Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế "Phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Tạ Hoàng Hà thực hiện, tập trung nghiên cứu toàn diện về mô hình tổ chức, nội dung hoạt động và hiệu quả vận hành của hoạt động ngân hàng đầu tư (NHĐT) tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh thực hiện nghiên cứu diễn ra khi Việt Nam đã trải qua gần 30 năm Đổi Mới, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ tháng 01/2007 và đang trong tiến trình đàm phán các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cùng với sự chuyển dịch chung, thị trường tài chính Việt Nam chứng kiến sự phát triển của thị trường chứng khoán sau 14 năm đi vào vận hành, đạt quy mô giá trị vốn hóa xấp xỉ 31% GDP. Nhu cầu dịch vụ chứng khoán hóa và huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp tăng cao nhằm giảm áp lực phụ thuộc vào kênh tín dụng ngắn hạn truyền thống của ngân hàng thương mại (NHTM).
Tuy nhiên, thực tế phát triển hoạt động NHĐT tại Việt Nam bộc lộ nhiều điểm nghẽn:
- Các NHTM sở hữu ưu thế lớn về quy mô vốn, thông tin khách hàng và mạng lưới quan hệ từ hoạt động tín dụng, nhưng chưa chuyển hóa được nguồn lực này sang mảng tư vấn tài chính và bảo lãnh phát hành; danh mục đầu tư chứng khoán của NHTM chủ yếu tập trung vào trái phiếu Chính phủ thay vì trái phiếu doanh nghiệp.
- Các công ty chứng khoán (CTCK) và công ty quản lý quỹ (Cty QLQ) độc lập đối mặt với tình trạng quy mô vốn nhỏ lẻ, hạn chế năng lực tự doanh và tạo lập thị trường.
- Thị phần tư vấn mua bán và sáp nhập (M&A) có giá trị lớn chủ yếu thuộc về các ngân hàng nước ngoài, trong khi các định chế trung gian tài chính trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ chuyên sâu.
- Tồn tại khoảng trống nghiên cứu về việc lựa chọn mô hình tổ chức: Việt Nam nên phát triển hoạt động NHĐT theo mô hình chuyên biệt độc lập hay mô hình ngân hàng tổng hợp/đa năng, đồng thời thiếu các bằng chứng thực nghiệm lượng hóa hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các định chế tham gia thị trường.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về hoạt động NHĐT, phân tích thực trạng mô hình và nội dung nghiệp vụ tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện thực thi nhằm phát triển hoạt động NHĐT tại Việt Nam.
Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động NHĐT theo hai mô hình: ngân hàng tổng hợp và ngân hàng đầu tư chuyên biệt, bao gồm các điều kiện và đặc điểm phát triển tương ứng.
- Đánh giá thực trạng hoạt động NHĐT tại các NHTM (thông qua công ty con), các CTCK và Cty QLQ độc lập; phân tích các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cản trở hoạt động NHĐT phát triển.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và điều kiện phát triển hoạt động NHĐT áp dụng cho NHTM và các định chế tài chính phi ngân hàng tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 9 câu hỏi nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:
- Hoạt động ngân hàng đầu tư cần được thực hiện bởi (a) các ngân hàng thương mại, ngân hàng tổng hợp, (b) đồng thời nhiều tổ chức tài chính, hay (c) ngân hàng đầu tư chuyên biệt thành lập mới?
- Các tiêu chí, thước đo nhằm đánh giá sự phát triển của hoạt động ngân hàng đầu tư đối với: (a) nền kinh tế vĩ mô, và (b) một ngân hàng nói chung (ngân hàng thương mại và/hoặc ngân hàng đầu tư chuyên biệt)?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến những tiêu chí kể trên, và mức độ ảnh hưởng?
- Mối quan hệ giữa các yếu tố và các tiêu chí kể trên?
- Thực trạng các tiêu chí, thước đo kể trên và mối quan hệ của chúng tại Việt Nam đối với: (a) Nền kinh tế vĩ mô, bao gồm các tổ chức tài chính như CTCK, công ty tài chính, quỹ đầu tư, Cty QLQ; (b) Hệ thống ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ tại Việt Nam?
- Những hạn chế và nguyên nhân dẫn tới hoạt động ngân hàng đầu tư chưa phát triển?
- Khoảng cách giữa thực trạng hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam với các nước trong khu vực, các nước có nền kinh tế tương đồng và các nước có thị trường tài chính phát triển trên thế giới là gì?
- Những giải pháp khả thi để phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam? Những điều kiện cần để thực hiện được các giải pháp này?
- Đưa ra mô hình áp dụng cho Việt Nam về: (a) Hoạt động ngân hàng đầu tư trong nền kinh tế vĩ mô, và (b) Hoạt động ngân hàng đầu tư đối với một tổ chức?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình tổ chức, nội dung hoạt động NHĐT; các tác động định tính và định lượng đối với hoạt động NHĐT tại các NHTM trên cơ sở hợp nhất (thông qua công ty con) và tại các CTCK, Cty QLQ độc lập.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào mô hình tổ chức hoạt động NHĐT trong các NHTM và các tổ chức tài chính phi ngân hàng (CTCK, Cty QLQ, quỹ đầu tư); nội dung các nghiệp vụ NHĐT truyền thống, đầu tư kinh doanh chứng khoán và quản lý tài sản.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu thực trạng và mô hình hóa giai đoạn 2005 - 2013 (riêng phân tích hiệu quả kỹ thuật DEA thực hiện cho giai đoạn 2008 - 2013).
