Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN DEN DE TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án Nghiên cứu phát triển NNL của đất nước và ở mỗi địa phương là van đề vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn thời sự; là yếu tố quan trọng quyết định sức mạnh cạnh tranh, sự thành công và phát triển bền vững xã hội. Vấn đề này đã được rất nhiều nhà khoa học và các tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu. Qua sưu tầm, nghiên cứu các công trình khoa học đi trước, luận án tổng quan tình hình nghiên cứu thành các nhóm như sau: 1.
Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nưóc ngoài 1. Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu về nguôn nhân lực Các tác giả Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith (2003), Human Resources in the 21st century (Nguồn nhân lực trong thé kỉ XXI) [210]. Các tác giả cho rằng, phát triển NNL mối liên hệ mật thiết đến tổ chức, lãnh đạo, sử dụng nguồn chất xám, cơ câu lao động cũng như phương thức quản lý lao động trong doanh nghiệp. Đây là những vấn đề quan trọng được đề xuất qua khảo sát của các chuyên gia hàng đầu về nhân lực trên các phương diện như chính sách đảo tạo, bồi đưỡng, quản lý, sử dụng lao động hiệu quả nhằm tạo nên NNL cho thế kỷ XXI.Wang và Judy Y.Sun (2009), “Perspectives on Theory Clarifying the Boundaries of Human Resource Development” (Những quan điểm dựa trên lý thuyết làm rõ những ranh giới của phát trién nguồn nhân lực ) [209], đã luận giải sự khác biệt giữa phát triển NNL với phát triển vốn nhân lực và phát triển con người, từ đó có thể làm rõ về mặt lý luận nghiên cứu NNL trong một lĩnh vực cũng như một tô chức nhất định.
Tác giả Braj Raj Kumar SINHA (2012), “Dimensions of human resource development: Concepts and approaches” (Nhiệm vu phát triển nguồn nhân lực: Khái niệm và tiếp cận) [207]. Tác gia đã tập trung làm rõ nhiệm vụ phát triển NNL, trình bày khái niệm về NNL, phát triển NNL và nêu cách tiếp cận phát triển NNL. Theo tác giả: 13 Kiến thức, kỹ năng, tài năng, khả năng sáng tạo hoặc bất kỳ năng lực hoặc năng lực tỉnh thần (trí tuệ) và thể chất (thủ công) vốn có (ở dạng thực tế hoặc tiềm năng) ở mỗi người trong một khu vực được gọi là nguồn nhân lực và tăng trưởng, nâng cao, mở rộng thành phần nguồn nhân lực như vậy trong một khoảng thời gian nhất định được gọi là phát triển NNL. Bên cạnh đó, tác gia cũng đưa ra 7 cách tiếp cận phát triển NNL: 1) Phương pháp tiếp cận không gian và thời gian; 2) Cách tiếp cận theo thành phần tuổi; 3) Cách tiếp cận về giới; 4) Phương pháp tiếp cận nhóm xã hội; 5) Tiếp cận về giáo dục; 6) Tiếp cận về nghề nghiệp; 7) Cách tiếp cận điểm tổng hợp.
Trong 7 cách tiếp cận phát triển NNL, tác giả đã đặc biệt nhắn mạnh đến vai trò của giáo dục: Giáo dục là phương tiện mạnh mẽ dé phát triên NNL vì chúng được xem như một công cụ chiến lược và đóng vai trò quan trọng trong phát triển NNL. Theo tác giả “giáo dục đóng vai trò chủ đạo như một công cụ hữu hiệu cho thành tựu quy mô và cách mạng lớn trong tat cả các lĩnh vực” [207, tr. Tác giả Fapohunda, Tinuke. (2015), “The human resource management dimensions of corporate social responsibility” (Van dé quản lý nguồn nhân lực trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) [208] đã tập trung phân tích cách tiến hành các hoạt động quản lý nhân sự có trách nhiệm đối với xã hội, đặc biệt là đánh giá hiệu quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với vấn đề quản lý NNL.
Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng năm giả thiết đối với hiệu quả của việc thực hiện quản lý NNL, nhất là chức năng nhân sự thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đồng thời tác giả cũng phân tích cách thức mà trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tác động đến chức năng, vai trò và hoạt động của nhân sự (đặc biệt đối với những nhà tuyên dụng và tiếp cận việc làm, đảo tạo và phát triển nghề nghiệp cũng như phúc lợi trong công VIỆC). Tác gia Talat Afza va Mian Sajid Nazir (2007), “Economic competitiveness and human resource development: An FDI perspective” (nang luc canh tranh kinh tế và phát triển nguồn nhân lực: Góc nhìn FDI) [211] đã khang định: Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập thị trường đã và đang làm nôi bật vai trò của nền kinh tế tri thức, vấn đề năng lực cạnh tranh kinh tế, cơ sở đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đưa 14 kinh tế các nước phát triển. Trong xu thế toàn cầu hóa, tác giả chỉ rõ: Kiến thức và kỹ năng ngày càng toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau lực lượng lao động là vũ khí cạnh tranh quan trọng của các quốc gia và do đó nên tập trung đề nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế [211, tr.
