CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ DIỄN ĐẠT CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 4 - 5 TUỔI THÔNG QUA CÂU CHUYỆN XÃ HỘI 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Những nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ Khuyết tật trí tuệ Những nghiên cứu về giáo dục cho trẻ khuyết tật trên thế giới được đề cập rất sớm, tuy nhiên việc phát hiện ra trẻ mắc Khuyết tật trí tuệ và nghiên cứu về giáo dục cho trẻ Khuyết tật trí tuệ lại bắt đầu muộn. Ngay từ những năm đầu của thế kỉ XX vấn đề nghiên cứu trẻ Khuyết tật trí tuệ Khuyết tật trí tuệ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm như: các bác sĩ, các nhà tâm lí học, giáo dục học, sinh học, giải phẫu. Alfred Binet và Theodore Simon là những người đầu tiên phát minh ra trắc nghiệm chỉ số trí tuệ vào đầu thế kỉ XX, họ cho rằng những người có chỉ số trí tuệ dưới 70 bị coi là Khuyết tật trí tuệ. Theo Edgardoll (1941) định nghĩa, một trẻ Khuyết tật trí tuệ phải biểu hiện ở 6 tiêu chỉ sau: 1) Không thích nghi được với xã hội 2) Trí thông minh thấp hơn mức bình thường 3) Không có khả năng phát triển trí tuệ cao hơn nữa 4) Chỉ đạt ở mức độ phát triển nhất định; 5) Mức độ phát triển tuỳ theo sự phát triển của thể chất 6) Không có khả năng chữa trị được.
Năm 1954 Benda cho rằng: Khuyết tật trí tuệ là người không có khả năng điều khiển bản thân và xử lí các vấn đề của riêng mình, hoặc phải được dạy mới biết làm, họ có nhu cầu về sự giám sát, kiểm soát và chăm sóc cho sức khoẻ của bản thân mình và cần đến sự chăm sóc của cộng đồng. Theo Luria (1966) thì: “Trẻ Khuyết tật trí tuệ là những trẻ mắc phải bệnh về não rất nặng từ khi còn trong bào thai hoặc trong những năm tháng đầu đời. Bệnh này cản trở sự phát triển của não, do vậy nó gây ra những sự phát triển không bình thường về tinh thần. Trẻ Khuyết tật trí tuệ dễ dàng được nhận ra do khả năng lĩnh hội ý tưởng và khả năng tiếp nhận thực tế bị hạn chế".
4 Nhìn chung, các nghiên cứu được đề cập đến ở trên đã nói lên rằng, giáo dục cho trẻ Khuyết tật nói chung và trẻ Khuyết tật trí tuệ nói riêng là cần thiết. Các vấn đề xung quanh trẻ Khuyết tật trí tuệ đã được quan tâm nghiên cứu và có sự thống nhất nhất định, tạo điều kiện cho trẻ phát triển ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ diễn đạt nói riêng để hòa nhập cộng đồng và có những kỹ năng tối thiểu của cuộc sống. Nghiên cứu về trẻ Khuyết tật trí tuệ nói chung và việc phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ Khuyết tật trí tuệ nói riêng ở Việt Nam hầu như mới chỉ được bắt đầu vào khoảng thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Các nhà nghiên cứu như tâm lý học, giáo dục học, y học.
quan tâm nhiều hơn đến trẻ Khuyết tật trí tuệ từ năm 2000 trở lại đây. Cũng từ đó một loạt các trung tâm nuôi dạy trẻ Khuyết tật trí tuệ ra đời, các Trường học mở ra các lớp học chăm sóc – giáo dục trẻ Khuyết tật trí tuệ, các bệnh viện mở ra các khoa để can thiệp cho trẻ Khuyết tật trí tuệ là những điều kiện thuận lợi cho các nghiên cứu này. Khái quát các đề tài nghiên cứu có liên quan trong những năm gần đây cho thấy không nhiều công trình nghiên cứu về phát triển ngôn của trẻ em nói chung và trẻ Khuyết tật trí tuệ nói riêng. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ em nói chung được Phùng Đức toàn (2009) đề cập đến “Phát triển ngôn từ trong nôi”.
[6] Trần Thị Minh Thành với bài viết “Đặc điểm chơi và phát triển khả năng chơi cho trẻ chậm phát triển” trong tạp trí nghiên cứu giáo dục số 7 (2008) [7] Bùi Thế Hợp (2012), “Dạy trẻ khó đọc đựa trên chất liệu lời nói tự nhiên” luận án tiến sĩ Viện khoa học Giáo dục Việt Nam. [1] Nguyễn Thị Kim Hoa (2015) “Dạy học hỗ trợ kỹ năng đọc thành tiếng cho học sinh lớp 1 khó khăn về đọc” [2] Nhìn chung, các nghiên cứu được đề cập đến ở trên đã nói lên rằng, các vấn đề xung quanh trẻ Khuyết tật trí tuệ đã được quan tâm nghiên cứu và có sự thống nhất nhất định, tạo điều kiện cho trẻ phát triển ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ diễn đạt nói riêng để hòa nhập cộng đồng và có những kỹ năng tối 5 thiểu của cuộc sống. Nhưng chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu vào việc phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ Khuyết tật trí tuệ ở trên Thế Giới và Việt Nam.2 Những nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ Khuyết tật trí tuệ thông qua câu chuyện xã hội Nghiên cứu phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ Khuyết tật trí tuệ thông qua câu chuyện xã hội là vấn đề mới chưa được nghiên cứu đầy đủ đã có những nghiên cứu về phương pháp, biện pháp kể truyện bằng tranh để phát triển ngôn ngữ cho trẻ chẳng hạn như. công trình nghiên cứu của tác giả E.