- Phạm vi không gian: Thị trường tài chính Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và một số quốc gia Châu Âu (Đức, Anh).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng tiếp cận lý thuyết và thực nghiệm chính:
Các nghiên cứu về mô hình thực hiện hoạt động ngân hàng đầu tư
- Quan điểm ủng hộ mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt: Bắt nguồn từ bối cảnh kinh tế Mỹ sau cuộc khủng hoảng 1929 - 1933 dẫn tới sự ra đời của Đạo luật Glass-Steagall (1933). Các nghiên cứu của Tabarrok (1998), Thomas (2005), Lott và Loosevelt (2005), Bierman Harold (2003) lập luận rằng việc kết hợp giữa kinh doanh ngân hàng truyền thống (nhận tiền gửi, cho vay) và kinh doanh chứng khoán tạo ra xung đột lợi ích sâu sắc và đe dọa an toàn hệ thống qua 6 khía cạnh: (1) Rủi ro an toàn NHTM khi bảo lãnh phát hành cổ phiếu làm tăng rủi ro cho người gửi tiền; (2) Xung đột lợi ích giữa bên nhận tiền gửi và bên tư vấn đầu tư; (3) Mâu thuẫn cạnh tranh giữa CTCK và ngân hàng; (4) Giới hạn trong khả năng can thiệp, cứu trợ của Ngân hàng Trung ương; (5) Cạnh tranh không bình đẳng do NHTM được hưởng bảo hiểm tiền gửi nên có nguồn vốn huy động chi phí thấp; (6) Sự tập trung quyền lực dẫn đến độc quyền thị trường. Tại Châu Âu, Adalet (2009) phân tích hệ thống ngân hàng Đức và chỉ ra sự hiện diện của các ngân hàng tổng hợp làm gia tăng xác suất phá sản của hệ thống tài chính.
- Quan điểm ủng hộ mô hình ngân hàng tổng hợp: Kroszner và Rajan (1993) kiểm chứng thực nghiệm trước năm 1933 và nhận thấy không có bằng chứng rõ ràng về việc NHTM định hướng sai chất lượng chứng khoán cho công chúng; ngược lại chứng khoán do NHTM bảo lãnh có chất lượng cao hơn NHĐT độc lập. Macey (1991) chỉ ra chứng khoán có tính thanh khoản cao, giúp NHTM cân bằng trạng thái tài sản tốt hơn tín dụng. Benston (1990) chứng minh việc kết hợp không tạo ra xung đột lợi ích và sự phân tách làm gia tăng rủi ro hoạt động. White (1986) phân tích giai đoạn 1929 - 1933, chỉ ra xác suất phá sản của các ngân hàng đơn năng thuần túy cao gấp 4 lần ngân hàng tổng hợp có công ty con chứng khoán. Shughart (1988) cho rằng lệnh cấm bảo lãnh phát hành làm mất cơ hội tối ưu hóa danh mục tài sản của NHTM. Giddy (1985) chứng minh các công cụ quyền chọn giúp phân tán rủi ro bảo lãnh. Wonsik Sul và Joon Seok Oh (1999) sử dụng dữ liệu mảng tại 8 quốc gia, chỉ ra đối với ngân hàng quy mô lớn, mô hình Đức hay Anh/Mỹ/Nhật không có sự khác biệt về kết quả kinh doanh; tuy nhiên với quy mô vừa và nhỏ, mô hình Anh, Mỹ, Nhật ưu việt hơn mô hình Đức. Xu hướng này được thể chế hóa thông qua Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLBA) năm 1999 tại Mỹ.
Các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng đầu tư truyền thống
- Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành: Kutsuna và cộng sự (2007) chỉ ra mối quan hệ ngân hàng giúp doanh nghiệp quy mô nhỏ tiếp cận vốn IPO thuận lợi, nhưng với các đợt IPO lớn, doanh nghiệp có xu hướng đổi sang NHĐT độc lập mới để giảm chi phí phát hành. Booth và Smith (1986) thống kê 94% đợt phát hành bổ sung (SEO) và 45,7% đợt phát hành mới (IPO) sử dụng hợp đồng cam kết chắc chắn thay vì hợp đồng nỗ lực tốt nhất. Ritter Jay R. (1987) xây dựng mô hình lựa chọn hợp đồng dựa trên hiện tượng thông tin bất cân xứng và lựa chọn đối nghịch: doanh nghiệp tin tưởng vào giá trị sẽ chọn hợp đồng cam kết, còn doanh nghiệp có mức độ không chắc chắn cao sẽ chọn hợp đồng nỗ lực tối đa. Gande, Puri, Saunders và Walter (1999), Schenone (2004), Yasuda (2005), Dahiya, Saunders và Srinivasan (2007) xác nhận quan hệ tín dụng sẵn có giúp ngân hàng giảm chi phí thu thập thông tin, từ đó giảm phí bảo lãnh cho khách hàng. Corwin và Schultz (2005), Song (2004) giải thích việc hình thành các liên minh bảo lãnh phát hành giúp giảm thiểu rủi ro thông tin bất cân xứng và tăng hiệu quả tạo lập thị trường sau phát hành.
