Luận văn: Phát triển năng lực tự học qua bộ câu hỏi chương Nito-Photpho Hóa 11

Luận văn trình bày phương pháp phát triển năng lực tự học Hóa 11 qua bộ câu hỏi định hướng chương Nito - Photpho, kèm kết quả thực nghiệm chi tiết.

Trường đại học

Trường đại học giáo dục

Chuyên ngành

Sư phạm hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

184
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn phát triển năng lực tự học Hóa 11 toàn diện

Năng lực tự học là nền tảng cốt lõi giúp học sinh (HS) chiếm lĩnh kiến thức và giải quyết vấn đề hiệu quả, đặc biệt với môn Hóa học lớp 11. Chương Nito-Photpho được xem là một trong những nội dung quan trọng và phức tạp nhất, đòi hỏi khả năng tự nghiên cứu và hệ thống hóa kiến thức cao. Việc phát triển năng lực tự học Hóa 11 chương Nito-Photpho không chỉ giúp HS đạt kết quả tốt trong các kỳ thi mà còn hình thành thói quen học tập chủ động, một kỹ năng thiết yếu cho các bậc học cao hơn và trong cuộc sống. Quá trình này bao gồm việc xác định mục tiêu học tập rõ ràng, lập kế hoạch chi tiết, chủ động tìm kiếm và xử lý thông tin, và tự đánh giá, điều chỉnh quá trình học. Một hướng dẫn tự học Hóa học 11 bài bản sẽ là chìa khóa để HS vượt qua những thách thức của chương học này. Nội dung bài viết sẽ đi sâu vào các phương pháp đã được kiểm chứng, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn từ các công trình nghiên cứu khoa học, nhằm cung cấp một lộ trình học tập hiệu quả và bền vững.

1.1. Tầm quan trọng của tự học đối với chương Nito Photpho

Chương Nito-Photpho bao gồm một khối lượng lớn lý thuyết trọng tâm Nito-Photpho lớp 11, từ cấu tạo nguyên tử, tính chất vật lý, đến các tính chất hóa học của nitotính chất hóa học của photpho. Các hợp chất như amoniac, axit nitric, axit photphoric có nhiều phản ứng hóa học phức tạp, đặc biệt là các phản ứng oxi hóa-khử. Nếu chỉ dựa vào thời gian học trên lớp, HS khó có thể nắm vững toàn bộ kiến thức. Do đó, việc tự học giúp HS có thêm thời gian để đào sâu, nghiên cứu kỹ từng khái niệm, tự mình hoàn thành các chuỗi phản ứng của nito, và rèn luyện kỹ năng cân bằng phương trình oxi hóa khử. Tự học còn là cách tốt nhất để củng cố kiến thức Hóa 11, biến kiến thức của thầy cô thành kiến thức của chính mình.

1.2. Các thành tố cấu thành năng lực tự học theo chuẩn mới

Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, năng lực tự học được cấu thành từ ba thành tố chính: (1) Tự xác định mục tiêu và nhiệm vụ học tập; (2) Tự lên kế hoạch, tìm kiếm và xử lý thông tin; (3) Tự đánh giá và điều chỉnh quá trình học. Áp dụng vào chương Nito-Photpho, HS cần tự đặt mục tiêu chinh phục các dạng bài tập cụ thể như các dạng bài tập amoniac và muối amoni hay bài tập axit nitric và muối nitrat. Sau đó, HS phải lập kế hoạch ôn tập, tìm kiếm tài liệu ôn tập chương Nito-Photpho phù hợp. Cuối cùng, thông qua việc tự làm bài kiểm tra và đối chiếu kết quả, HS có thể nhận ra điểm yếu của mình để kịp thời điều chỉnh phương pháp học. Việc rèn luyện đầy đủ các thành tố này là mục tiêu của quá trình phát triển năng lực tự học Hóa 11.

