lý luận chính trị và chuyên môn hành chính; phối hợp giữa các trường dạy nghề với doanh nghiệp nhằm đào tạo công nhân kỹ thuật.
  • Thu hút, đãi ngộ và môi trường làm việc: Ban hành các chính sách ban đầu nhằm hỗ trợ nhà ở cho người lao động nhập cư, thu hút bác sĩ, giáo viên và cán bộ khoa học kỹ thuật về tỉnh công tác, tạo lập quan hệ lao động hài hòa trong các doanh nghiệp FDI.

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực từ năm 2006 đến năm 2015

Chương 3 trình bày các yếu tố tác động mới trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Đến năm 2010, toàn tỉnh đã hình thành 30 khu công nghiệp với tổng diện tích 9.573 ha và 43 cụm công nghiệp với diện tích 2.166 ha. Dân số năm 2015 ước tính đạt 2.850 nghìn người, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 1.746 nghìn người.

Trước yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh kinh tế, Đảng bộ tỉnh khóa VIII (2005-2010) và khóa IX (2010-2015) đã xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong sáu khâu trọng tâm. Ngày 28/7/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định phê duyệt "Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2020". Sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn này tập trung vào các nhiệm vụ:

  • Đẩy mạnh công tác quy hoạch nhân lực: Phê duyệt quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, dạy nghề; dự báo nhu cầu nhân lực các ngành công nghiệp phụ trợ, cơ khí chế tạo, hóa chất, dịch vụ logistics.
  • Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng: Ban hành các chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn ngạch, bậc và chức danh; chuẩn hóa trình độ thạc sĩ, tiến sĩ; tập trung ngân sách cho các cơ sở giáo dục công lập; liên kết đào tạo nghề theo đơn đặt hàng của các tập đoàn sản xuất lớn; chỉ đạo chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
  • Đổi mới chính sách thu hút, đãi ngộ và môi trường làm việc: Ban hành các nghị quyết của Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách thu hút nhân tài, hỗ trợ kinh phí cho cán bộ đi học sau đại học, đãi ngộ đội ngũ chuyên gia y tế, giáo dục; giải quyết vấn đề nhà ở công nhân, thiết chế văn hóa tại các khu công nghiệp tập trung.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 đánh giá toàn diện kết quả thực hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh qua 20 năm, làm rõ mặt đạt được, tồn tại và nguyên nhân.

Ưu điểm nổi bật: Đảng bộ tỉnh đã nhận thức đúng đắn và chỉ đạo kịp thời việc gắn kết phát triển nguồn nhân lực với tiến trình công nghiệp hóa; mạng lưới cơ sở đào tạo nghề và đại học được mở rộng; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng đều qua các nhiệm kỳ; đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị; chính sách xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp huy động được nguồn lực từ các thành phần kinh tế.

Hạn chế và nguyên nhân: Công tác quy hoạch nguồn nhân lực đôi lúc chưa bắt kịp tốc độ thu hút đầu tư công nghiệp; cơ cấu nhân lực còn mất cân đối giữa các ngành nghề; tình trạng thiếu công nhân lành nghề, thiếu nhân lực quản trị doanh nghiệp chất lượng cao chưa được khắc phục triệt để; chính sách thu hút chuyên gia giỏi chưa đạt kết quả như mong muốn; điều kiện sinh hoạt, đời sống văn hóa tinh thần của công nhân nhập cư tại một số địa bàn khu công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn.

Từ thực tiễn lãnh đạo, luận án đúc kết ba kinh nghiệm chủ yếu:

  1. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị về tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đối với sự phát triển bền vững của địa phương.
  2. Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, đồng bộ hoạt động của các tổ chức trong toàn hệ thống chính trị tỉnh, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong phát triển nguồn nhân lực.
  3. Coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng nguồn nhân lực hợp lý, trong đó lấy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm nhiệm vụ trọng tâm gắn liền với thực tiễn sản xuất kinh doanh và quản lý xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học, luận án có các đóng góp:

  • Hệ thống hóa toàn diện các nguồn tài liệu, văn kiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai về xây dựng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2015.
  • Phục dựng bức tranh lịch sử chân thực, khách quan về quá trình Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng vào điều kiện cụ thể của một tỉnh công nghiệp phát triển năng động tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
  • Đúc kết các kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học về sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đối với phát triển nguồn lực con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả:

