Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm nhân lực Theo Đại từ điển kinh tế thị trường thì nhân lực: Nhìn từ góc độ kinh tế chính trị là chỉ lực lượng và năng lực những người lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động. Mác đã nói: sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con người, tức là thân thể người sống. Mỗi khi con người sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực.
Sức lao động là tổng hòa toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con người, mà con người có thể vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Như vậy sức lao động là năng lực tồn tại trong cơ thể con người, do con người chi phối. Sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Nguyễn Đức Thành cho rằng “Nguồn lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực và trí lực” thể hiện việc tận dụng sức lực và tri thức của con người trong lao động sản xuất.
Trong hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, năng lực lao động của con người có tác dụng chi phối chủ yếu, là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội. Sự phân công lao động xã hội càng sâu sắc, xã hội hóa nền sản xuất càng cao thì tính chất xã hội của sức lao động của mỗi người càng nhiều. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội cần phát huy đầy đủ tài nguyên nhân lực, phát huy tính chủ động tích cực sáng tạo của người lao động. Từ sự phân tích trên có thể thống nhất như sau: 8 Nhân lực là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất.
Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các tổ chức và DN. Nguồn nhân lực Cho đến nay khái niệm nguồn nhân lực hầu như chưa thống nhất. Tùy theo mục đích cụ thể mà có những nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực. Tác giả còn nêu lên một số khái niệm: Theo giáo trình Nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - xã hội do PGS.TS Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ cư dân có khả năng lao động” [14,tr.
Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội. “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm cư dân trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [14,tr. Khái niệm này chỉ lực lượng đảm đương lao động chính của xã hội. Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS.
Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì: “Nguồn nhân lực, là nguồn lực của con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng tại một thời điểm nhất định” [1, tr. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động, tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh của khả năng đó thể hiện qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [1, tr.TS Bùi Văn Nhơn trong cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực xã hội” xuất bản năm 2006 cho rằng: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [20,tr. Theo GS Phạm Minh Hạc: NNL là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng LĐ, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai.
Theo giáo trình quản trị nhân lực, đại học kinh tế quốc dân do Ths. Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên (2004) thì khái niệm NNL được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực” [11,tr. Trong cuốn sách Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì GS Phạm Minh Hạc cho rằng: “NNL là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết là tiềm năng LĐ, bao gồm: thể lực, trí lực, phẩm chất và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định, có thể là một quốc gia, một vùng, một ngành hoặc một tổ chức nhất định trong hiện tại và tương lai” [12,tr. Theo tác giả Trần Kim Dung, NNL là loại nguồn lực không giống các nguồn lực khác.
Đây chính là nguồn lực mà trong đó con người liên kết được với nhau, thực hiện vai trò của con người trong việc thực hiện các mục đích của tổ chức. Còn bản thân các nguồn lực khác không tự kết nối, không tự hình 1 thành các mối liên kết được nếu không có con người. Vì vậy, vai trò của con người trong quá trình xây dựng và phát triển tổ chức là rất quan trọng. Qua tham khảo các khái niệm về Nguồn nhân lực nêu trên, tác giả đưa ra khái niệm nguồn nhân lực của doanh nghiệp theo cách hiểu của mình như sau: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là nguồn lực của tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người lao động, được tổ chức một cách khoa học, sắp xếp hợp lý, được huy động trong quá trình lao động nhằm đạt được những mực tiêu chung của doanh nghiệp cũng qua đó nhằm đạt những ý nguyện cho riêng cá nhân họ trong quá trình lao động - sản xuất - kinh doanh và nghiên cứu thực nghiệm khoa học.
Nguồn nhân lực tốt là cơ sở tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, vì vậy phải tiến hành quản trị nguồn nhân lực như một yếu tố đầu vào quan trọng bậc nhất của mỗi doanh nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực Giáo trình Quản trị nhân lực của Đại học lao động - xã hội, do PGS. Lê Thanh Hà chủ biên (2009) đưa ra khái niệm: Phát triển là các hoạt động vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Phát triển bao gồm các hoạt động nhằm chuẩn bị cho nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức khi tổ chức thay đổi và phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Nội dung của phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức gồm ba hoạt động cơ bản là: Giáo dục, đào tạo và phát triển [6,tr. 1 Giáo dục là hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai. Hoạt động giáo dục thường gắn liền với các hoạt động nâng cao kiến thức và hiểu biết cho con người [6,tr.
Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình [6,tr. Phát triển là hoạt động học tập nhưng mở ra cho người lao động những công việc mới dựa trên định hướng phát triển trong tương lai của tổ chức [6,tr. Tuy được hiểu theo các nghĩa rộng hẹp khác nhau nhưng nội hàm của phát triển nguồn nhân lực bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và các kĩ năng mềm khác tạo nên phẩm chất này càng được nâng cao nhờ quá trình học suốt đời và tích lũy trong cuộc sống và lao động.TS Bùi Văn Nhơn trong cuốn “Quản lý và phát triển NNL xã hội” xuất bản năm 2006: “Phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho NNL (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [20,tr. Trong khái niệm này chất lượng NNL được giải thích như sau: “Thể lực của NNL: sức khỏe và sức khỏe tinh thần” [20,tr.
“Trí lực của NNL: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động” [20,tr. “Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao. 1 Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân, do PGS.TS Trần Xuân Cầu chủ biên năm 2008: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa, truyền thống lịch sử… Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao” [1,tr. Khái niệm này chỉ quá trình phát triển NNL để cung cấp NNL có chất lượng cho đất nước nói chung.
Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của vùng, của ngành hay của một doanh nghiệp.