phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục, phần nội dung của luận văn gồm 03 chương: Chư ng 1: C s lý lu n và thực tiễn về phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện ọc viện Tài chính. Chư ng 2: Thực trạng nguồn lực thông tin tại Thư viện ọc viện Tài chính. Chư ng 3: i i pháp phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện ọc viện Tài chính 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƢ VIỆN HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 1.
Cơ sở lí luận về phát triển nguồn lực thông tin 1. Khái ni m về nguồn lực thông tin Nguồn lực thông tin là một trong bốn thành tố cơ bản cấu thành cơ quan TT- TV, nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thỏa mãn NCT của NDT, đồng thời phản ánh tiềm lực của m i thư viện trong quá trình xây dựng và phát triển. Thuật ngữ “Nguồn lực thông tin” được dịch t thuật ngữ tiếng Anh “Information Resource”. hái niệm nguồn lực thông tin được dùng để phản ánh phần thông tin tích cực trong xã hội, có cấu trúc, được kiểm soát, có thể truy cập được, có giá trị phục vụ cho hoạt động thực tiễn của con người.
Như vậy, không phải mọi thông tin có trong xã hội đều là nguồn lực, mà đây chỉ là phần thông tin tích cực của xã hội được tổ chức giúp cho các hoạt động quản lý ra quyết định và điều hành công việc. Hiện nay, ở Việt Nam khái niệm về “Nguồn lực thông tin” c n chưa được hiểu và định nghĩa một cách thống nhất, có những quan điểm khác nhau.TS Nguyễn Hữu Hùng“ Nguồn lực thông tin là một dạng sản phẩm của lao động trí óc, trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có giá trị thực tiễn trong quá trình sử dụng”[10].Trong thành phần của N TT bao gồm: vốn tài liệu, các bộ sưu tập, các CSD và công cụ tra cứu. Về vốn tài liệu theo Pháp lệnh Thư viện xác định “Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt được hiệu quả cao và được bảo quản”[19 .Nguyễn Viết Nghĩa cho rằng “N TT là tập hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi dạng khác nhau của một cơ quan TT-TV nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT”[15]. Trần Thị Quý cho rằng “N TT chính là các dạng vật chất khác nhau lưu giữ các thông tin/tri thức của con người được tổ chức, sắp xếp lại, có cấu trúc, có ý nghĩa, có nội dung mà con người có thể khai thác được chúng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
NLTT này do một tổ chức, cá nhân nào đó kiểm soát chúng nhằm phục vụ cho lợi ích của con người”[20]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “ Nguồn lực thông tin” là sản phẩm của trí tuệ con người, là sản phẩm lao động khoa học, phản ánh những kiến thức được kiểm soát và ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó. Để trở thành nguồn lực, thông tin tiềm năng phải được tổ chức, cấu trúc lại để NDT có thể truy cập, tìm kiếm khai thác và sử dụng được, phục vụ nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội. Bên cạnh quan điểm phổ biến trên đây, c n có một số ý kiến cho rằng “nguồn lực thông tin” đồng nhất với các yếu tố tiềm năng đảm bảo cho sự phát triển của hoạt động thông tin, bao gồm nguồn tin, nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất và tài chính.
Nguồn lực thông tin là loại tài sản cố định đặc biệt, khác với những tài sản vật chất khác, càng được khai thác sử dụng thì giá trị càng giàu thêm mà không hề bị hao mòn mất mát đi. Trong các cơ quan TT-TV, việc đầu tư vào các công việc như xử lý, lưu giữ và tạo lập các công cụ để thuận lợi cho việc khai thác sử dụng các nguồn tin như tổ chức kho lưu trữ - bảo quản, xây dựng các mục lục, các CSDL chính là làm tăng thêm giá trị sử dụng của vốn tài liệu cố định đó. Như vậy, về cơ bản các khái niệm về “nguồn lực thông tin” được trình bày ở phần trên là có cùng bản chất và đều coi NLTT là một dạng nguồn lực mới mà giá trị của chúng ngày càng được th a nhận. NLTT là kết quả của hoạt động lao động trí óc, là những thông tin được tổ chức, kiểm soát và có giá trị trong hoạt động thực tiễn của con người.
N TT được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin được tổ chức sao cho NDT có thể dễ dàng truy cập, tìm kiếm, khai thác, sử dụng để phục vụ cho các lợi ích khác nhau của xã hội. Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả hiểu khái niệm về N TT theo nghĩa thường được sử dụng trong cơ quan TT-TV và trên các ấn phẩm thuộc lĩnh vực TT- TV như sau: N TT trong các cơ quan TT-TV bao gồm các loại nguồn tài liệu như : sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án, các bộ sưu tập.dưới mọi hình thức vật lý khác nhau và các phương tiện để tổ chức, kiểm soát chúng như các CSDL, các công cụ tra cứu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái ni m phát tri n nguồn lực thông tin Theo t điển tiếng Việt “phát triển” là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng t ít đến nhiều, t thấp đến cao, t hẹp đến rộng, t đơn giản đến phức tạp, mở mang t nhỏ thành lớn, t yếu thành mạnh.
