Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương II. Hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin ở Việt Nam 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương III. Một số giải pháp phát triển hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành công nghệ thông tin Kết luận Tài liệu tham khảo 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG NC&TK TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.
Cơ sở lý luận về hoạt động NC&TK trong SME 1. Một số khái niệm Liên quan đến khái niệm về KH&CN, nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm (NC&TK), nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm, giải thích và nhận định khác nhau. Nghiên cứu khoa học có thể được xác định như là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm áp dụng chúng vào thực tiễn (Y. Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người (Vũ Cao Đàm, 2005).
Hoạt động nghiên cứu khoa học là những hoạt động nghiên cứu có tính hệ thống và sáng tạo… nhằm áp dụng vào đời sống thực tế (UNESCO). Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn (Luật KH&CN, 2000). Triển khai thực nghiệm có thể được xác định như bất kỳ một công việc có hệ thống nào vận dụng các kiến thức hiện tại đạt được nhờ nghiên cứu và/ hoặc kinh nghiệm thực tiễn nhằm sản xuất ra vật liệu mới, sản phẩm và 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiết bị mới, nhằm đưa ra những phương pháp tiến hành mới, những hệ thống và dịch vụ mới, nhằm cơ bản hoàn thiện những gì đã sản xuất hoặc đã đưa ra sử dụng (Y. Triển khai thực nghiệm (còn gọi là triển khai) là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật (Vũ Cao Đàm, 2005).
Theo đó, hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu, tạo công nghệ (làm pilot), sản xuất thử loạt nhỏ (loạt 0). Như vậy, mặc dù khái niệm nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm được nhiều tác giả hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, song rõ ràng nhân tố quyết định của hoạt động NC&TK là sự có mặt của yếu tố sáng tạo và đổi mới và mục đích cuối cùng của hoạt động này là để áp dụng vào thực tiễn. Tác giả cho rằng đây chính là bản chất của hoạt động NC&TK. Vì lẽ đó, trong phần dưới đây tác giả sẽ sử dụng lý thuyết về hệ thống đổi mới quốc gia để phân tích hoạt động NC&TK trong khu vực doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa (tiếng Anh: Small and Medium Enterprise – SME) là một thực thể kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong các nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Quan niệm về SME không thống nhất ở các nước khác nhau. Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người (Điều 3 Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa). 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Công nghệ thông tin: là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số (Luật CNTT, 2006).
- Doanh nghiệp CNTT, gồm có doanh nghiệp kinh doanh phần mềm, phần cứng và doanh nghiệp dịch vụ. Doanh nghiệp CNTT được tiến hành nghiên cứu sâu trong luận văn này là doanh nghiệp phần mềm ở Việt Nam. Đổi mới, hệ thống đổi mới quốc gia 1. Đổi mới (innovation) Đổi mới là khái niệm rộng, được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau.
Nelson, đổi mới là một quá trình “chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện để đưa ra thị trường, thành một quy trình được đưa vào hoạt động hoặc được hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra một cách tiếp cận mới trong các dịch vụ xã hội”. Schumpeter cho rằng đổi mới bao gồm: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới thị trường, đổi mới nguồn lực, đổi mới tổ chức. Đổi mới không chỉ có ý nghĩa trong kinh tế mà còn có ý nghĩa đối với xã hội. Tác giả cuốn sách “Diffusion of innovation” – Everett Roger nhận ra sự khác biệt giữa nhà sáng chế (inventor) và nhà đổi mới (innovator).
Theo ông, nhà sáng chế là người có ý tưởng mới, còn nhà đổi mới là người biết vận dụng những ý tưởng đó để thực thi nó trong thực tế. Theo cuốn Manual Oslo của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD thì khái niệm đổi mới bao gồm việc thực thi sản phẩm công nghệ mới và quy trình công nghệ mới hoặc hoàn thiện công nghệ trong sản phẩm và quy trình (OECD, 1997). 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo cách tiếp cận truyền thống, hoạt động đổi mới được quan niệm như một quá trình tuyến tính, không có sự tác động qua lại giữa các yếu tố. Quá trình đó bắt đầu bằng hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm.