II. Thách thức thường gặp khi tự học Hóa 11 chương Nito Photpho

Quá trình tự học chương Nito-Photpho không hề đơn giản. Nhiều HS đối mặt với những khó khăn mang tính hệ thống, dẫn đến kết quả học tập không như mong đợi. Thách thức lớn nhất đến từ sự phức tạp và trừu tượng của kiến thức. Các hợp chất của Nito có nhiều số oxi hóa, dẫn đến các phản ứng hóa học đa dạng và khó dự đoán. Bên cạnh đó, các khái niệm liên quan đến phân bón hóa học lớp 11 đòi hỏi sự liên hệ với thực tiễn, điều mà không phải tài liệu nào cũng trình bày rõ ràng. Theo khảo sát trong luận văn của Nguyễn Ngọc Bích (2020), một bộ phận lớn HS, đặc biệt là HS các trường phổ thông dân tộc nội trú, gặp hạn chế về phương pháp tự học Hóa 11. Các em thường học một cách thụ động, chỉ ôn lại bài cũ và làm bài tập trong sách giáo khoa mà chưa biết cách tự nghiên cứu bài mới hay mở rộng kiến thức. Thiếu định hướng và mục tiêu rõ ràng khiến việc tự học trở nên lan man và kém hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc hệ thống hóa lý thuyết trọng tâm

Một trong những rào cản lớn nhất là việc hệ thống hóa lý thuyết trọng tâm Nito-Photpho lớp 11. Khối lượng kiến thức lớn, trải dài từ đơn chất đến hợp chất và ứng dụng, khiến HS dễ bị “ngợp”. Việc ghi nhớ các tính chất hóa học đặc trưng, điều kiện phản ứng, và hiện tượng đi kèm là một thử thách. Nhiều HS học thuộc lòng một cách máy móc mà không hiểu bản chất, dẫn đến việc nhanh quên và không thể vận dụng vào giải bài tập. Việc thiếu các công cụ hỗ trợ như sơ đồ tư duy chương Nito-Photpho khiến kiến thức trở nên rời rạc, không có sự liên kết logic giữa các bài học, làm giảm hiệu quả của quá trình phát triển năng lực tự học Hóa 11.

2.2. Hạn chế về kỹ năng giải các dạng bài tập Hóa phức tạp

Bên cạnh lý thuyết, kỹ năng giải bài tập Hóa chương này cũng là một thách thức lớn. Các dạng bài toán liên quan đến hiệu suất phản ứng tổng hợp amoniac, bài toán về phản ứng của kim loại với HNO3, hay bài toán về độ dinh dưỡng của phân bón đều là những dạng bài tập khó. HS thường lúng túng khi xác định sản phẩm khử, cân bằng phương trình oxi hóa khử phức tạp, hoặc áp dụng các định luật bảo toàn. Việc không được cung cấp một lộ trình rèn luyện bài bản, đi từ cơ bản đến nâng cao, khiến HS dễ nản lòng. Sự thiếu hụt các tài liệu ôn tập chương Nito-Photpho chất lượng, có phân dạng chi tiết và lời giải rõ ràng cũng góp phần vào khó khăn này.

III. Phương pháp dùng câu hỏi định hướng để tự học Hóa 11 hiệu quả

Để giải quyết các thách thức trên, một trong những phương pháp tự học Hóa 11 hiệu quả đã được nghiên cứu và chứng minh là sử dụng “Bộ câu hỏi định hướng” (BCHĐH). Đây là một hệ thống câu hỏi được thiết kế khoa học, có vai trò dẫn dắt HS tự tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh kiến thức. Thay vì tiếp nhận thông tin một cách thụ động, HS sẽ chủ động trả lời các câu hỏi, từ đó xây dựng nên một hệ thống kiến thức vững chắc. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Bích (2020), việc triển khai BCHĐH trong dạy học đã "kích thích được hứng thú, tạo động cơ học tập cho người học, từ đó, phát triển năng lực tự học cho học sinh". Phương pháp này không chỉ cung cấp kiến thức mà còn rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, là những yếu tố cốt lõi của năng lực tự học. BCHĐH được xây dựng dựa trên mục tiêu của bài học và được sắp xếp theo các cấp độ nhận thức, từ dễ đến khó.

3.1. Cấu trúc của một bộ câu hỏi định hướng bài học BCHĐH

Một BCHĐH chuẩn thường bao gồm ba cấp độ: Câu hỏi khái quát, Câu hỏi bài học và Câu hỏi nội dung. Câu hỏi khái quát thường là một câu hỏi mở, có tính kết nối thực tiễn để khơi gợi sự tò mò (ví dụ: “Tại sao Nito chiếm gần 80% không khí nhưng lại khá trơ?”). Câu hỏi bài học đi sâu vào các mục tiêu chính của bài, giúp HS nắm bắt các ý tưởng lớn. Cuối cùng, Câu hỏi nội dung là những câu hỏi chi tiết, bám sát sách giáo khoa, yêu cầu HS tìm hiểu cụ thể về cấu tạo, tính chất, điều chế. Cấu trúc này giúp định hướng quá trình hướng dẫn tự học Hóa học 11, đảm bảo HS không bỏ sót những lý thuyết trọng tâm Nito-Photpho lớp 11 và xây dựng kiến thức một cách có hệ thống.

