CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Hiện nay có nhiều tạp chí khoa học, đề tài nghiên cứu về sử dụng BTTN trong DHHH như Tác giả Cao Cự Giác [6], [7] đã xây dựng và sử dụng BT lí thuyết và thực nghiệm HH, hóa vô cơ. Ngoài ra tác giả còn nghiên cứu về cách thiết kế và sử dụng BTTN trong DHHH. Tác giả Nguyễn Cương [8]; tác giả Đặng Thị Thuận An [9] và tác giả Trịnh Ngọc Châu [10] đã nghiên cứu về kỹ thuật, thao tác cách tiến hành các TN, sử dụng một số phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật trong dạy học.
Tác giả Nguyễn Xuân Trường [11] đã xây dựng các dạng BT HH – BT ứng dụng trong đó có BTTN có nội dung liên quan đến TN và đời sống thực tiễn. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Quyên [12] đã xây sử dụng và sử dụng hệ thống BTTN trong dạy học phần HH phi kim ở trường THPT. Tác giả Nguyễn Thị Thu [13] đã nghiên cứu xây dựng, tuyển chọn và sử dụng hệ thống BT HH trong giảng dạy phần hóa phi kim lớp 10 để phát triển NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS. Tác giả Bạch Thị Cẩm Nhung [14] đã thiết kế và xây dựng một số BTTN lớp 10 như BTTN có tính chất trình bày, BTTN có tính chất minh họa và mô phỏng, BTTN có tính chất thực hành và cách sử dụng BTTN đó vào DHHH lớp 10 để nâng cao hiệu quả dạy học môn.
Tác giả Lê Kim Dung [15] đã đề xuất các bài thực hành phần HH phi kim 11, hướng dẫn thực hành một số TN và xây dựng một số giáo án minh họa phần HH phi kim nhằm phát triển NL thực hành của HS. Tác giả Nguyễn Thị Quyên [16] đã xây dựng và sử dụng BT có nội dung thực nghiệm HH vô cơ 12 THPT trong dạy học bài mới, ôn tập, thực hành…. Thiết kế được bộ công cụ đánh giá NL thực nghiệm của HS và xây dựng một số giáo án dạy học hiệu quả. 12 Tác giả Lưu Thị Minh Thanh [17] đã nghiên cứu các biện pháp rèn luyện và phát triển NL vận dụng kiến thức của HS thông qua việc sử dụng hệ thống BT HH trong dạy học phần dẫn xuất hidrocacbon – HH lớp 11 nâng cao.
Tác giả Phạm Thị Tình – Vũ Thị Hoài [18] đã nghiên cứu về thực trạng thiết kế sử dụng BTTN để phát triển NL thực nghiệm HH ở các trường THPT Huyện Hưng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Tác giả Trịnh Lê Hồng Phương – Lưu Thị Hồng Duyên [19] đã nêu lên việc sử dụng BTTN trong dạy học HH ở trường phổ thông là một trong những biện pháp phát triển NL sử dụng ngôn ngữ hóa học cho HS. Tác giả Lê Thị Thúy [20] đã tuyển chọn, xây dựng và sử dụng các TN HH, BTTN để tạo hứng thú và rèn luyện tư duy cho học sinh thông qua dạy học phần phi kim, HH 10 nâng cao. Như vậy đã có nhiều tác giả quan tâm đến việc sử dụng BTTN trong dạy học để phát triển NL cho HS.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về xây dựng và sử dụng hệ thống BTTN phần HH vô cơ lớp 12 nhằm phát triển NLVDKTKN cho HS theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. Đó là vấn đề đặt ra định hướng lựa chọn đề tài nghiên cứu này. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học hiện nay 1. Định hướng chung phương pháp giáo dục môn Hoá học Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; tránh áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tập trung bồi dưỡng NL tự chủ và tự học để HS có thể tiếp tục tìm hiểu, mở rộng vốn tri thức, tiếp tục phát triển các PC, NL sau khi tốt nghiệp THPT.
Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức HH để phát hiện và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn; khuyến khích và tạo điều kiện cho HS được trải nghiệm, sáng tạo trên cơ sở tổ chức cho HS tham gia các hoạt động học tập, tìm tòi, khám phá, vận dụng. Vận dụng các PP giáo dục một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng HS và điều kiện cụ thể. Tuỳ theo yêu cầu cần đạt, GV có thể sử dụng phối hợp nhiều PP dạy học trong một chủ đề. Các PP dạy học truyền thống (thuyết trình, đàm thoại,.) được sử dụng theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của HS.
