CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC DẠY HỌC TÍCH HỢP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu Dạy học tích hợp là quan điểm cốt lõi để phát triển chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu. Ở Việt Nam từ năm 2000 quan điểm dạy học tích hợp đã thể hiện trong chương trình sách giáo khoa cũng như các hoạt động ở bậc tiểu học, bậc trung học cơ cở và THPT được thể hiện dưới dạng lồng ghép một số môn học. Hiện nay ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy học tích hợp như: Tác giả Cao Thị Thặng đã nghiên cứu công trình “Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc phát triển chương trình giáo dục Việt Nam giai đoạn sau 2015” trong đó tác giả đã tổng quan các vấn đề lí luận và thực tiễn về xu hướng tích hợp trong chương trình giáo dục một số nước trên thế giới; phân tích thực trạng việc vận dụng quan điểm dạy và học tích hợp trong chương trình giáo dục Việt Nam.
Đề xuất giải pháp vận dụng quan điểm tiếp cận tích hợp vào việc phát triển chương trình phổ thông Việt Nam sau 2015. Đề tài trọng điểm cấp Bộ, “Hình thành năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên trung học phổ thông”nghiệm thu tháng 12/2012 có mã số B2010-TN03-30TĐ do PGS. Nguyễn Phúc Chỉnh – Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên làm chủ nhiệm đề tài. Đã phân tích cơ sở lý luận của dạy học tích hợp, các biện pháp hình thành năng lực dạy học tích hợp các môn Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội cho giáo viên trường phổ thông.
“Xây dựng chủ đề dạy học liên môn trong dạy học hóa học lớp 11 trường trung học phổ thông” của Vũ Thị Thùy Dương (2015), trường Đại học Giáo dục [10]. “Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp chương Oxi-Lưu huỳnh Hóa học lớp 10 nhằm phát triển năng lực học sinh” của Nguyễn Thị Trang (2015), trường Đại học Sư phạm Hà Nội [17]. 5 z “Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp trong dạy học phần Hiđrocacbon lớp 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh” của Ngô Thanh Hoa (2015), trường Đại học Sư phạm Hà Nội [11]. Trong luận văn này tôi xây dựng một số chủ đề có sự vận dụng kiến thức LT mà học sinh đã học để giải thích các vấn đề thực tiễn liên quan đến hóa học và làm các BTHH có liên quan đến thực tiễn.
Đồng thời đưa vào trong dạy học với phương pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao hứng thú học tập, NL VDKTHH vào thực tiễn cho HS THPT.2 Đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành TW Đảng khóa XI đã nhấn mạnh: “Đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; “Phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp”[16]. Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bô ̣Giáo dục và Đào tạo (12/2018) [1] mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới là giúp HS hình thành, phát triển ở học sinh năng lực hoá học; đồng thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là thế giới quan khoa học; hứng thú học tập, nghiên cứu; tính trung thực; thái độ tôn trọng các quy luật của thiên nhiên, ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân.3 Định hướng phát triển lực cho học sinh trung học phổ thông 1.1 Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau khi dựa trên các dấu hiệu khác nhau của chúng. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2010) coi khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động và đưa ra định nghĩa: “ Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [8]. Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 12/2018: “ Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [1].2 Cấu trúc năng lực Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (12/2018) [1] hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực đặc thù được hình thành và phát triển ở học sinh năng lực hoá học – một biểu hiện đặc thù của năng lực khoa học tự nhiên với các thành phần: nhận thức hoá học; tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.3 Các đặc điểm của năng lực Năng lực có các đặc điểm sau: - Năng lực thể hiện những đặc thù tâm lí, sinh lí khác biệt của cá nhân, chịu ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh di truyền về mặt sinh học, đồng thời chịu tác động của những điều kiện của môi trường sống. 7 z - Năng lực chỉ có thể quan sát được qua hoạt động của cá nhân ở các tình huống nhất định. - Xét về mặt hình thức, năng lực thường tồn tại dưới hai dạng: năng lực cốt lõi và năng lực chuyên biệt.
+ Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. + Năng lực chuyên biệt: là năng khiếu chỉ có ở một số người. - Năng lực được hình thành và phát triển trong và ngoài nhà trường. - Năng lực và các thành tố của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ năng lực sơ đẳng, thụ động tới năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân.
- Năng lực được hình thành và phát triển liên tục trong suốt cuộc đời con người.1 Một số năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh phổ thông. Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và đào tạo công bố ngày 26/12/2018 [1], các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho HS THPT là: NL tự học và tự hoàn thiện, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. Bên cạnh đó, yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của HS bao gồm: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ và NL thể chất. Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể môn Hóa học của Bộ giáo dục và đào tạo công bố [2], các năng lực cần hình thành và phát triển cho HS THPT như sau: - Năng lực nhận thức kiến thức hóa học: Nhận thức được các kiến thức cơ sở về cấu tạo chất; các quá trình hoá học; các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng; một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học; một số ứng dụng của hoá học trong đời sống và sản xuất.
- Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học: Quan sát, thu thập thông tin; phân tích, xử lí số liệu; giải thích; dự đoán được kết quả nghiên cứu một số sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống. - Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết một số vấn đề trong học tập, nghiên cứu khoa học và một số 8 z tình huống cụ thể trong thực tiễn [2]. Luận văn này, chúng tôi Nghiên cứu việc phát triển NLHT cho HS thông qua việc sử dụng PPDH tích cực.2 Các phương pháp đánh giá năng lực Đánh giá năng lực trong dạy và học tích cực đòi hỏi phải nhìn nhận HS như một “tổng thể” toàn diện. Để đánh giá năng lực của người học cần nhấn mạnh đến đánh giá quá trình học.
Việc đánh giá quá trình học kết hợp đánh giá kết quả học sẽ đem lại những thông tin phản hồi để cả người dạy và người học điều chỉnh hoạt động dạy và học của mình. Đánh giá quá trình có thể thực hiện thông qua quan sát các ứng xử của HS trong các vấn đề, nhiệm vụ, tình huống học tập, qua phân tích hồ sơ học tập của HS, qua các bài kiểm tra nói hoặc viết, qua đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá của mỗi HS. Muốn đánh giá được năng lực của HS, GV cần phải có năng lực đánh giá – một năng lực nghề nghiệp. Phần cốt lõi của năng lực đánh giá là hệ thống kĩ năng được sử dụng trong tiến trình thực hiện đánh giá liên tục (on – going assessment) quá trình học tập và dạy học.
Trong dạy học tích cực, chúng ta có thể sử dụng các phương pháp đánh giá sau để đánh giá năng lực HS. Đánh giá qua quan sát Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá các thao tác, động cơ, các hành vi, kĩ năng thực hành và kĩ năng nhận thức, chẳng hạn như cách giải quyết một vấn đề trong tình huống cụ thể. Quy trình thực hiện đánh giá qua quan sát gồm ba bước cơ bản cần tuân theo: - Chuẩn bị: Xác định mục đích; xác định cách thức thu thập thông tin từ phía HS. - Quan sát, ghi biên bản: quan sát những gì, cách thức quan sát; ghi chép những gì, ghi chép như thế nào.
- Đánh giá: Cách thức ghi chép thông tin, nhận xét kết quả, ra quyết định,. Cùng với các thông tin có được từ phỏng vấn, quan sát là công cụ cho phép thu thập dữ liệu quan trọng trong quá trình đánh giá.