CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Hoạt động ngân hàng đầu tư là một trong các hoạt động cốt lõi của trung gian tài chính trên thị trường vốn, mang lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế cũng như từng thành phần tham gia trên thị trường, tuy nhiên các hoạt động này ẩn chứa nhiều mâu thuẫn và xung đột lợi ích. Do đó, đây là một trong các đề tài được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và phân tích. Cùng với sự phát triển của thị trường vốn, nhiều khía cạnh của hoạt động ngân hàng đầu tư đã được tìm hiểu và đánh giá.
Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, các hoạt động ngân hàng đầu tư đã thu hút được sự quan tâm của nhiều đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước. Có thể tóm tắt các nghiên cứu này theo một số khía cạnh như sau: 1. Các nghiên cứu về mô hình thực hiện hoạt đông ngân hàng đầu tư 1. Quan điểm ủng hộ mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt Quan điểm cho rằng cần phải có sự tách bạch giữa ngân hàng thương mại (NHTM) và ngân hàng đầu tư (NHĐT) bắt đầu từ sau khủng hoảng kinh tế 1929- 1933, khi quốc hội Mỹthông qua Đạo luật Glass-Steagall nhằm tách NHTMđộc lập với các hoạt động chứng khoán, từ đó chấm dứt sự kết hợp giữaNHTMvà các mảng hoạt động ngân hàng đầu tư.
Các nghiên cứu của Tabarrok (1998) [101, tr.Thomas (2005) [74], Lott Tom, &Loosevelt Derek (2005) [76], Bierman Harold (2003) [24] ủng hộ Đạo luật Glass-Steagall, cho rằng NHTM và công ty chứng khoán là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế do xung đột lợi ích phát sinh khi một tổ chức đồng thời kinh doanh ngân hàng truyền thống (bao gồm nhận tiền gửi và cho vay) và kinh doanh chứng khoán. Quan điểm này dựa trên 6 lý do sau: 2 (1). Rủi ro và sự an toàn của NHTM: Các NHTM tham gia bảo lãnh phát hành và nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp có thể dẫn đến rủi ro cho người gửi tiền khiến Chính phủ phải cứu thị trường khi xảy ra khủng hoảng. Phá sản các NHTM có thể làm mất niềm tin của dân chúng vào hệ thống, dẫn tới khủng hoảng chính trị - xã hội.
Xung đột lợi ích: NHTM cung cấp các dịch vụ NHĐT có thể dẫn tới xung đột lợi ích giữa kinh doanh ngân hàng truyền thống và NHĐT, ảnh hưởng tới khách hàng gửi tiền, vay tiền và các ngân hàng đại lý. Mâu thuẫn do cạnh tranh: Một số công ty chứng khoán muốn ngăn cản các NHTM tham gia vào thị phần của họ. Sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước: Hoạt động chứng khoán rất rủi ro trong khi sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước chỉ có giới hạn. Cạnh tranh không công bằng: NHTM được trợ cấp một phần bảo hiểm tiền gửi, do đó được phép huy động vốn nhàn rỗi rẻ hơn thông qua các khoản tiết kiệm.
Do đó, nếu cho phép thực hiện các nghiệp vụ NHĐT, họ có thể cạnh tranh tốt hơn các đối thủ độc lập. Tập trung quyền lực: các NHTM khi được thực hiện cả hoạt động NHĐT và NHTM sẽ hình thànhđơn vị quyền lựclớn,có khả năng thôn tính các NHĐT khác, gây ra độc quyền cạnh tranh,làmgiảm hiệu quảhoạt động, và ảnh hưởng quyền lợi khách hàng. Tại Châu Âu,nghiên cứu của Adalet (2009) [14] nhận thấy mối liên hệ giữa cấu trúc hệ thống ngân hàng và sự ổn định tài chính của Đứctừ đóđi đến kết luận: “sự hiện diện của các ngân hàng tổng hợp– một trong những điển hình của hệ thống ngân hàng Đức – đã làm tăng khả năng phá sản của hệ thống ngân hàng”. Quan điểm ủng hộ mô hình ngân hàng tổng hợp Ngược lại với các quan điểm trên, một số nghiên cứu cho thấy cơ sở áp dụng đạo luật Glass-Steagall làkhông hợp lý.