3.2. Quy trình tự học với bộ câu hỏi định hướng BCHĐH

Quá trình tự học với BCHĐH diễn ra theo các bước: (1) Nhận BCHĐH từ giáo viên trước buổi học; (2) Dựa vào câu hỏi, tự nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu ôn tập chương Nito-Photpho khác để soạn câu trả lời; (3) Ghi chép lại những thắc mắc hoặc những nội dung chưa hiểu rõ; (4) Tham gia thảo luận, trình bày câu trả lời trên lớp và lắng nghe góp ý từ bạn bè, giáo viên; (5) Tự điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện kiến thức. Quy trình này biến mỗi HS thành một nhà nghiên cứu chủ động, giúp rèn luyện toàn diện các kỹ năng giải bài tập Hóa và khả năng tư duy độc lập. Đây là cốt lõi của việc phát triển năng lực tự học Hóa 11.

IV. Cách áp dụng sơ đồ tư duy củng cố kiến thức Hóa 11 Nito Photpho

Bên cạnh bộ câu hỏi định hướng, việc sử dụng sơ đồ tư duy chương Nito-Photpho là một công cụ cực kỳ hữu hiệu để hệ thống hóa và củng cố kiến thức Hóa 11. Sơ đồ tư duy (mind map) cho phép trình bày thông tin một cách trực quan, logic thông qua việc sử dụng từ khóa, hình ảnh và màu sắc. Đối với một chương có lượng kiến thức lớn và nhiều mối liên hệ phức tạp như Nito-Photpho, sơ đồ tư duy giúp HS nhìn thấy bức tranh tổng thể, dễ dàng nhận ra mối quan hệ giữa đơn chất, hợp chất và các ứng dụng của chúng. Việc tự tay xây dựng một sơ đồ tư duy cũng là một hình thức tự học tích cực, đòi hỏi HS phải thực sự hiểu sâu vấn đề mới có thể tóm tắt và hệ thống hóa lại. Đây là một bước quan trọng trong quá trình phát triển năng lực tự học Hóa 11, giúp biến kiến thức phân mảnh thành một hệ thống chặt chẽ và dễ ghi nhớ.

4.1. Xây dựng sơ đồ tư duy cho từng hợp chất quan trọng

HS nên bắt đầu bằng việc tạo các sơ đồ tư duy riêng cho từng hợp chất chính như Amoniac (NH3), Axit Nitric (HNO3), và Axit Photphoric (H3PO4). Mỗi sơ đồ sẽ có tên hợp chất ở trung tâm. Các nhánh chính bao gồm: Cấu tạo phân tử, Tính chất vật lý, Tính chất hóa học, Điều chế, và Ứng dụng. Trong nhánh “Tính chất hóa học”, các nhánh phụ sẽ thể hiện các tính chất đặc trưng, ví dụ, đối với NH3 là tính bazơ yếu và tính khử; đối với HNO3 là tính axit mạnh và tính oxi hóa mạnh. Việc này giúp làm rõ lý thuyết trọng tâm Nito-Photpho lớp 11 và giúp giải quyết hiệu quả các dạng bài tập amoniac và muối amoni cũng như bài tập axit nitric và muối nitrat.

4.2. Liên kết các sơ đồ tư duy để tạo thành chuỗi phản ứng

Sau khi có các sơ đồ tư duy cho từng chất, bước nâng cao là kết nối chúng lại với nhau để thể hiện chuỗi phản ứng của nito và photpho. Ví dụ, có thể vẽ một đường nối từ nhánh “Điều chế” của HNO3 đến nhánh “Tính chất hóa học” của NH3 (phản ứng oxi hóa amoniac). Tương tự, kết nối các hợp chất với đơn chất tương ứng. Sơ đồ tổng hợp này không chỉ giúp ôn tập toàn bộ kiến thức chương mà còn là một tài liệu ôn tập chương Nito-Photpho vô giá do chính HS tạo ra. Nó thể hiện sự hiểu biết sâu sắc và là đỉnh cao của việc phát triển năng lực tự học Hóa 11, giúp HS tự tin chinh phục mọi dạng bài tập.