- Nghiệp vụ tư vấn mua bán và sáp nhập (M&A): Kesner và cộng sự (1994) phát hiện mức phí tư vấn tỷ lệ thuận với lợi nhuận M&A của cả bên mua và bán, dẫn đến xung đột lợi ích khi ngân hàng bên mua không có động lực hạ thấp giá mua. Servaes và Zenner (1996) chỉ ra lợi nhuận ngoài dự kiến của bên mua khi sử dụng tư vấn ngân hàng thấp hơn so với khi tự thực hiện giao dịch, do doanh nghiệp chỉ thuê tư vấn trong các thương vụ phức tạp, thông tin bất cân xứng cao. Lubatkin (1983) nhận thấy mối quan hệ ngược chiều giữa mức giá trả thêm (premium) và hiệu quả dài hạn sau M&A. Porrini (2005) chứng minh sự hiện diện của các NHĐT danh tiếng làm tăng mức giá mua doanh nghiệp mà bên mua phải trả, trừ khi có sự tham gia của các chuyên gia tư vấn pháp lý độc lập. Rau (2000) chứng minh thị phần tư vấn M&A của ngân hàng phụ thuộc vào tỷ lệ giao dịch thành công trong quá khứ và cấu trúc phí cam kết hoàn thành giao dịch.
Các nghiên cứu về cấu trúc hoạt động ngân hàng đầu tư
Boot (2000) khẳng định quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng giúp ngân hàng tích lũy thông tin độc quyền, hỗ trợ bán chéo sản phẩm. Bolton và Scharfstein (1996), Dewatripont và Maskin (1995) chỉ ra NHTM bị hạn chế bởi kỷ luật ngân sách mềm, trong khi NHĐT khắc phục được do chuyển giao chứng khoán ra thị trường thay vì nắm giữ trên bảng cân đối kế toán. Anand và Galetovic (2001) xây dựng khung phân tích cấu trúc ngành NHĐT dựa trên ba đặc tính kinh tế: (1) Chi phí chìm lớn để thiết lập quan hệ khách hàng; (2) Sự liên kết yếu giữa chi phí phát sinh và phí dịch vụ thu được (Eccles và Crane, 1988); (3) Tính không thể loại trừ của thông tin (nhân sự mang theo dữ liệu khách hàng khi chuyển việc). Anand và Galetovic kết luận cấu trúc thị trường NHĐT tối ưu tại điểm cân bằng là cấu trúc độc quyền nhóm giữa các tổ chức lớn có quy mô tương đương. Boyd và Prescott (1986), Greenwood và Jovanovic (1990), Levine (2005), Diamond và Dybvig (1983), Bencivenga và Smith (1991) khẳng định chức năng của NHĐT trong việc giảm chi phí thu thập thông tin, quản trị rủi ro thanh khoản và kích thích tỷ lệ tích lũy vốn dài hạn của nền kinh tế.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án giải quyết khoảng trống học thuật về việc kiểm định mô hình NHĐT phù hợp cho một thị trường cận biên/mới nổi như Việt Nam. Bằng việc kết hợp dữ liệu BCTC hợp nhất của hệ thống NHTM và dữ liệu vi mô của các CTCK, luận án đánh giá định lượng tác động của hoạt động đầu tư chứng khoán tới lợi nhuận ngoài lãi của NHTM, đồng thời đo lường hiệu quả kỹ thuật phi tham số giữa CTCK trực thuộc NHTM và CTCK độc lập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm và phân loại hoạt động NHĐT: Luận án tiếp thu các khái niệm của Morrison và Wilhelm Jr. (chức năng thu thập và bán lẻ thông tin định giá), Michel Fleuriet (trung gian tài chính kết nối cung cầu chứng khoán), và Mạc Quang Huy (2009). Hoạt động NHĐT được phân định thành 3 mảng nghiệp vụ cốt lõi:
- Hoạt động NHĐT truyền thống: Bảo lãnh phát hành chứng khoán vốn/nợ và tư vấn M&A, tái cấu trúc doanh nghiệp.
- Hoạt động kinh doanh và đầu tư chứng khoán: Tự doanh, tạo lập thị trường, đầu tư mạo hiểm và đầu tư vốn tư nhân (Private Equity/LBO).
- Quản lý tài sản và dịch vụ chứng khoán hóa: Môi giới chứng khoán, dịch vụ nhà môi giới chính (Prime Brokerage), quản lý danh mục đầu tư cá nhân/doanh nghiệp, kỹ thuật tài chính, nghiên cứu phân tích và phát hành chứng khoán bảo đảm bằng tài sản (ABS, MBS).
- Mô hình tổ chức hoạt động NHĐT:
- Mô hình NHĐT chuyên biệt (Hartmann, 2010; Subramanyam, 2008): Tách biệt hoàn toàn khỏi ngân hàng nhận tiền gửi, vận hành trên thị trường vốn với đòn bẩy tài chính cao (thường từ 20 đến 30 lần, so với mức 12 đến 15 lần của NHTM).
- Mô hình ngân hàng tổng hợp (Saunders và Walter, 1994): Bao gồm 4 biến thể:
- Ngân hàng tổng hợp đầy đủ: Thực hiện tất cả nghiệp vụ trong cùng một pháp nhân.
- Mô hình kiểu Đức: Tích hợp hoạt động NHTM và nghiệp vụ chứng khoán nội bộ; các mảng bảo hiểm, cho thuê tài chính do công ty con đảm nhận.
