phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về giáo dục môi trƣờng Chƣơng 2: Hệ thống bài tập về giáo dục môi trƣờng phần hóa học hữu cơ ở trƣờng THPT Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm -4- z Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử của vấn đề nghiên cứu Trƣớc đây đã có một số tác giả đề cập đến những vấn đề hoá học trong thực tiễn ( Tài liệu tham khảo) nhƣng việc biên soạn những bài tập hoá học có nội dung liên quan tới thực tiễn và GDMT, BVMT áp dụng cho chƣơng trình hoá học phổ thông còn ít đƣợc quan tâm. Hiện nay đã có nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về đề tài thực tiễn nói chung và môi trƣờng nói riêng cho bậc THPT.
Trần Thị Ngà: Thiết kế và sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến thực tiễn trong dạy học ở trường trung học phổ thông. Nguyễn Thị Kim Phƣơng: Góp phần GDMT cho học sinh thông qua hệ thống bài tập liên quan đến thực tế về BVMT chương Nito-photpho. Luận văn Thạc sĩ, 2009 Ở đây, các tác giả mới tập trung lựa chọn, xây dựng bài tập liên quan tới thực tiễn vào một, hai chƣơng thuộc phần vô cơ, hoặc toàn bộ chƣơng trình. Vấn đề nghiên cứu xây dựng và sử dụng bài tập về môi trƣờng trong giảng dạy phần hoá học hữu cơ ở trƣờng THPT còn hạn chế.
Tổng quan về môi trƣờng 1. Một số khái niệm chung 1. Khái niệm môi trường [11] Môi trƣờng là tổng hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có ảnh hƣởng tới một vật thể hay một sự kiện, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển đối với mỗi sinh vật. Thành phần tự nhiên của môi trƣờng của trái đất bao gồm: - Địa quyển (môi trƣờng đất): Là phần vỏ cứng của Trái đất, tính từ bề mặt Trái đất, nó có độ sâu khoảng 70 – 100 km trên phần lục địa và 2 - 8 km dƣới đáy đại dƣơng.
Thành phần hoá học, tính chất vật lý của địa quyển tƣơng đối ổn định và có ảnh hƣởng lớn đối với sự sống trên trái đất. -5- z - Thuỷ quyển (môi trƣờng nƣớc): Là thành phần nƣớc của Trái đất bao gồm các đại dƣơng, sông, suối, ao hồ, nƣớc dƣới đất, băng tuyết và hơi nƣớc. Thuỷ quyển đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cuộc sống của con ngƣời, sinh vật và cân bằng khí hậu toàn cầu. - Khí quyển (môi trƣờng không khí): Là lớp vỏ khí bao quanh Trái đất.
Trong khí quyển có tới khoảng 50 hợp chất hóa học khác nhau, giữa chúng hình thành hàng loạt các phản ứng và nằm cân bằng với nhau. Khí quyển đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống và quyết định tính chất khí hậu. - Sinh quyển: bao gồm các thành phần hữu sinh (bao gồm các sinh vật sống nhƣ thực vật, các động vật và con ngƣời) và các thành phần vô sinh có quan hệ chặt chẽ và tƣơng tác lẫn nhau rất phức tạp. Môi trƣờng sống của con ngƣời - môi trƣờng nhân văn là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, kinh tế và xã hội bao quanh có ảnh hƣởng đến sự sống và phát triển của từng cá nhân và của cả cộng đồng.
Môi trƣờng sống của con ngƣời là cả vũ trụ bao la, trong đó hệ mặt trời và trái đất là bộ phận có ảnh hƣởng trực tiếp và rõ rệt nhất. Trong môi trƣờng sống này luôn luôn tồn tại sự tƣơng tác giữa các thành phần vô sinh và hữu sinh. Các thành phần của môi trƣờng luôn chuyển hoá trong tự nhiên, diễn ra theo chu trình và thông thƣờng ở dạng cân bằng. Các chu trình phổ biến nhất trong tự nhiên là chu trình sinh địa hoá nhƣ: Chu trình cacbon, chu trình Nitơ, chu trình photpho… Khi các chu trình này không giữ trạng thái cân bằng thì các sự cố về môi trƣờng xảy ra, tác động đến sự tồn tại của con ngƣời và sinh vật ở khu vực hoặc quy mô toàn cầu.