3 Nghiên cứu của Kroszner và Rajan (1993) [69] nhận thấy lý do áp dụng đạo luật Glass-Steagall chủ yếu làxung đột lợi ích khiến các NHTM định hướng sai một cách có hệ thống khiến dân chúng đầu tư vào chứng khoán chất lượng thấp. Tuy nhiên khi so sánh kết quả kinh doanh của dịch vụ chứng khoán hóa do NHTM và các NHĐT độc lập thực hiện trước khi áp dụng Đạo luật Glass-Steagall, kết quả không cho thấy bằng chứng rõ ràng về việc định hướng sai công chúng một cách hệ thống nêu trên. Hơn nữathực tế các NHTM đã chào bán, bào lãnh phát hành chứng khoán có chất lượng cao hơn so với các NHĐT độc lập. Nghiên cứu của Tabarrok (1998) [101, tr.1-18] cho rằng mặc dù đạo luật Glass-Steagallnhằm gia tăng mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng và giảm xung đột lợi ích, tuy nhiên xung đột lợi ích trên không đáng kể.
Nguyên nhân thực sự thông qua đạo luật trên xuất phát từ lợi ích chính trị của một số cá nhân. Nghiên cứu của Macey (1991) [78, tr.19-30] cho rằng việc ngăn cấm thực hiện hoạt độngNHĐTsẽ gia tăng rủi ro tại các NHTM. Macey cho rằng chứng khoán nói chung (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) có ít rủi ro hơn tín dụng vàđầu tư vào chứng khoán là khoản đầu tư có tính thanh khoản và đại chúng cao. Tính thanh khoản này giúp cho các ngân hàng dễ cân bằng trạng thái, đồng thời tính đại chúng của hoạt động chứng khoán làm tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM.
Tương tự, nghiên cứu của Benston (1990) [23]chứng minhsự không tồn tại xung đột lợi ích trong NHTM khi đồng thời thực hiện nghiệp vụ tín dụng truyền thống và nghiệp vụ NHĐT, đồng thời các NHTM khi tách riêng sẽ có độ rủi ro cao hơn khi thực hiện cả hai nghiệp vụ trên. Trong khi đó,nghiên cứu của White (1986) [104, tr.22-55] tiến hành kiểm tra tỷ lệ phá sản của các ngân hàng trong giai đoạn 1929-1933, so sánh tỷ lệ này giữa các ngân hàng có công ty con (thực hiện cả nghiệp vụ NHĐT) với các ngân hàng không có công ty con (chỉ thực hiện nghiệp vụ NHTM). Kết quả cho thấy xác suất phá sản của các ngân hàng chỉ thực hiện nghiệp vụ NHTM cao gấp 4 lần các ngân hàng nếu thực hiện 2 loại nghiệp vụ trên. 4 Nghiên cứu của Shughart (1988) [96, tr.595-613] cho rằng động cơ thực sự đằng sau Đạo luật này là lợi ích cá nhân của giới chủ ngân hàng.
Trên khía cạnh pháp lý, sự tách bạch NHĐT và NHTM là cần thiết nhằm bảo vệ công chúng và xã hội khỏi sự đầu cơ của các công ty chứng khoán – là công ty liên kết – của các NHTM. Tuy nhiên, cách lý giải này không hợp lý khi lập ra Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang theo điều khoản riêng của Đạo luật Ngân hàng 1933. Bảo hiểm sẽ khiến lệnh cấm bảo lãnh phát hành hay sở hữu vốn cổ phần trở nên không cần thiết. Do đó, Đạo luật Glass-Steagall không những không tạo ra lợi ích cho người gửi tiền mà còn làm phát sinh chi phí.