- Mô hình kiểu Anh: NHTM mẹ chỉ giữ hoạt động ngân hàng truyền thống; các mảng chứng khoán và bảo hiểm được bóc tách sang các công ty con riêng biệt.
- Mô hình kiểu Mỹ: Công ty mẹ nắm giữ vốn (Holding Company) sở hữu các công ty con độc lập về mặt pháp lý gồm NHTM, CTCK và công ty bảo hiểm.
- Khái niệm phát triển hoạt động NHĐT: Luận án xác định phát triển hoạt động NHĐT là sự tăng trưởng, mở rộng cả về lượng và chất của các dịch vụ chứng khoán do các trung gian tài chính cung ứng. Các chỉ tiêu định tính phản ánh sự phát triển gồm: mức độ trợ cấp chéo giữa các sản phẩm có biên lợi nhuận thấp (cho vay cố định, nghiên cứu phân tích, giao dịch lô lớn) để tạo điều kiện bán các sản phẩm có biên lợi nhuận cao (tư vấn M&A, bảo lãnh phát hành cổ phiếu); và mức độ uy tín trong dịch vụ tư vấn tài chính.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
Phương pháp định tính
Sử dụng phân tích thể chế, so sánh đối chứng khung pháp lý (Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán) và đúc rút bài học kinh nghiệm quốc tế từ:
- Quá trình chuyển đổi sang hệ thống ngân hàng tổng hợp tại Trung Quốc;
- Thực tiễn phân tách và tích hợp nghiệp vụ tại Nhật Bản;
- Bài học sụp đổ của ngân hàng đầu tư chuyên biệt Lehman Brothers (Mỹ) năm 2008 do lạm dụng đòn bẩy tài chính và rủi ro thanh khoản.
Phương pháp định lượng
- Thống kê mô tả và kiểm định so sánh tương quan:
- Sử dụng hệ số tương quan Pearson nhằm đánh giá tương quan giữa quy mô vốn, tài sản và các nguồn thu nhập.
- Sử dụng kiểm định Independent Samples T-Test và tính toán hệ số Eta-squared ($\eta^2$) để xác định mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa CTCK trực thuộc NHTM và CTCK độc lập về các chỉ tiêu quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí, ROA và ROE.
- Phân tích phương sai (ANOVA) so sánh các nhóm quy mô.
- Kinh tế lượng hồi quy đa biến:
- Sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để ước lượng mô hình hồi quy đa biến OLS, đánh giá tác động của các yếu tố nội tại đến thu nhập ngoài lãi của các NHTM Việt Nam trên cơ sở báo cáo tài chính hợp nhất.
- Các biến giải thích bao gồm: vốn đầu tư, quy mô tín dụng, đầu tư chứng khoán, đầu tư góp vốn dài hạn, và tài sản cố định/cơ sở vật chất.
- Mô hình phi tham số Bao Dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA):
- Dựa trên nền tảng lý thuyết của Debreu (1951), Koopmans (1951) và Farrell (1957) nhằm xác định đường giới hạn hiệu quả (efficient frontier).
- Đo lường hiệu quả kỹ thuật tổng hợp (TE) theo mô hình CCR (Charnes, Cooper và Rhodes, 1978) với giả định hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS).
- Đo lường hiệu quả kỹ thuật thuần túy (VRSTE) theo mô hình BCC (Banker, Charnes và Cooper, 1984) với giả định hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS).
- Phân tích hiệu quả quy mô: $SE = TE_{CRS} / TE_{VRS}$.
- Sử dụng mô hình hiệu quả không tăng theo quy mô (NIRS) để phân loại các đơn vị ra quyết định (DMU) có hiệu suất tăng theo quy mô (IRS) hay giảm theo quy mô (DRS).
- Áp dụng phương pháp hai giai đoạn của Ali và Seiford (1993) để xử lý triệt để các biến trễ/điểm yếu đầu vào (input slack) và đầu ra (output slack).
- Ứng dụng chỉ số Malmquist TFP (Total Factor Productivity) trên dữ liệu bảng giai đoạn 2008 - 2013 để phân rã sự biến động năng suất thành: thay đổi hiệu quả kỹ thuật (Catch-up effect) và thay đổi công nghệ (Frontier shift).
Hệ thống dữ liệu và mẫu nghiên cứu
| Mẫu nghiên cứu |
Quy mô quan sát |
Đặc điểm dữ liệu |
Mục đích phân tích |
| Mẫu 1: NHTM |
30 NHTM (05 NHTM nhà nước chi phối, 25 NHTM cổ phần) |
Dữ liệu BCTC hợp nhất giai đoạn 2005 - 2013; gồm 20 NHTM có công ty con chứng khoán và 10 NHTM không có |
Đánh giá mô hình ngân hàng tổng hợp, phân tích tương quan và hồi quy các yếu tố ảnh hưởng thu nhập ngoài lãi |
| Mẫu 2: CTCK |
70 CTCK (phân nhóm: CTCK thuộc NHTM và CTCK độc lập) |
Dữ liệu tài chính riêng lẻ giai đoạn 2005 - 2013; tách mẫu 57 CTCK có số liệu liên tục cho giai đoạn 2008 - 2013 |
Kiểm định khác biệt (T-Test, $\eta^2$), ước lượng hiệu quả kỹ thuật DEA (CRS, VRS, SE) và chỉ số Malmquist |
| Mẫu 3: Cty QLQ |
11 Công ty Quản lý quỹ |
Dữ liệu tài sản quản lý và vốn hoạt động 2004 - 2010 |
Đánh giá mức độ tích lũy tài sản và khả năng huy động vốn của các quỹ đầu tư |
Nguồn dữ liệu vĩ mô và toàn ngành được trích xuất từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Tổng cục Thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu kinh điển về NHĐT trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích sâu sắc cuộc tranh luận lịch sử giữa việc duy trì ranh giới theo Đạo luật Glass-Steagall hay tích hợp hoạt động theo Đạo luật Gramm-Leach-Bliley.