Như vậy, “phát triển” là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng t trạng thái tồn tại c sang trạng thái tồn tại mới, đó là sự biến đổi cả về chất và lượng theo chiều hướng tốt lên. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về “phát triển nguồn lực thông tin”.Theo T điển Giải nghĩa thư viện học và tin học của Hiệp hội thư viện Hoa “Phát triển N TT” chính là phát triển bộ sưu tập của thư viện, bao gồm việc xác định và phối hợp chính sách tuyển chọn, định lượng nhu cầu của người sử dụng, những nghiên cứu về việc sử dụng bộ sưu tập, việc đánh giá bộ sưu tập, nhận diện các nhu cầu của bộ sưu tập, tuyển chọn tài liệu, lập kế hoạch về việc chia s tài nguyên, việc bảo quản bộ sưu tập và loại bỏ tài liệu ra khỏi bộ sưu tập. Nguyễn Viết Nghĩa: “phát triển” gắn liền với quản trị nguồn tin, vì phát triển là tiền đề của quản trị và quản trị là một khâu quan trọng trong PTNLTT[15]. Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả hiểu thuật ngữ “phát triển N TT” là hoạt động làm cho vốn tài liệu, các công cụ tra cứu thông tin của thư viện được lớn mạnh theo xu hướng tốt lên, phong phú cả về lượng và chất, giúp NDT có thể tra cứu, khai thác thỏa mãn tốt hơn NCT của mình.
Vai trò của nguồn lực thông tin i với hoạ ộng TT-TV NLTT có một vị trí đặc biệt quan trọng, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và hoạt động của một cơ quan TT-TV. Muốn xây dựng cơ quan TT-TV, đầu tiên phải có một vốn tài liệu nhất định, đó là cơ sở quan trọng đảm bảo cho hoạt động của cơ quan TT-TV phục vụ NDT. NLTT luôn biến đổi, đa dạng và phong phú, là động lực phát triển mọi hoạt động của cơ quan TT-TV. Phục vụ tốt nhất NCT của NDT làm cho hoạt động thư viện trở nên có ý nghĩa, hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu đặt ra.
Một cơ quan TT-TV s không thể được trưởng thành, phát triển nếu N TT không được tổ chức, duy trì và khai thác hiệu quả. NLTT giúp cơ quan TT-TV hoàn thành chức năng, nhiệm vụ mà xã hội giao cho, góp phần phát triển khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội. bằng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách đáp ứng NCT của đông đảo các nhà chuyên môn trên các lĩnh vực hoạt động và giúp họ giải quyết được những vướng mắc về chuyên môn c ng như tiếp cận với những thành tựu khoa học mới của thế giới. NDT s đến cơ quan TT-TV nếu ở đó quản trị được N TT “đủ mạnh” đáp ứng NCT của họ.
Ngược lại, nếu NLTT nghèo nàn, yếu kém, không đầy đủ s ảnh hưởng đến việc thu hút NDT đến khai thác, sử dụng và như vậy khả năng đáp ứng NCT của cơ quan TT-TV c ng hạn chế. Trong các học viện, nhà trường N TT góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và NC H. Giáo dục đại học nước ta đang bước vào thời k đổi mới căn bản và toàn diện, N TT trong thư viện các trường đại học là vấn đề cần được chú trọng phát triển. Thư viện là “giảng đường thứ hai”, N TT trong thư viện là thước đo quan trọng hàng đầu đánh giá hiệu quả hoạt động thư viện và ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng công tác đào tạo, NCKH của nhà trường.
Hiện nay, với việc hầu hết các trường đại học có chất lượng ở Việt Nam đang chuyển đổi phương thức t đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ đ i hỏi đội ng giảng viên phải đầu tư nhiều công sức hơn cho việc soạn bài giảng, chuẩn bị tài liệu, hướng dẫn thảo luận, tăng cường thời gian NCKH; sinh viên phải tham gia học tập với thái độ tích cực, chủ động tìm kiếm và tham khảo các tài liệu thích hợp với t ng môn học, t ng chuyên đề khác nhau để đạt yêu cầu của m i tín chỉ. Với yêu cầu đổi mới về giáo dục - đào tạo, NLTT tại các thư viện đóng vai tr quan trọng giúp NDT trong nhà trường hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ học tập, giảng dạy, nghiên cứu của mình. NLTT được tổ chức tốt trong nhà trường s đảm bảo cung cấp cho NDT những thông tin khoa học mới m , những thành quả khoa học của các công trình nghiên cứu do cán bộ, giảng viên và sinh viên thực hiện. Với việc thực hiện phương pháp đào tạo theo học chế tín chỉ, cả người dạy, người học phải dành nhiều thời gian cho NCKH, phải chủ động tìm kiếm và tự nghiên cứu tài liệu đặc thù, đôi khi là những thông tin duy nhất, khó tìm thấy ở nơi khác để tạo ra những công trình nghiên cứu có chất lượng với những thông tin mới.