  • Cung cấp luận cứ thực tiễn và cơ sở dữ liệu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Đồng Nai tham khảo trong việc hoạch định chính sách đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực cho các giai đoạn tiếp theo.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đãi ngộ, cải thiện môi trường làm việc, nâng cao chất lượng lao động kỹ thuật và xây dựng đời sống văn hóa cho giai cấp công nhân.
  • Là tài liệu nghiên cứu, giảng dạy phục vụ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử Đảng bộ địa phương tại các trường đại học, cao đẳng và trường chính trị trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đến mốc thời gian năm 2015, do đó các vấn đề phát triển nhân lực trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và việc triển khai các siêu dự án hạ tầng kỹ thuật quốc gia sau năm 2015 chưa được bao quát đầy đủ. Đồng thời, do nguồn số liệu thống kê liên tục qua 20 năm có sự thay đổi về tiêu chí phân loại ngành nghề, việc đối chiếu chi tiết cơ cấu nhân lực nội bộ của một số khu vực kinh tế cá thể còn gặp những khó khăn nhất định.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các nghiên cứu tiếp nối có thể:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai từ năm 2015 đến nay, đặc biệt là giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X và lần thứ XI.
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên đề về phát triển nguồn nhân lực phục vụ vận hành Cảng hàng không quốc tế Long Thành và hệ thống logistics kết nối vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
  • Khảo sát các chính sách đặc thù nhằm nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động của lực lượng lao động di cư tại các khu công nghiệp tập trung.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu hữu ích cho:

  • Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cơ quan tham mưu của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp tại tỉnh Đồng Nai và các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong việc xây dựng quy hoạch đào tạo và ban hành chính sách đãi ngộ nhân lực.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Quản lý công, Kinh tế phát triển.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương tìm kiếm nguồn sử liệu thành văn về các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của Đồng Nai trong 20 năm đầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2015).

Phần đáng tham khảo nhất của luận án là Chương 2 và Chương 3 với hệ thống tư liệu lịch sử chi tiết phản ánh quá trình thể chế hóa đường lối của Đảng thành các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cụ thể tại địa phương, cùng hệ thống kinh nghiệm lãnh đạo được tổng kết ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai thành những giai đoạn nào và dựa trên căn cứ lịch sử nào? Luận án phân chia tiến trình lãnh đạo thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 (1996-2005) tương ứng với hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa VI và khóa VII, đánh dấu thời kỳ đầu Đồng Nai đẩy mạnh công nghiệp hóa, tập trung quy hoạch các khu công nghiệp và phát triển nhân lực ban đầu; Giai đoạn 2 (2006-2015) tương ứng với hai nhiệm kỳ Đại hội khóa VIII và khóa IX, thời kỳ đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển dịch mô hình tăng trưởng và hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO.

2. Tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp và cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 1996-2000 đạt được những chỉ số cụ thể nào? Theo các số liệu được nêu trong văn bản, giai đoạn 1996-2000, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Đồng Nai bình quân đạt 12%/năm, sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân 20,3%/năm. Đến năm 2000, cơ cấu kinh tế của tỉnh đạt tỷ lệ: công nghiệp chiếm 52,1%, dịch vụ chiếm 24,9%, nông nghiệp chiếm 22,9%.

3. Cơ cấu lao động tại Đồng Nai đã chuyển dịch như thế nào giữa ngành nông - lâm nghiệp và công nghiệp chế biến từ năm 1990 đến năm 2000? Số liệu văn bản phản ánh rõ sự chuyển dịch nhanh giữa hai ngành: tỷ lệ lao động trong ngành nông - lâm nghiệp giảm từ 64,5% năm 1990 xuống còn 52,78% năm 2000; trong khi đó, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp chế biến tăng từ 13,67% năm 1990 lên 19,4% năm 2000.

4. Đặc điểm tôn giáo và dân tộc của tỉnh Đồng Nai tác động như thế nào đến môi trường xã hội và nguồn nhân lực theo luận án? Toàn tỉnh có 32 dân tộc sinh sống (người Kinh chiếm 92%, dân tộc thiểu số chiếm 8% với 180 ngàn người) và trên 60% dân số là tín đồ của các tôn giáo. Trong đó, Công giáo có 718.255 giáo dân (chiếm 32,64% dân số tỉnh và 12% tín đồ Công giáo cả nước), Phật giáo có 419.268 tín đồ (chiếm 19,05%). Sự đa dạng này đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải chú trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh cho người lao động.

5. Luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm cốt lõi nào cho công tác lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực? Tác giả đúc kết ba bài học kinh nghiệm cốt lõi: (1) Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng và toàn bộ hệ thống chính trị về vị trí trung tâm của nguồn nhân lực; (2) Chỉ đạo kịp thời, đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị; (3) Coi trọng đồng bộ các khâu từ quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, sử dụng, đặc biệt tập trung vào nguồn nhân lực chất lượng cao.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 1996 đến năm 2015" của tác giả Nguyễn Thị Túy là công trình chuyên khảo lịch sử Đảng được nghiên cứu nghiêm túc, bám sát các nguồn tư liệu thực tế tại địa phương. Luận án đã làm rõ tiến trình 20 năm Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vào thực tiễn phát triển nguồn nhân lực tại một địa bàn công nghiệp trọng điểm phía Nam. Các đánh giá ưu điểm, hạn chế và ba bài học kinh nghiệm được rút ra phản ánh chân thực các quy luật vận động lịch sử, mang lại giá trị khoa học và giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lãnh đạo phát triển nhân lực trong thời kỳ mới.