Nội dung phương pháp nghiên cứu làm rõ các bước tiếp cận từ phân tích định tính mô hình thể chế đến kỹ thuật định lượng. Luận án trình bày chi tiết cấu trúc toán học của các bài toán quy hoạch tuyến tính trong phân tích DEA:
- Bài toán đối ngẫu tìm hệ số hiệu quả $\theta$;
- Ràng buộc lồi $\sum \lambda_i = 1$ để chuyển từ CRS sang VRS;
- Phương trình phân rã chỉ số Malmquist TFP hướng đầu ra qua 4 hàm khoảng cách thành phần giữa hai thời kỳ $t$ và $t+1$;
- Xây dựng hệ thống 33 bảng thống kê, 11 sơ đồ và 35 biểu đồ phục vụ trực quan hóa các kết quả nghiên cứu.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
Chương 2 làm rõ các chức năng kinh tế cơ bản của NHĐT: cung cấp thông tin, kiểm soát rủi ro thông tin bất cân xứng, đa dạng hóa rủi ro chéo ngành, rủi ro chuỗi thời gian và rủi ro thanh khoản theo khung lý thuyết của Levine (2005). Luận án phân tích chi tiết sơ đồ kim tự tháp về cấu trúc hoạt động NHĐT của Sanford Bernstein: các mảng dịch vụ có biên lợi nhuận thấp (kinh doanh trái phiếu Chính phủ, repo, nghiên cứu cổ phiếu) đóng vai trò trợ cấp chéo và tạo quan hệ nền tảng để ngân hàng cung cấp các dịch vụ có biên lợi nhuận cao ở đỉnh kim tự tháp (tư vấn M&A, bảo lãnh phát hành cổ phiếu).
Tác giả phân tích các chỉ tiêu vĩ mô phản ánh sự phát triển của NHĐT:
- Tỷ lệ dư nợ thị trường/GDP (Bảng 2 cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các nước trong khu vực năm 2012);
- Thị phần ngành ngân hàng đầu tư tại Mỹ giai đoạn 1960 - 2003 (Bảng 3);
- Cấu trúc chi phí và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) giữa các mô hình ngân hàng.
Về kinh nghiệm quốc tế, chương này phân tích:
- Trung Quốc: Quá trình cải cách chuyển từ hệ thống chuyên biệt sang cho phép NHTM thành lập công ty con chứng khoán và quản lý quỹ;
- Nhật Bản: Sự dịch chuyển từ hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng sang phát triển thị trường vốn và nới lỏng các rào cản pháp lý điều 65 Luật Chứng khoán;
- Sự phá sản của Lehman Brothers: Lời cảnh báo về mô hình NHĐT chuyên biệt hoạt động độc lập thiếu chỗ dựa là nguồn tiền gửi dân cư, phụ thuộc quá mức vào các khoản vay ngắn hạn liên ngân hàng và nghiệp vụ repo để tài trợ cho tài sản kém thanh khoản (MBS, CDO).
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
Chương 3 là trọng tâm thực nghiệm của luận án, tập trung đánh giá môi trường thể chế pháp lý gồm Luật Các tổ chức tín dụng (quy định giới hạn góp vốn, mua cổ phần của NHTM), Luật Chứng khoán (quy định về 4 nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán của CTCK: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư) và cơ chế giám sát của NHNN cùng UBCKNN.
Các phát hiện thực nghiệm và số liệu chủ yếu của chương bao gồm:
- Thực trạng tại các NHTM: Tỷ trọng các khoản đầu tư của NHTM trên tổng tài sản duy trì ở mức cao nhưng danh mục chủ yếu là trái phiếu Chính phủ (Bảng 4, Biểu đồ 5). Kinh doanh chứng khoán và góp vốn chỉ đóng góp tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu và lợi nhuận hợp nhất của các NHTM (Bảng 5, Biểu đồ 8, 9, 10).
- Kết quả ước lượng hồi quy bằng SPSS 11.5 (Bảng 6):
- Vốn đầu tư, quy mô dư nợ tín dụng, đầu tư chứng khoán và đầu tư góp vốn dài hạn có tương quan thuận chiều có ý nghĩa thống kê ($\alpha < 5%$) đối với thu nhập ngoài lãi hợp nhất của NHTM.
- Quy mô tài sản cố định và cơ sở vật chất không có mối liên hệ mang ý nghĩa thống kê ($\alpha < 5%$) đối với thu nhập ngoài lãi, cho thấy hoạt động phi tín dụng phụ thuộc vào vốn và năng lực con người hơn là mạng lưới chi nhánh vật chất.
