CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THEO TIẾP CẬN DẠY HỌC TÍCH CỰC 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu của đề tài 1.1 Trên thế giới Có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề tự học từ cổ đại tới hiện đại như: Không Tử (551-479 TCN); Socrate (469-399 TCN); Comenxky; JJ.D Usinxki (1824-1890); … Phần lớn các nghiên cứu tự học này là một phần trong các tác phẩm của các nhà hiền triết và nhà giáo dục. Từ cuối thể kỉ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật đã tạo ra áp lực đòi hỏi phải gia tăng năng suất lao động; cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tri thức của nhân loại không ngừng tăng lên mạnh mẽ. Chính vì vậy việc giảng dạy theo kiểu thầy truyền đạt tri thức tới người học không còn khả dụng.
Thầy giáo bây giờ phải đóng vai người tổ chức, hướng dẫn học sinh cách học hiệu quả. Điển hình cho nghiên cứu này là Raja Roy Singh [25], ông đã nghiên cứu vai trò tự học của học sinh và đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người học. Hay nói các khác, nhiệm vụ của nền giáo dục không phải là trang bị cho người học thật nhiều tri thức mà cần hình thành và phát triển cho người học có năng lực tự học, tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong một xã hội biến động không ngừng. Thuật ngữ năng lực được ra đời cùng với xu hướng giáo dục – đào tạo theo năng lực tại Mỹ vào thập niên 1970.
Năng lực tự học tiếp tục được nghiên cứu, mô tả cùng với sự ra đời Các mô hình năng lực (Khung năng lực) từ cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XIX như: Anh và xứ Wales có Khung năng lực Hệ thống chất lượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp (NVQs); New Zealand ban hành Khung năng lực chất lượng về đào tạo nghề nghiệp (NQFs); Australia ban hành Tiêu chuẩn năng lực đào tạo ở (NTB); Hội đồng thư kí Mỹ ban hành Những kỹ năng cần thiết phải đạt được (SCANS) và Những tiêu chuẩn kĩ năng quốc gia (NSS, các bộ năng lực này được coi là 8 các bộ năng lực kinh điển [138], [139]. Nổi bật hơn cả là mô hình năng lực SCANS của Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được (Mỹ). Ở đó, người ta đưa ra 5 nhóm năng lực cần thiết mà người lao động thế kỷ 21 phải có và nhà trường phải tạo ra chúng ở người học bao gồm: nguồn lực (gồm năng lực xác định, tổ chức, lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực như thời gian, tiền bạc, nguyên vật liệu và phương tiện, nguồn nhân lực), hợp tác, khai thác và sử dụng thông tin, thông hiểu những mối quan hệ nội tại, làm việc trong môi trường đa dạng về kỹ thuật. Để hình thành được 5 nhóm năng lực này nhất thiết phải đạt được 3 nhóm kỹ năng cơ bản là: các kỹ năng cơ bản (đọc, viết, số học và toán học, nói nghe), kỹ năng tư duy (tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhìn thấy trước vấn đề, biết cách học và có lý lẽ) và phẩm chất cá nhân (trách nhiệm cá nhân, lòng tự trọng, hòa đồng, tự quản, chính trực).
Năng lực tự học được đề cập đến như một nguồn lực cần phải có ở mỗi người học, người học phải thành thạo việc xác định, tổ chức, lên kế hoạch, phân bổ thời gian và tiền bạc,…Cùng với đó, năng lực tự học còn được đánh giá thông qua các kĩ năng tư duy như: nhìn thấy trước vấn đề, biết cách học. Các nghiên cứu về năng lực tự học của Rudolf Tippelt (2003) [125] ở Trường Đại học Lugwig Maximilian, Munich (Đức) trong tác phẩm “Competency - based training”, nghiên cứu sự thay đổi quan trọng đang diễn ra trong những năm gần đây trong lĩnh vực đào tạo hướng nghiệp thích ứng với nhu cầu của thị trường lao động và hệ thống việc làm. Tác giả cũng chỉ rõ phải hình thành cho người học năng lực tự học trước khi rời trường học để họ có thể học tập suốt đời, đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của xã hội. Điều này phù hợp với bốn trụ cột giáo dục trong thế kỉ XXI mà UNESCO đưa ra.
Nghiên cứu của Theodore C. Smith [136], muốn học từ xa thành công thì phải hình thành được các năng lực tự học, tự nghiên cứu. Tác giả đưa ra đến 51 năng lực được cho là có tầm quan trọng hàng đầu của trước, trong và sau khóa học dành cho dạy và học từ xa. Các chương trình học lấy người học làm trung tâm và giảng viên thực sự có năng lực dạy là hai chìa khóa quan trọng dẫn đến thành công trong việc GD ở đại học.