13 Các hình thức tổ chức dạy học được thực hiện một cách đa dạng và linh hoạt; kết hợp các hình thức học cá nhân, học nhóm, học ở lớp, học theo dự án học tập, tự học,. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học HH [21]. Định hướng về phương pháp hình thành, phát triển năng lực hoá học Để phát triển NL nhận thức HH, GV tạo cho HS cơ hội huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để tham gia hình thành kiến thức mới. Chú trọng tổ chức các hoạt động kết nối kiến thức mới với hệ thống kiến thức đã học như: so sánh, phân loại, hệ thống hoá kiến thức, vận dụng kiến thức đã học để giải thích các sự vật, hiện tượng hay giải quyết vấn đề đơn giản,.
Để phát triển NL tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ HH, GV vận dụng một số PP dạy học có ưu thế như: PP trực quan (đặc biệt là thực hành TN,.) PP dạy học nêu và giải quyết vấn đề,. tạo điều kiện để HS đưa ra câu hỏi, xác định vấn đề cần tìm hiểu, tự tìm các bằng chứng để phân tích thông tin, kiểm tra các dự đoán, giả thuyết qua việc tiến hành TN,.; đồng thời chú trọng phát triển tư duy HH cho HS, thông qua các BT HH đòi hỏi tư duy phản biện, sáng tạo (BT mở, có nhiều cách giải,.), các BT có nội dung gắn với thực tiễn thể hiện bản chất HH, giảm các BT tính toán,. Để phát triển NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, GV tạo cơ hội cho HS được đọc, tiếp cận, trình bày thông tin về những vấn đề thực tiễn cần đến kiến thức HH và đưa ra giải pháp. GV cần quan tâm rèn luyện các kĩ năng phát hiện vấn đề; lập kế hoạch nghiên cứu; giải quyết vấn đề (thu thập, trình bày thông tin, xử lí thông tin để rút ra kết luận); đánh giá kết quả giải quyết vấn đề; nêu giải pháp khắc phục, cải tiến; đồng thời kết hợp giáo dục STEM trong dạy học.
Như vậy xu hướng đổi mới PPDH môn HH nhằm mục tiêu hình thành, phát triển ở HS NL HH; đồng thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở HS các PC chủ yếu và NL chung, đặc biệt là thế giới quan khoa học; hứng thú học tập, nghiên cứu; tính trung thực; thái độ tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với NL và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân [21]. Khái niệm về năng lực và năng lực của học sinh trung học phổ thông 14 1. Khái niệm năng lực Có rất nhiều khái niệm NL đã được các nhà nghiên cứu đưa ra như: Trong từ điển Tiếng Việt khái niệm NL được xác định là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó, phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [22]. “NL là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [23].
Trong hội nghị chuyên đề về NL cơ bản của Hội đồng Châu Âu (OECD) đã kết luận về khái niệm NL của HS trong quá trình học tập như sau :“NL của HS là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề” [24]. Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường: “NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [25]. Chương trình GDPT tổng thể của Bộ GD&ĐT đã xác định “NL là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề cuộc sống” [2].
Như vậy, NL có thể được hiểu là sự tổng hòa của các yếu tố như: kiến thức, kĩ năng, hành vi thái độ của cá nhân để thực hiện một cách hiệu quả nhất hoạt động đó. Sơ đồ về NL trong mối quan hệ với kiến thức, kỹ năng và thái độ. Năng lực của học sinh trung học phổ thông Chương trình GDPT 2018, GV cần hình thành và phát triển cho HS những NL cốt lõi. Những NL chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục như: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Ngoài năng lực chung, còn có NL đặc thù của HS như sau: NL ngôn ngữ; NL tính toán; NL khoa học; NL công nghệ; NL tin học; NL thẩm mĩ; NL thể chất. Đối với môn HH có năng lực đặc trưng là NL hóa học, bao gồm: NL nhận thức hoá học; NL tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học và NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học [2]. Sơ đồ các PC và NL HH của HS THPT 1. Năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng môn Hóa học 1.
Khái niệm về năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng “NLVDKTKN HH là khả năng của bản thân người học giải quyết vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng, áp dụng những kiến thức HH lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó. NLVDKTKN HH thể hiện PC, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức” [26].