- Thực trạng thị trường M&A: Phân tích cơ cấu M&A cho thấy phần lớn các thương vụ có quy mô giá trị lớn đến từ các tập đoàn nước ngoài (Bảng 8, Biểu đồ 21, 22), trong khi M&A nội địa có quy mô nhỏ lẻ (Bảng 9, Biểu đồ 23).
- So sánh giữa CTCK thuộc NHTM và CTCK độc lập:
- Kiểm định T-Test xác nhận sự khác biệt rõ rệt về quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu giữa hai nhóm (Bảng 12, Biểu đồ 28). Các CTCK thuộc NHTM có lợi thế vượt trội về quy mô vốn, tài sản và khả năng huy động.
- Kiểm định Doanh thu và Chi phí (Bảng 13) cùng ROA, ROE (Bảng 14) phản ánh CTCK thuộc NHTM tận dụng được mạng lưới khách hàng từ ngân hàng mẹ nhưng tỷ suất sinh lời trên tài sản không vượt trội so với nhóm độc lập.
- Đo lường hiệu quả kỹ thuật bằng mô hình DEA (mẫu 57 CTCK, giai đoạn 2008 - 2013):
- Thống kê mô tả các biến đầu vào, đầu ra và ma trận tương quan Pearson (Bảng 15, 16).
- Hệ số hiệu quả kỹ thuật (TE) trung bình toàn ngành cho thấy các CTCK Việt Nam đang lãng phí, sử dụng không hiệu quả 35,1% các yếu tố đầu vào (Bảng 17).
- CTCK thuộc NHTM có hiệu quả kỹ thuật trung bình đạt 0,705 và hiệu quả quy mô đạt 0,782; cao hơn mức 0,759 của CTCK độc lập ở một số chỉ tiêu so sánh (Bảng 18).
- Phân tích quy mô (Bảng 19): Đa số CTCK trực thuộc NHTM có hiệu suất giảm theo quy mô (DRS), trong khi phần lớn CTCK độc lập có hiệu suất tăng theo quy mô (IRS).
- Ước lượng chỉ số Malmquist (Bảng 20): Năng suất nhân tố tổng hợp TFP trung bình đạt 0,9010 (< 1), phản ánh năng suất sụt giảm trong giai đoạn suy thoái hậu khủng hoảng.
- Đánh giá mức độ tập trung ngành: Thị trường môi giới và bảo lãnh phát hành có mức độ tập trung cao vào top các công ty lớn (Bảng 26, Biểu đồ 35). Tuy nhiên, luận án chỉ ra bản chất của mức độ tập trung này là do quy mô toàn thị trường còn quá nhỏ và kém phát triển chứ không phản ánh năng lực cạnh tranh vượt trội.
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
Chương 4 xây dựng định hướng phát triển song hành hai mô hình tại Việt Nam: (1) Mô hình ngân hàng tổng hợp/đa năng hạn chế (dựa trên các NHTM lớn lập công ty con) và (2) Mô hình NHĐT chuyên biệt (các CTCK, Cty QLQ độc lập tái cấu trúc thành định chế chuyên biệt). Luận án đề xuất hệ thống giải pháp phân cấp cụ thể cùng các điều kiện thực thi nền tảng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Khẳng định tính tương thích của mô hình song hành: Luận án chỉ rõ tại thị trường tài chính mới nổi như Việt Nam, không cần thiết phải áp đặt duy nhất một mô hình đơn lẻ. Hoạt động NHĐT có thể phát triển song song theo cả hai mô hình: Ngân hàng tổng hợp hạn chế (thông qua mô hình NHTM mẹ sở hữu công ty con chứng khoán riêng biệt - kiểu Anh/Mỹ) và Ngân hàng đầu tư chuyên biệt mà không gây xung đột lợi ích triệt tiêu, do mỗi mô hình phục vụ các phân khúc khách hàng mục tiêu khác nhau dựa trên lợi thế so sánh.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đo lường phát triển hoạt động NHĐT: Luận án đề xuất bổ sung bộ tiêu chí đa chiều phản ánh mức độ phát triển NHĐT gồm: mức độ phát triển thị trường vốn, tỷ lệ dư nợ trái phiếu doanh nghiệp trên trái phiếu Chính phủ, mức độ tập trung thị phần, quy mô vốn hóa và cấu trúc chi phí của đơn vị cung ứng dịch vụ, và mức độ chênh lệch ROE giữa định chế NHĐT và NHTM.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và bằng chứng thực nghiệm
| Chỉ tiêu / Kết quả thực nghiệm |
Giá trị định lượng trong luận án |
Ý nghĩa thực tiễn được luận án rút ra |
| Mức độ lãng phí đầu vào CTCK (DEA) |
35,1% yếu tố đầu vào sử dụng không hiệu quả |
Phản ánh tình trạng dư thừa chi phí hoạt động, công nghệ và nhân sự chưa tối ưu |
| Hiệu quả kỹ thuật CTCK thuộc NHTM |
TE = 0,705; Hiệu quả quy mô SE = 0,782 |
Vận hành kỹ thuật và quy mô cao hơn nhóm CTCK độc lập nhờ hậu thuẫn từ ngân hàng mẹ |
| Hiệu quả kỹ thuật CTCK độc lập |
Chỉ số so sánh đạt 0,759 |
Quy mô nhỏ nhưng linh hoạt hơn trong thích ứng thị trường |
| Hiệu suất theo quy mô (Scale Economies) |
NHTM: Đa số Giảm theo quy mô (DRS); Độc lập: Đa số Tăng theo quy mô (IRS) |
CTCK thuộc NHTM bị phình to quy mô chi phí; CTCK độc lập cần tăng thêm vốn để đạt quy mô tối ưu |
| Chỉ số năng suất Malmquist TFP |
Bình quân đạt 0,9010 (< 1) |
Năng suất tổng hợp sút giảm do tác động suy thoái thị trường chứng khoán 2008 - 2013 |
| Tương quan thu nhập ngoài lãi NHTM |
Thuận chiều với Vốn, Tín dụng, Danh mục CK, Góp vốn ($\alpha < 5%$) |
Nghiệp vụ NHĐT bổ trợ trực tiếp cho thu nhập ngoài lãi của ngân hàng mẹ |
| Tác động của TSCĐ lên thu nhập ngoài lãi |
Không có ý nghĩa thống kê ($\alpha < 5%$) |
Phát triển dịch vụ NHĐT không phụ thuộc vào chi nhánh vật chất hay tài sản cố định |
| Tỷ trọng lợi nhuận tự doanh chứng khoán |
Chiếm tỷ lệ thấp trong tổng lợi nhuận NHTM |
Kinh doanh chứng khoán chưa trở thành trụ cột sinh lời cốt lõi của hệ thống NHTM |
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Luận án xây dựng 3 nhóm giải pháp và các điều kiện thực hiện:
- Nhóm giải pháp chung:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ cho các dịch vụ NHĐT mới (chứng khoán hóa, phái sinh, quỹ hoán đổi danh mục ETF).