V. Minh chứng hiệu quả từ thực nghiệm phát triển năng lực tự học

Tính hiệu quả của các phương pháp trên không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà đã được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm. Luận văn của Nguyễn Ngọc Bích (2020) đã tiến hành nghiên cứu tại trường Hữu Nghị T78 và Hữu Nghị 80, so sánh kết quả học tập giữa nhóm thực nghiệm (sử dụng BCHĐH) và nhóm đối chứng (dạy theo phương pháp truyền thống). Kết quả cho thấy một sự chênh lệch rõ rệt. Nhóm HS được tiếp cận với phương pháp tự học Hóa 11 thông qua BCHĐH đã thể hiện sự tiến bộ vượt bậc. Các em không chỉ có kết quả bài kiểm tra cao hơn mà còn cho thấy sự cải thiện đáng kể trong các biểu hiện của năng lực tự học. Cụ thể, HS ở nhóm thực nghiệm tự tin hơn trong việc xác định nhiệm vụ học tập, chủ động hơn trong việc tìm kiếm tài liệu và có khả năng tự đánh giá tốt hơn. Điều này khẳng định rằng, việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực là hướng đi đúng đắn để phát triển năng lực tự học Hóa 11.

5.1. Phân tích kết quả học tập qua các bài kiểm tra

Dữ liệu từ các bài kiểm tra cho thấy, "phân phối tần suất lũy tích" điểm của nhóm thực nghiệm luôn nằm bên phải và phía dưới so với nhóm đối chứng, chứng tỏ chất lượng học tập của nhóm thực nghiệm tốt hơn một cách rõ rệt. Tỷ lệ HS đạt điểm khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm tăng lên đáng kể sau quá trình can thiệp, trong khi tỷ lệ HS yếu, kém giảm mạnh. Điều này minh chứng rằng việc sử dụng BCHĐH giúp HS nắm vững lý thuyết trọng tâm Nito-Photpho lớp 11 và cải thiện kỹ năng giải bài tập Hóa.

5.2. Đánh giá sự tiến bộ năng lực tự học qua phiếu khảo sát

Thông qua các phiếu khảo sát tự đánh giá và đánh giá của giáo viên, nghiên cứu chỉ ra rằng các biểu hiện của năng lực tự học ở nhóm thực nghiệm đã được cải thiện qua từng bài dạy. Biểu đồ "Sự tiến bộ năng lực tự học của HS lớp TN so với lớp ĐC" trong luận văn cho thấy điểm quan sát NLTH trung bình của nhóm thực nghiệm cao hơn hẳn nhóm đối chứng. HS trong nhóm thực nghiệm tự đánh giá cao hơn về khả năng "lập kế hoạch học tập", "tự nhận ra và điều chỉnh sai sót", và "rút kinh nghiệm cho cách học". Đây là những bằng chứng xác thực về thành công của mô hình hướng dẫn tự học Hóa học 11 này.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học bộ câu hỏi định hướng chương nito

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị Luận đƣợc trình bày nội dung trong 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Xây dựng và tổ chức dạy học bộ câu hỏi định hƣớng bài học chƣơng nito – photpho nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh. Thực nghiệm sƣ phạm.

4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước 1. Các công trình nghiên cứu về tự học, năng lực tự học Trong lịch sử giáo dục đã có nhiều nhà nghiên cứu về tự học, ở từng giai đoạn tự học đƣợc đề cập dƣới các góc độ và hình thức khác nhau.

Thời cổ đại, Khổng Tử cho rằng: Trong dạy học phải biết phát huy tính tích cực của ngƣời học, đòi hỏi ngƣời học phải năng động, biết kết hợp học tập với suy nghĩ và biết phát huy khả năng TH trong quá trình học tập của bản thân. Đầu thế kỉ XIX, nhà giáo dục Mỹ John Dewey cho rằng: Tự học là việc HS chủ động và tích cực hoạt động để hiểu biết tri thức nhƣng vẫn tƣơng tác với GV. Trong quá trình dạy học, GV không chỉ trực tiếp giảng bài mà còn phải là ngƣời hƣớng dẫn, tổ chức, hỗ trợ, quan sát các biểu hiện nhận thức của HS trong quá trình học tập. Gần cuối của thế kỉ XX, R.