Từ đó hình thành nên các sáng chế và ra đời các sản phẩm mới, quy trình mới. Như vậy ở đây có sự tiếp nối của các sự kiện mà không có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự kiện đó. Từ những năm 1980, quan niệm về đổi mới được thay đổi theo cách tiếp cận mối quan hệ tương hỗ/ cách tiếp cận hệ thống. Theo đó, quá trình đổi mới không phải là một chuỗi các công đoạn biệt lập với nhau, mà là một sự tác động qua lại thường xuyên giữa các yếu tố do KH&CN hoặc thị trường mang lại.
Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa giai đoạn sau (gắn với thị trường) và giai đoạn trước (gắn với NC&TK, công nghệ) của quá trình đổi mới, mối quan hệ tác động tương hỗ giữa KH&CN, hoạt động sản xuất và thương mại của quá trình đổi mới. Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về đổi mới, chính sách đổi mới. Nghiên cứu của Ths. Hoàng Văn Tuyên (2005) cho rằng đổi mới ở đây hàm chứa đổi mới về sản phẩm và đổi mới quy trình công nghệ, trong đó đổi mới sản phẩm và quy trình công nghệ bao gồm một loạt các hoạt động về khoa học, công nghệ, tổ chức, tài chính và thương mại.
Nghiên cứu của Ths. Nguyễn Mạnh Quân (2006) cho rằng, mục đích cuối cùng của đổi mới là tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới hoặc phương pháp mới, cách thức mới để làm ra các sản phẩm và dịch vụ mới được thị trường chấp nhận. Đặc điểm của đổi mới là tính thị trường, tính tổng thể, tính hệ thống, tính đa dạng, tính không tuần tự, tính phức tạp và doanh nghiệp là trung tâm của các hoạt động đổi mới. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đổi mới song có thể hiểu đổi mới là một quá trình cần và đủ để có thể đưa ra thị trường một sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới.
Doanh nghiệp là chủ thể chính, giữ vai trò trung tâm của quá trình đổi mới. Hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp có mục đích tạo ra công nghệ mới, hoặc để tiếp thu, làm chủ, vận hành một công nghệ nào đó để tạo ra những sản phẩm mới, quy trình mới, dịch vụ mới. Rõ ràng hoạt động NC&TK gắn bó chặt chẽ với sự sáng tạo, đổi mới. Xét cho cùng hoạt động NC&TK cũng là một trong các hoạt động đổi mới.
Tuy nhiên hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp nói riêng, hoạt động đổi mới nói chung không tồn tại độc lập mà được duy trì và phát triển trong một hệ thống với nhiều mối liên hệ tương tác lẫn nhau. Đó là hệ thống đổi mới quốc gia. Hệ thống đổi mới quốc gia và cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia Khái niệm hệ thống đổi mới quốc gia (National innovation system, NIS) được nhắc tới từ những năm 1980. Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này và đã coi cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia là một trong những cách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Lê Đình Tiến, 2000).
Trên thế giới, xung quanh khái niệm “hệ thống đổi mới quốc gia” đã có rất nhiều tác giả đưa ra những định nghĩa khác nhau. Mỗi cách định nghĩa đều được lý giải phù hợp với những điều kiện của một nền kinh tế cụ thể. “Hệ thống đổi mới quốc gia là một mạng lưới các thiết chế (institution) trong khu vực công và tư cùng phối hợp hoạt động trong quá trình sáng tạo, nhập khẩu, cải tiến và phổ biến công nghệ mới.” (Freeman, 1987) 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Hệ thống đổi mới quốc gia gồm các yếu tố và các mối quan hệ tương tác trong các hoạt động sáng tạo, phổ biến và sử dụng tri thức mới có lợi ích về kinh tế… diễn ra trong hoặc bắt nguồn từ bên trong biên giới của một quốc gia.” (Lundvall, 1992) “Hệ thống đổi mới quốc gia gồm các thiết chế có liên quan lẫn nhau quyết định mức độ đổi mới của các công ty quốc gia.” (Nelson, 1993) “Hệ thống đổi mới quốc gia gồm các thiết chế quốc gia, hệ thống khuyến khích và năng lực quyết định tốc độ và chiều hướng học hỏi công nghệ (hoặc là tốc độ và cấu thành của các hoạt động tạo ra đổi mới) trong một quốc gia.” (Patil và Pavitt, 1994) “Hệ thống đổi mới quốc gia gồm tập hợp các thể chế độc lập và phối hợp với nhau tham gia vào quá trình triển khai, phổ biến các công nghệ mới, đưa ra các khuôn khổ để hình thành và thực thi các chính sách của Chính phủ có liên quan đến quá trình đổi mới.