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm chứng khoán trên thị trường vốn.
- Thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và nới tỷ lệ sở hữu.
- Thiết lập hệ thống công cụ quản trị và phòng ngừa rủi ro tài chính đồng bộ.
- Nâng cao năng lực giám sát độc lập của các cơ quan thanh tra tài chính.
- Nhóm giải pháp phát triển mô hình ngân hàng tổng hợp:
- Kết hợp chặt chẽ nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM với các nghiệp vụ NHĐT (bán chéo sản phẩm bảo lãnh, tư vấn).
- Định hình mô hình NHTH kiểu Anh hoặc kiểu Mỹ (tách biệt pháp nhân công ty con chứng khoán để ngăn cách rủi ro lan truyền sang mảng nhận tiền gửi).
- Tối ưu hóa vai trò cầu nối của các CTCK trực thuộc mạng lưới chi nhánh NHTM mẹ.
- Nhóm giải pháp phát triển mô hình NHĐT chuyên biệt:
- Tái cấu trúc, hợp nhất nâng cao năng lực vốn và công nghệ của các CTCK, Cty QLQ độc lập.
- Xây dựng chính sách phát triển quan hệ khách hàng dài hạn để tích lũy thông tin độc quyền.
- Nâng cao năng lực chuyên môn trong hoạt động thẩm định giá, tư vấn M&A và nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
- Cải thiện chất lượng và tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư góp vốn tư nhân.
- Điều kiện thực hiện giải pháp:
- Thúc đẩy thanh khoản và quy mô thị trường vốn (đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp).
- Hoàn thiện thể chế giám sát hợp nhất thị trường tài chính quốc gia.
- Thành lập tổ chức định mức tín nhiệm độc lập tại Việt Nam nhằm cung cấp thông tin minh bạch cho hoạt động phát hành trái phiếu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm dừng lại ở mốc thời gian năm 2013 do giới hạn tiếp cận số liệu kiểm toán đầy đủ tại thời điểm hoàn thành công trình.
- Mẫu phân tích mô hình DEA phải rút gọn từ 70 CTCK xuống 57 CTCK do yêu cầu nghiêm ngặt về tính liên tục của chuỗi dữ liệu đầu vào - đầu ra giai đoạn 2008 - 2013.
- Phân tích mảng tư vấn M&A chủ yếu dựa trên các thương vụ công bố đại chúng thành công; dữ liệu về các thương vụ không thành công hoặc giao dịch vốn tư nhân chưa được phản ánh trọn vẹn do tính bảo mật thương mại.
- Chưa mở rộng khảo sát sang các định chế tài chính phi ngân hàng khác như công ty tài chính, công ty bảo hiểm.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Kéo dài chuỗi dữ liệu thực nghiệm sang giai đoạn tái cấu trúc hệ thống tài chính sau năm 2013 để kiểm chứng tính bền vững của các chỉ số Malmquist.
- Nghiên cứu mô hình kiểm soát rủi ro hệ thống khi các NHTM đẩy mạnh phát hành các sản phẩm tài chính phái sinh phức tạp và chứng khoán hóa tài sản thế chấp (MBS).
- Đo lường tác động thực tế của việc hình thành tổ chức xếp hạng tín nhiệm nội địa đối với chi phí bảo lãnh phát hành chứng khoán nợ của doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (NHNN, UBCKNN, Bộ Tài chính): Cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện khung pháp lý giám sát an toàn vĩ mô, xây dựng quy định phân định ranh giới hoạt động giữa NHTM và CTCK con, và hoàn thiện lộ trình thành lập tổ chức xếp hạng tín nhiệm.
- Ban điều hành các NHTM: Cung cấp bằng chứng định lượng về việc mở rộng thu nhập ngoài lãi thông qua nghiệp vụ NHĐT; chỉ ra sự không cần thiết của việc đầu tư dàn trải vào tài sản cố định/chi nhánh vật chất khi phát triển mảng dịch vụ này.