Retzke đã chủ biên cuốn sách “Học tập hợp lí” [22] với nội dung nhấn mạnh một trong những vai trò của quá trình học tập là làm phát triển con ngƣời. Và để hoàn thành nhiệm vụ học tập đạt kết quả đòi hỏi ngƣời học phải đấu tranh với bản thân và với tập thể một cách sáng tạo. Sharma và Shakti R.Ahmed trong tác phẩm “Phương pháp dạy học ở đại học” [23] đã nghiên cứu HĐTH nhƣ một PPDH hiệu quả - phƣơng pháp tự học (TH). Theo các tác giả, việc đầu tiên GV phải lồng ghép phƣơng pháp này vào công việc của chính mình, sau đó phải tìm ra đƣợc phƣơng thức hoạt động khuyến khích HS của mình TH.

Nhƣ vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục thế giới về TH, tôi nhận thấy: TH có ảnh hƣởng rất to lớn là yếu tố quyết định nâng cao chất lƣợng học tập. Các công trình nghiên cứu về câu hỏi dạy học, câu hỏi định hướng bài học Theo Geoff Petty trong tác phẩm “Dạy học ngày nay” [21] đã khẳng định dạy học muốn đạt hiệu quả phải đặt cho HS những hoạt động thử thách để họ áp dụng và kiểm tra việc học của họ. Các yếu tố quyết định đến chất lƣợng học tập của ngƣời học là hành động học tập của ngƣời học có mục tiêu rõ ràng và có phản hồi về thông tin của ngƣời học. Và ông cũng đã chứng minh rằng phƣơng pháp học tập tích cực sẽ giúp cải thiện thành tích của HS.

Các nghiên cứu trong nước 1. Các công trình nghiên cứu về tự học, năng lực tự học Hoạt động tự học (HĐTH) ở Việt Nam đƣợc chú ý từ thời phong kiến khi mà giáo dục còn chƣa phát triển. NLTH đƣợc minh chứng bởi các cá nhân kiệt xuất, tự học thành tài. Trƣớc đây, khi nền giáo dục nƣớc ta còn hạn chế thì vấn đề tự học, NLTH vẫn chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu.

Từ những năm 90 của thế kỉ XX những nghiên cứu về tự học, NLTH đã đƣợc nhiều tác giả đề cập. Tác giả Trịnh Quốc Lập với bài viết: “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam” [12] đã khảo sát và kết luận các hoạt động học tập nên đƣợc thiết kế theo hƣớng tăng cƣờng năng lực tự học của ngƣời học, tức là dựa trên nguyên lí ngƣời học tự điều chỉnh học tập của chính mình qua việc đề ra kế hoạch học tập, thực hiện và điều chỉnh kế hoạch học tập và sau cùng là đánh giá kết quả và tiến trình học tập của chính mình. Trong chƣơng trình “giáo dục phổ thông tổng thể” [6] của Bộ Giáo Dục đã xác định: NLTH là một trong những năng lực chung cần đƣợc hình thành và phát triển cho HS trung học phổ thông (THPT). Do vậy hình thành và phát triển năng lực tự học (NLTH) cho HS là một yêu cầu quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng dạy học.

Tác giả Vƣơng Cẩm Hƣơng với bài viết “Thiết kế hoạt động tự học theo chuyên đề môn Hóa học nhằm phát triển năng lực tự học cho HS THPT” [9] đã khẳng định: “Năng lực tự học là khả năng tự suy nghĩ, hoạt động dựa trên sự phối hợp giữa kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học để thực hiện có hiệu quả các hoạt động học tập”. Tác giả Lê Phú Thắng trong bài viết: “Xây dựng khái niệm Tự học trên cơ sở kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lí giáo dục thế giới và trong nước” [17] đã khẳng định: “Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân người học”. Nhƣ vậy những nghiên cứu trong nƣớc đã chung một quan điểm đó là tự học là một quá trình học tập độc lập của ngƣời học. Đồng thời các tác giả cũng đã liệt kê các biểu hiện của năng lực tự học nhƣ: Xác định đƣợc nhiệm vụ học tập, đánh giá và điều chỉnh đƣợc kế hoạch học tập, tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót.