Tikeeve đưa ra các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ có hệ thống, đề cập đến việc tổ chức hoạt động kể chuyện bằng tranh giúp trẻ rèn luyện khả năng quan sát, khuyến khích các quá trình diễn ra sau khi quan sát. giám sát và phát triển ngôn ngữ. Ở Việt Nam hiện nay, đã có những công trình nghiên cứu thực tiễn về phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ Khuyết tật trí tuệ thông qua câu chuyện xã hội. Theo thời gian, một số đề tài nghiên cứu liên quan về ngôn ngữ diễn đạt và câu chuyện xã hội cũng được các nhà nghiên cứu đề cập đến.
Đề tài cấp nhà nước: “Biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng cho trẻ chậm phát triển trí tuệ học hoà nhập bậc Tiểu học” (2000) của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam đề cập đến mảng giáo dục kỹ năng giao tiếp, đã đưa ra đặc điểm phát triển ngôn ngữ Tác giả Nguyễn Quốc Tuấn (Sử dụng video trong dạy học địa lí ở trường trung học cơ sở - Tạp chí giáo dục- 2002) [8]. Tuy nhiên, nhiều GV cho rằng, các video đó chưa phù hợp với trẻ khuyết tật nói chung và trẻ Khuyết tật trí tuệ nói riêng. Theo tác giả Đào Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Thanh Trong “Thực trạng giáo dục giới tính thông qua câu chuyện xã hội cho học sinh Khuyết tật trí tuệ lớp 5 ở trường tiểu học hòa nhập trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội”[9]. cho rằng phương pháp câu chuyện xã hội “mang lại hiệu quả đáng kể trong việc giáo dục giới tính cho học sinh Khuyết tật trí tuệ…”, hiệu quả của việc sử dụng được 6 “đánh giá ở mức hiệu quả và rất hiệu quả, là cơ sở cho việc tăng cường các biện pháp phổ biến phương pháp này trong giáo dục trẻ có khó khăn”… Như vậy, việc sử dụng câu chuyện xã hội hỗ trợ phát triển các lĩnh vực kỹ năng, trong đó có phát triển ngôn nói chung và ngôn ngữ diễn đạt nói riêng thông qua câu chuyện xã hội đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên còn chưa đề cập sâu và rõ ràng hơn đối với việc phát triển ngôn ngữ diễn đạt cho trẻ Khuyết tật trí tuệ thông qua câu chuyện xã hội.2 Cơ sở lý luận về trẻ Khuyết tật trí tuệ 1.1 Khái niệm Khuyết tật trí tuệ Đến nay, trong hầu hết các tài liệu liên quan ở nước ta đều chuyển dịch thuật ngữ “Mental Retardation” hoặc “Intellectual Disability” là “chậm phát triển trí tuệ”. Tuy nhiên để phù hợp với quốc tế và sự phát triển của một số tổ chức lâu đời là AAIDD (trước là AAMD, AAMR) thì sẽ sử dụng thuật ngữ “Khuyết tật trí tuệ”. Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm Khuyết tật trí tuệ nhưng trong đề tài này tôi sử dụng khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay Việt Nam, theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối loạn tâm thần theo (DSM - 5) làm khái niệm công cụ: “Khuyết tật trí tuệ là một dạng rối loạn phát triển khởi phát trong quá trình phát triển và tồn tại suốt đời bao gồm cả hạn chế chức năng trí tuệ và thích ứng trong lĩnh vực nhận thức, xã hội và sống độc lập”. Khuyết tật trí tuệ bao gồm có 3 tiêu chí sau: (1) Hạn chế trong các chức năng trí tuệ, chẳng hạn như: lí luận, giải quyết vấn đề, lập kế hoạch, tư duy trừu tượng, phán đoán, học tập.
Các chức năng trí tuệ này được xác định từ việc đánh giá lâm sàng và kiểm tra chỉ số thông minh (IQ) trên từng cá nhân. (2) Hạn chế về các hành vi thích ứng dẫn đến thất bại trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển về văn hóa xã hội, độc lập cá nhân và trách nhiệm xã hội. Nếu không có hỗ trợ, gặp khó khăn trong một hoặc nhiều hơn các hoạt động của 7 cuộc sống hàng ngày, chẳng hạn như thông tin liên lạc, tham gia các hoạt động xã hội, sống tự lập ở nhiều môi trường khác nhau như tại gia đình, trường học và cộng đồng. (3) Những thiếu hụt về trí tuệ và khả năng thích ứng khởi phát trong thời kỳ phát triển.
[11] Như vậy, Theo phân loại của DSM-5, xác định Khuyết tật trí tuệ có 3 tiêu chí cơ bản sau:[11] - Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình. - Hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng. - Các triệu chứng khởi phát trong giai đoạn phát triển 1.2 Phân loại DSM-V sử dụng chỉ số trí tuệ làm tiêu chỉ để phân loại KTTT. Có bốn mức độ KTTT là: - KTTT nhẹ: chỉ số trí tuệ tử 50-55 tới xấp xỉ 70.
- KTTT trung bình: chỉ số trí tuệ từ 35-40 tới 50-55. - KTTT nặng: chỉ số trí tuệ từ 20-25 tới 35-40. - KTTT rất nặng: chỉ số trí tuệ dưới 20 hoặc 25.1 Những nguyên nhân trước sinh a, Những yếu tố nội sinh - Lỗi nhiễm sắc thể: Gây hội chứng hội chứng Down, Turmer, Cri-du-chat. Đây là nguyên nhân phổ biến gây chậm phát triển trí tuệ.
Những trẻ mắc phải hội chứng này, chúng ta có thể quan sát được những rối loạn bên ngoài bằng mắt thường.