- Lãnh đạo các CTCK và Cty QLQ: Tham khảo kết quả phân tích DEA để nhận diện 35,1% lãng phí đầu vào, từ đó tái cấu trúc chi phí hoạt động, định vị quy mô tối ưu (khắc phục tình trạng DRS ở CTCK ngân hàng và mở rộng vốn đạt IRS ở CTCK độc lập).
- Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa kinh tế lượng OLS trên SPSS và mô hình phi tham số DEA/Malmquist ứng dụng trong lĩnh vực định chế tài chính.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đề xuất mô hình tổ chức nào cho hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam?
Luận án đề xuất định hướng phát triển song hành hai mô hình: (1) Mô hình ngân hàng tổng hợp hạn chế, trong đó NHTM sở hữu công ty con chứng khoán độc lập về mặt pháp lý (kiểu Anh hoặc kiểu Mỹ) nhằm tận dụng nguồn vốn và mạng lưới quan hệ tín dụng sẵn có; và (2) Mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt được tái cấu trúc từ các CTCK và Cty QLQ độc lập lớn. Hai mô hình này cùng tồn tại mà không triệt tiêu lẫn nhau do hướng tới các phân khúc khách hàng và sản phẩm mục tiêu khác nhau.
2. Kết quả phân tích DEA phản ánh thực trạng hiệu quả của các CTCK Việt Nam như thế nào?
Ước lượng DEA giai đoạn 2008 - 2013 cho thấy các CTCK Việt Nam sử dụng không hiệu quả 35,1% các yếu tố đầu vào. CTCK trực thuộc NHTM có hiệu quả kỹ thuật (0,705) và hiệu quả quy mô (0,782) cao hơn nhóm CTCK độc lập (0,759). Về quy mô, phần lớn CTCK thuộc NHTM rơi vào vùng hiệu suất giảm theo quy mô (DRS), trong khi phần lớn CTCK độc lập vận hành ở vùng hiệu suất tăng theo quy mô (IRS). Năng suất nhân tố tổng hợp Malmquist TFP bình quân toàn ngành chỉ đạt 0,9010 (< 1).
3. Quy mô tài sản cố định và danh mục kinh doanh chứng khoán tác động ra sao đến thu nhập ngoài lãi của NHTM?
Kết quả hồi quy đa biến OLS (SPSS 11.5) chứng minh: quy mô tài sản cố định và cơ sở vật chất của NHTM không có tác động mang ý nghĩa thống kê ($\alpha < 5%$) tới thu nhập ngoài lãi. Trong khi đó, vốn đầu tư, quy mô dư nợ tín dụng, đầu tư chứng khoán và đầu tư góp vốn dài hạn có mối tương quan thuận chiều mang ý nghĩa thống kê ($\alpha < 5%$). Tuy nhiên, hoạt động tự doanh chứng khoán thực tế đóng góp tỷ trọng lợi nhuận rất khiêm tốn trong cấu trúc lợi nhuận hợp nhất của các NHTM.
4. Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến mức độ tập trung thị phần cao trong nghiệp vụ môi giới và bảo lãnh phát hành tại Việt Nam là gì?
Luận án kết luận mức độ tập trung thị phần cao trong mảng môi giới và bảo lãnh phát hành vào tay một số ít CTCK dẫn đầu không bắt nguồn từ việc các đơn vị này sở hữu năng lực cạnh tranh hay công nghệ vượt trội. Bản chất của sự tập trung này xuất phát từ việc quy mô thị trường tài chính Việt Nam còn quá nhỏ, kém phát triển, dẫn đến thanh khoản và khối lượng thương vụ lớn chỉ tập trung cục bộ ở nhóm định chế có quan hệ bảo trợ lớn.
5. Sự khác biệt cơ bản giữa mô hình ngân hàng tổng hợp kiểu Đức và kiểu Anh theo luận án là gì?
Theo khung lý thuyết của Saunders và Walter (1994) được luận án phân tích: Mô hình kiểu Đức tích hợp trực tiếp hoạt động kinh doanh chứng khoán ngay trong cơ cấu tổ chức nội bộ của NHTM mẹ (chỉ có bảo hiểm và bất động sản chuyển cho công ty con). Ngược lại, mô hình kiểu Anh duy trì NHTM mẹ thuần túy làm ngân hàng truyền thống, toàn bộ hoạt động chứng khoán và bảo hiểm bắt buộc phải chuyển sang các công ty con riêng biệt nhằm hạn chế rủi ro lan truyền sang khối nhận tiền gửi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Hoàng Hà đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mô hình ngân hàng tổng hợp và ngân hàng đầu tư chuyên biệt, chỉ ra tính tất yếu khách quan của việc phát triển hoạt động NHĐT tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp hồi quy đa biến trên SPSS và mô hình phi tham số DEA/Malmquist, công trình đã lượng hóa mức độ lãng phí đầu vào của các CTCK cũng như tác động của các yếu tố nguồn vốn, tín dụng tới thu nhập ngoài lãi của hệ thống NHTM. Trên cơ sở thực nghiệm, luận án khẳng định định hướng phát triển song song hai mô hình tổ chức gắn liền với hoàn thiện khung pháp lý giám sát, phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thành lập tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập tại Việt Nam.