Trên cơ sở đó, tác giả đã làm rõ vai trò của NNL chất lượng cao, yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về nguôn nhân lực Ở nước ngoài Tác giả Tran Văn Tùng và Lê Ái Lâm (1996), Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thé giới và thực tiễn nước ta [167]. Hai tác giả đã giới thiệu khái quát về vai trò NNL trong thời kỳ đổi mới và kinh nghiệm phát triển NNL ở khía cạnh phát triển GD-ĐT của một số nước trên thế giới; đồng thời làm rõ thực trạng NNL ở Việt Nam; sự cần thiết vận dụng sáng tạo kinh nghiệm phát triển NNL của các nước, những giải pháp phát trién NNL Việt Nam qua các hoạt động GD-ĐT. Tác giả đã khang định nguồn lực con người đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế.
Quốc gia nào quan tâm, chăm lo cho NNL, sử dụng hợp lý và có hiệu quả thì tất sẽ dẫn đến thành công. Do đó, dé CNH, HĐH đất nước, theo tác giả Việt Nam không chỉ học hỏi có lựa chọn kinh nghiêm các nước đi trước mả điều quan trọng hơn là phải tập trung khai thác và phát huy triệt để lợi thế sẵn có của mình, trong đó NNL là vấn đề trung tâm. Từ những luận giải trên, tác giả đã hệ thống hóa và khái quát lại một số vấn đề lý luận liên quan đến NNL, phát triển NNL, vai trò và sự cần thiết phải phát triển NNL, làm rõ thêm kinh nghiệm phát trién NNL của những nước tiên tiến như: Hoa Kỳ, Nhat Ban và một số nước khác (ở các khía cạnh như chính sách, chiến lược, mục tiêu. Bên cạnh đó, tác giả đã làm rõ thực trạng NNL ở Việt Nam hiện nay, rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của chúng.
Sau đó đề ra một số nhóm giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH trong thời gian tới. Tác gia Trần Văn Tùng (2005), Đào tao, bồi dưỡng và sử dụng nguon nhân 15 lực tài năng kinh nghiệm của thé giới [168] đã tập trung trình bày những kinh nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài của Mỹ và một số quốc gia châu Âu, châu Á. Trên cơ sở những kinh nghiệm được rút ra, tác giả đã khang dinh: dan tộc nao, quốc gia nào không quý trọng tài năng, không biết sử dụng nguồn vốn quý giá đó, tất yêu phải rơi vào cảnh nghèo nàn, tụt hậu. Theo tác giả, dé không tut hậu, Việt Nam cần có cách nhìn mới, chính sách mới và tập trung cao độ cho việc đào tạo đội ngũ nhân lực tải năng, sử dụng hiệu quả đội ngũ đó vì mục tiêu phát triển đất nước.
Tập thé tác giả Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (đồng chủ biên) (2008), Kinh nghiệm của một sỐ nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức [205]. Các tác giả đã khăng định trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, van đề phát trién NNL, đặc biệt là phát triển đội ngũ trí thức của mỗi quốc gia có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đảng và Nhà nước ta luôn coi GD-ĐT cùng với KH-CN là quốc sách hang dau, là động lực thúc đây CNH, HĐH đất nước, là nền tảng phát triển NNL, đặc biệt là NNL trình độ cao. Tập thê tác giả đã tập trung phân tích kinh nghiệm của các nước như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Cộng hòa Liên bang Đức là những nước phát triển hiện đại, có trình độ khoa học kỹ thuật cao và có quá trình CNH, HĐH lâu dài; Hàn Quốc và Singapore là những nước công nghiệp mới, đã vươn lên mạnh mẽ trở thành những nước phát triển mới; Trung Quốc là nước có nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng nhanh và sẽ trở thành một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Tập thê tác giả đã phân tích chính sách gan phát triển GD-ĐT, KH-CN với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm. Đây là một công trình nghiên cứu công phu, có giá trị tham khảo cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách ở Việt Nam. Tác giả Tạ Ngọc Tan (2012), Phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài - Một số kinh nghiệm của Thế giới [L13]. Đây là công trình khoa học được tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu quý của Dang, Nhà nước và của các nhà khoa học hàng đâu trong và ngoài nước.
Công trình được xem như câm nang định hướng sự 16 phát triển nguồn lực con người, và nguồn lực con người là vấn đề trọng tâm, là thước đo để đánh giá, xếp hạng mức độ phát triển của mỗi nước. Phát triển nguồn lực con người, trước hết công cụ cơ bản phải là GD-ĐT và GD-ĐT cũng là công cụ cơ bản dé phát triển dat nước. Các công trình nghiên cứu ở trong nưóc về phát triển nguôn nhân lực 1. Các sách đã xuất bản Tác gia Mai Quốc Chánh (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cau công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [18].
Tác giả đã nhẫn mạnh vai trò của NNL và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL ở Việt Nam; chỉ ra thực trạng sé lượng, chất lượng NNL ở nước ta và những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Tác giả đặc biệt chú ý đến yêu cầu xây dựng NNL chất lương cao, một doi hỏi cấp bách cho công cuộc CNH, HDH đất nước.