Cho phép góp vốn cổ phần sẽ giúp các NHTM có nhiều lựa chọn đầu tư, đa dạng hóatài sản để phòng ngừa rủi ro. Ngược lại, hạn chế vốn cổ phần sẽ khiến các NHTM không có được danh mục tài sản tối ưu, từ đó làm tăng nguy cơ thất bại của ngân hàng. Phân tích về rủi ro tiềm ẩn, nghiên cứu của Giddy (1985) [54, tr.145] cho rằng các tác nhân trên thị trường quyền chọn có thể làm giảm thiểu đáng kể tổn thất phát sinh từ bảo lãnh phát hành chứng khoán vốn. Do đó, quan điểm cho rằng chứng khoán ẩn chứa nhiều rủi ro hơn các tài sản khác mà NHTM có thể nắm giữ là không hợp lý.
Vì vậy không đủ cơ sở để khẳng định các NHTM thực hiện hoạt động chứng khoán – hay khi các NHĐT nhận tiền gửi – sẽ gia tăng đáng kể rủi ro của các đơn vị này. Hơn nữa, Shughart (1988)[96, tr.595-613] cho thấy nếu dỡ bỏ rào cản giữa NHTM và NHĐT sẽ làm tăng thêm lợi ích đối với người gửi tiền. Tìm hiều về cấu trúc của ngân hàng tổng hợp, nghiên cứu của Wonsik Sul & Joon Seok Oh (1999) [105] đặt ra câu hỏi: “Liệu ngân hàng tổng hợp theo mô hình Đức có ưu việt hơn các mô hình ngân hàng tổng hợp khác?”. Nghiên cứu này kiểm chứng giả thuyết trên bằng phương pháp thực nghiệm sử dụng dữ liệu từ các ngân hàng với phương pháp tiếp cận là sử dụng dữ liệu mảng từ các ngân hàng lớn tại 8 nước, kiểm soát các nhân tố thuộc ngân hàng và thuộc thị trường, sau đó phân tích tình hình kinh doanh của các ngân hàng tổng theo mô hình Đức và so sánh với các dạng ngân hàng tổng hợp khác.
Nghiên cứu cho thấy đối với các ngân hàng có quy mô lớn, việc hoạt động theo mô hình nào đều không có sự khác biệt. Tuy nhiên, đối 5 với các ngân hàng có quy mô nhỏ và vừa, khi có sự chuyên biệt hóa, các ngân hàng tổng hợp theo mô hình của Nhật, Anh, Mỹ sẽ ưu việt hơn các ngân hàng hoạt động theo mô hình của Đức. Như vậy, kết quả kinh doanh của các ngân hàng quy mô lớn không phụ thuộc vào dạng mô hình của hệ thống tài chính. Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu và phân tích về việc lựa chọn mô hình thực hiện nghiệp vụ NHĐT.
Một số nghiên cứu cho rằng cần tách bạch hoạt động chứng khoánvới hoạt động NHTM vàcần thành lập các đơn vị chuyên biệt để thực hiện các nghiệp vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành, M&A, tự doanh, đầu tư… Nguồn gốc của quan điểm này được bắt đầu từ Đạo luật Glass-Steagall ra đời năm 1933 tại Mỹ nhằm hạn chế quyền lực của các NHTM. Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu cho rằng động cơ thực sự đằng sau Đạo luật Glass-Steagall không nhằm giải quyết xung đột lợi ích mà để phục vụmục đích chính trị. Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cho thấy hiệu quả và khả năng kiểm soát rủi ro củaNHĐT chuyên biệt thấp hơn so với các ngân hàng tổng hợp. Sau khi đạo luật Gramm-Leach-Bliley ra đời năm 1999, quan điểm về NHĐT đã có sự thay đổi.
Các nhà nghiên cứu cho rằng nghiệp vụ NHĐT có thể được thực hiện bởi cả NHTM và thậm chí các NHTM còn thực hiện tốt hơn và hiệu quả hơn các NHĐT chuyên biệt. Các ngân hàng tổng hợp có thể thực hiện nghiệp vụ NHĐT theo mô hình kiểu Đức, kiểu Anh, hoặc kiểu Mỹ. Đối với các ngân hàng lớn, mô hình của Anh & Mỹ sẽ hiệu quả hơn còn đối với các ngân hàng nhỏ thỉ các mô hình trên là tương tự nhau.Các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng đầu tư truyền thống 1.Nghiên cứu vềhoạt động bảo lãnh phát hành Kutsunavà cộng sự (2007) [70, tr.