Trong 51 năng lực có đề cập đến năng lực đáp ứng việc học suốt đời, sinh viên phải hình thành và sử dụng chính xác kĩ thuật thích hợp trên cơ sở xác 9 định điểm mạnh của bản thân và sử dụng công nghệ thông tin trong học tập. Các nghiên cứu về việc tối ưu hóa năng lực người học, năng lực đáp ứng với yêu cầu đào tạo và nghề nghiệp đã có từ lâu. Các nghiên cứu về năng lực tự học chỉ là một phần nhỏ trong các bộ tiêu chuẩn năng lực, trong các yêu cầu tiêu chuẩn nghề nghiệp của xã hội đối với sinh viên. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, cùng với sự phát triển rất mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và ứng dụng rất nhanh các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào đời sống nói chung và GD nói riêng, các quan điểm tự học cũng bị chi phối.
Công nghệ DH ra đời đã làm thay đổi mạnh mẽ vai trò của người thầy. Người dạy từ việc truyền đạt kiến thức, chuyển sang đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn cho người học cách học đạt hiệu quả. Các nhà giáo dục đã tiến hành nghiên cứu về tự học theo hai hướng chính: Thứ nhất, các nghiên cứu thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học dựa vào ứng dụng công nghệ vào dạy học. Theo hướng này, người giáo viên từ vị trí là chuyên gia dạy sẽ chuyển sang là chuyên gia, cố vấn về việc học cho người học.
Thứ hai, các nghiên cứu cách thức phân hóa trong dạy học, tiến trình dạy được tiến hành theo nhịp độ phát triển theo cá nhân, từ đó nhằm đạt tới hiệu quả học tập tốt nhất. Các nghiên cứu tiêu biểu cho trường phái này gồm: G.Sharma và Shakti R. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu về tự học và năng lực tự học đang tập trung nghiên cứu về các thành thành tố của năng lực tự học tiêu biểu như của: Anthony, 1994 [50]; Boekaerts, 1997 [62]; Carr, 1996 [65]; Malone & Smith, 1996; Schunk và Zimmerman, 1996 [130]; Schwartz và Bransford, 1998 [131]; Birenbaum, 2002 [58]; Weiss, 2004 [145]; Taggart (2005) [134]; Bullock & Muschamp, 2006 [64]; Bishop, 2006 [59]. Các học giả này chỉ ra rằng năng lực tự học quyết định bởi ba yếu tố bên trong gồm: (1) Một số kỹ năng nhận thức cơ bản, như trí nhớ, sự chú ý, giải quyết vấn đề và sáng tạo; (2) Về các kỹ năng siêu nhận thức cần thiết cho việc học độc lập; (3) Các kỹ năng tình cảm.
Trong đó quan trọng 10 nhất là kỹ năng tình cảm, thường được coi là động lực đối với việc học độc lập. Các thành tố này sẽ được làm rõ ở trong mục tiếp theo của luận án. Gần đây nhất, tại đại học York, Hoa Kỳ công bố công trình nghiên cứu về năng lực tự học của sinh viên, ảnh hưởng của năng lực tự học tới khả năng học tập của sinh viên do Mutlu Cukurova, 2014 nghiên cứu [114]. Như vậy, qua các nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục thế giới về năng lực tự học và phát triển năng lực tự học chúng tôi nhận thấy: năng lực tự học có một ý nghĩa vô cùng cần thiết, ảnh hưởng to lớn và trực tiếp tới việc học của người học, đặc biệt năng lực tự học là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại.
Các nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cũng đưa ra nhiều cách thức để phát triển năng lực tự học, nhưng cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thì việc đưa những ứng dụng của khoa học công nghệ mà đặc biệt là công nghệ thông tin vào phát triển năng lực tự học được coi là một hướng đi hợp lý và ý nghĩa trong xã hội hiện đại. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về tự học chủ yếu nằm trong các công trình nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp nào đó mà ít có công trình nghiên cứu riêng biệt về năng lực tự học và phát triển năng lực tự học. Trong nước Các nghiên cứu về năng lực tự học ở Việt Nam chỉ mới được khai phá trong khoảng 10 năm trở lại đây như: Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, THPT [2]. Thông tư đã quy định 05 tiêu chuẩn với 15 tiêu chí chuẩn nghề nghiệp giáo trung học và hướng dẫn cách đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn.
Một trong những mức độ đánh giá năng lực nghề nghiệp là bắt buộc phải có năng lực tự học. Đây là căn cứ pháp lí quan trọng để xây dựng mô hình năng lực tự học cho sinh viên trong các trường ĐHSP. Trong trường ĐHSP Hà Nội, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng NLTH là một phần của năng lực sư phạm như nghiên cứu của Vũ Thị Sơn về “Xác định chuẩn nghề nghiệp đối với sinh viên tốt nghiệp ĐHSP Hà Nội” [27]; nghiên cứu của 11 Nguyễn Thị Kim Dung về “Xác định những yêu cầu sư phạm đối với sinh viên tốt nghiệp nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông hiện nay” [7]. Nghiên cứu của Phan Thị Hồng Vinh và Nguyễn Đức Giang (2012) đưa ra hệ thống tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá năng lực tự học theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện và quy trình tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên sư phạm trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ [42].
Hai tác giả đã đưa ra 7 tiêu chuẩn với 37 tiêu chí đánh giá năng lực tự học của sinh viên sư phạm. Đồng thời hai tác giả phát triển quy trình tổ chức tự học gồm hai bước nhằm tổ chức phát triển tự học cho sinh viên.