Khái niệm ô nhiễm môi trường - Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới: Sự ô nhiễm là việc chuyển các chất thải hoặc năng lƣợng vào môi trƣờng đến mức có khả năng gây tác hại xấu đến sức khoẻ con ngƣời, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lƣợng môi trƣờng. - Theo định nghĩa trong cơ sở hóa học môi trƣờng: Ô nhiễm môi trƣờng là do những tác động làm thay đổi các thành phần vật lý, hóa học, sinh học, các -6- z năng lƣợng, bức xạ.Các thay đổi này tạo nên sự mất cân bằng trạng thái môi trƣờng gây ảnh hƣởng xấu tới sinh vật và môi trƣờng tự nhiên bằng con đƣờng trực tiếp hoặc gián tiếp. Chất gây ô nhiễm môi trƣờng là những chất do điều kiện nào đó( tự nhiên hay nhân tạo) đƣa vào môi trƣờng một lƣợng lớn chất gây tác hại cho môi trƣờng tự nhiên, cho sinh vật và con ngƣời.Chất gây ô nhiễm tự nhiên đó là những chất đƣợc đƣa vào môi trƣờng do các hoạt động tự nhiên nhƣ cháy rừng, bão, lụt, sự phun trào của núi lửa, các chất phóng xạ.Sự ô nhiễm tự nhiên có tính cục bộ từng vùng và qua một thời gian môi trƣờng tự điều chỉnh đƣợc. Sự ô nhiễm nhân tạo là do các hoạt động của con ngƣời gây nên nhƣ sản xuất công, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt đô thị.các chất gây ô nhiễm thải vào môi trƣờng ngày càng nhiều, vƣợt quá giới hạn cho phép nên môi trƣờng không tự làm sạch đƣợc, gây ô nhiễm.
Để bảo đảm giữ gìn môi trƣờng trong lành, một số tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia đã xây dựng các tiêu chuẩn chất lƣợng môi trƣờng. Tiêu chuẩn chất lƣợng môi trƣờng là giới hạn cho phép tối đa về liều lƣợng hoặc nồng độ của các tác nhân gây ô nhiễm trong từng vùng cụ thể hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể đối với từng thành phần môi trƣờng. Khái niệm bảo vệ môi trường Thế giới ngày càng phát triển đã gây nên những tác động xấu đến môi trƣờng, làm cho môi trƣờng ngày càng biến đổi sâu sắc, bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa sự sống của con ngƣời. Vì vậy, vấn đề môi trƣờng và phát triển đã trở thành vấn đề hết sức cấp bách của chúng ta hiện nay.
Ở nƣớc ta, Đảng và nhà nƣớc đã sớm nhận rõ tầm quan trọng và mối quan hệ gắn kết giữa phát triển kinh tế- xã hội và công tác bảo vệ môi trƣờng. Theo chỉ thị 36- CT/TW, ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị Trung ƣơng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ rõ: "Bảo vệ môi trƣờng là một vấn đề sống còn của đất nƣớc, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nƣớc, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới". -7- z Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trƣờng là:" Ngăn ngừa ô nhiễm môi trƣờng, phục hồi và cải thiện môi trƣờng ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bƣớc nâng cao chất lƣợng môi trƣờng ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế- xã hội bền vững, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc". Chức năng cơ bản của môi trường - Môi trƣờng là không gian sinh sống cho con ngƣời và thế giới sinh vật.
- Môi trƣờng là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con ngƣời. - Môi trƣờng là nơi chứa đựng các chất phế thải do con ngƣời tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất. - Môi trƣờng là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con ngƣời và sinh vật trên Trái đất. - Môi trƣờng là nơi lƣu trữ và cung cấp thông tin cho con ngƣời.
Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, phát triển bền vững 1. Mối quan hệ giữa môi trường và phát triển [18], [21] Phát triển là xu hƣớng chung của từng cá nhân và cả loài ngƣời trong quá trình sống, nhằm không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con ngƣời. Mục đích của sự phát triển là đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống của con ngƣời. Giữa môi trƣờng và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: Môi trƣờng là địa bàn, là đối tƣợng của phát triển.
Phát triển là nguyên nhân của mọi biến đổi đối với môi trƣờng. Giữa môi trƣờng và phát triển có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Tác động của hoạt động phát triển đến môi trƣờng thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trƣờng tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhƣng có thể gây ra ô nhiễm môi trƣờng tự nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trƣờng tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tƣợng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm họa, thiên tai đối với các hoạt -8- z động kinh tế xã hội trong khu vực.
Phát triển là xu thế tất yếu của mọi xã hội, là quy luật của tiến hoá thiên nhiên, vì vậy chúng ta không thể kìm hãm sự phát triển của xã hội loài ngƣời, mà phải tìm con đƣờng phát triển thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn giữa môi trƣờng và phát triển. Phát triển bền vững [21] Thuật ngữ " phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế- IUCN) với nội dung rất đơn giản: " Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trƣờng sinh thái học". Theo báo cáo của Ủy ban môi trƣờng và phát triển thế giới- WCED 1987 đƣa ra định nghĩa về phát triển bền vững là: " Phát triển bền vững là sự phát triển lâu dài phù hợp với yêu cầu của thế hệ hôm nay mà không gây ra những khả năng nguy hại đến các thế hệ mai sau trong việc thỏa mãn nhu cầu riêng và trong việc lựa chọn ngƣỡng sống của họ.