Tự học có vai trò quan trọng, nó là yếu tố quyết định đến chất lƣợng học tập. Các công trình nghiên cứu về câu hỏi dạy học, câu hỏi định hướng bài học Câu hỏi dạy học và bộ câu hỏi định hƣớng bài học là một đề tài còn mới, chƣa đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều. Tác giả Lê Phƣớc Lộc với bài viết: “Câu hỏi và việc sử dụng câu hỏi trong dạy học” [13] đã khẳng định trong quá trình dạy học ngƣời giáo viên phải sử dụng câu hỏi dạy học một cách gƣơng mẫu, có khoa học, vừa để tổ chức dạy học tốt, vừa để dạy cho HS cách sử dụng câu hỏi cho việc nhận thức kiến thức. Đề tài của tác giả Nguyễn Bá Phƣớc: “Thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng chương đại cương kim loại Hóa học lớp 12 trung học phổ thông” [15] và tác giả Hoàng Văn Quang với đề tài “Thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi định hướng bài học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng phần dẫn xuất hiđrocacbon Hóa học lớp 11 trung học phổ thông” [16] đã thiết kế và sử dụng bộ câu hỏi định hƣớng bài học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng nhằm tích cực hóa hoạt động ngƣời học góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy học (PPDH) Hóa học ở trƣờng phổ thông.

Các tác giả đều nhận thấy vai trò quan trọng của BCHĐHBH trong việc tổ chức HĐTH cho HS, giúp HS đƣợc tham gia vào HĐTH. Sử dụng bộ câu hỏi định hƣớng bài học chính là một trong những biện pháp đổi mới PPDH nhằm phát triển NLTH cho HS, đặc biệt là NLTH. Nhƣ vậy, trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc về TH, phát triển NLTH, tôi nhận thấy để phát triển năng lực tự học cho HS, GV cần thay đổi phƣơng pháp giảng dạy, xây dựng kế hoạch dạy học (KHDH) phù hợp và có sử dụng PPDH tích cực trong giảng dạy, tạo không gian và thời gian cho HS đƣợc tham gia vào hoạt động TH, tạo cơ hội cho ngƣời học đƣợc hành động và có nhận xét, đánh giá, phản hồi thông tin cho ngƣời học. Do đó, để tạo cơ hội hành động cho HS và để HS đƣợc hoạt động tích cực, tôi đã chọn hƣớng nghiên cứu với đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học bộ câu hỏi định hướng bài học chương nito – photpho, Hóa học 11”.

Đặc thù đào tạo của các trƣờng phổ thông dân tộc nội trú 1. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú Hệ thống trƣờng phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) đƣợc quy định tại Điều 4 Quy chế tổ chức và hoạt động của trƣờng phổ thông dân tộc nội trú ban hành kèm theo Thông tƣ 01/2016/TT-BGDĐT bao gồm: “Trường PTDTNT cấp huyện đào tạo cấp trung học cơ sở (THCS) được thành lập tại các huyện miền núi, hải đảo, vùng 7 dân tộc và Trường PTDTNT cấp tỉnh đào tạo cấp trung học phổ thông (THPT) được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương” [4]. Mục tiêu, vai trò, tính chất của trường phổ thông dân tộc nội trú Mục tiêu, vai trò, tính chất của trƣờng PTDTNT đƣợc quy định tại Điều 2 Quy chế tổ chức và hoạt động của trƣờng phổ thông dân tộc nội trú ban hành kèm theo Thông tƣ 01/2016/TT-BGDĐT nhƣ sau: “Trường phổ thông dân tộc nội trú được Nhà nước thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này. Trường phổ thông dân tộc nội trú có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số.

Trường phổ thông dân tộc nội trú là loại hình trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú” [4]. Chính sách ưu tiên đối với trường phổ thông dân tộc nội trú Chính sách ƣu tiên đối với trƣờng PTDTNT đƣợc quy định tại Điều 7 Quy chế tổ chức và hoạt động của trƣờng phổ thông dân tộc nội trú ban hành kèm theo Thông tƣ 01/2016/TT-BGDĐT nhƣ sau: “Trường phổ thông dân tộc nội trú được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, bố trí giáo viên, nhân viên và ngân sách để đảm bảo thực hiện chương trình, nội dung giáo dục và các nội dung giáo dục đặc thù, việc dạy học, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục học sinh. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường phổ thông dân tộc nội trú được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước ” [4]. Nhiệm vụ của trường phổ thông dân tộc nội trú Các nhiệm vụ của trƣờng PTDTNT đƣợc quy định tại Điều 3 Quy chế tổ chức và hoạt động của trƣờng phổ thông dân tộc nội trú ban hành kèm theo Thông tƣ 01/2016/TT-BGDĐT nhƣ sau: “Tuyển sinh đúng đối tượng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao hằng năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