Tổng quan luận án

Đổi mới giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước xác định là nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển bền vững của quốc gia. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đào tạo đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cá nhân của người học, áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, chú trọng rèn luyện phương pháp tự học. Trong bối cảnh các trường Cao đẳng Y tế chuyển dịch từ hình thức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ, thời lượng lên lớp của học phần Hoá học Đại cương Vô cơ giảm xuống chỉ còn khoảng 70% so với trước đây. Sự cắt giảm này tạo ra mâu thuẫn lớn giữa quỹ thời gian hạn hẹp trên giảng đường và khối lượng kiến thức đồ sộ mang tính nguyên lý, nền tảng của môn học cơ sở ngành. Thực trạng dạy học học phần Hoá học Đại cương Vô cơ tại các trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ vẫn nặng về tiếp cận nội dung; giáo trình thiên về trang bị lý thuyết hàn lâm; giảng viên ít giao nhiệm vụ và chưa hướng dẫn quy trình tự học cụ thể; phần lớn sinh viên học tập thụ động, thiếu kĩ năng tự học, lúng túng trong việc tìm kiếm và xử lý tài liệu, chủ yếu học thuộc lòng trước kì thi. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh viên là một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn đào tạo.

Về khoảng trống nghiên cứu, mặc dù các nghiên cứu về tự học và phát triển năng lực tự học đã được thực hiện ở nhiều bậc học, song chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về việc phát triển năng lực tự học cho sinh viên thông qua dạy học học phần Hoá học Đại cương Vô cơ tại khối các trường Cao đẳng Y tế, đặc biệt là tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù như khu vực Tây Nam Bộ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển năng lực tự học học phần Hoá học Đại cương Vô cơ cho sinh viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ.

Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề tự học, năng lực, năng lực tự học, tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên và một số phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực tự học ở trường Cao đẳng Y tế.
  2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về thực trạng phát triển năng lực tự học cho sinh viên trong dạy học học phần Hoá học Đại cương Vô cơ ở trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ.
  3. Nghiên cứu, đề xuất cấu trúc năng lực tự học; xác định quy trình hoạt động tự học và xây dựng bộ công cụ, tiêu chí kiểm tra đánh giá năng lực tự học cho sinh viên ngành Y tế.
  4. Phân tích cấu trúc, nội dung chương trình Hoá học Đại cương Vô cơ ở trường Cao đẳng Y tế.
  5. Đề xuất biện pháp sử dụng trong quá trình tổ chức hoạt động tự học phát triển năng lực tự học học phần Hoá học Đại cương Vô cơ: dạy học theo dự án và dạy học thí nghiệm theo Spickler.
  6. Thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết đề tài.

Giả thuyết khoa học được xác định: Nếu vận dụng dạy học theo dự án và dạy học thí nghiệm theo Spickler trong dạy học học phần Hoá học Đại cương Vô cơ một cách khoa học thì sẽ phát triển được năng lực tự học cho sinh viên và góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hoá học Đại cương Vô cơ ở trường Cao đẳng Y tế trong giai đoạn hiện nay theo định hướng phát triển năng lực.

Khách thể nghiên cứu của luận án là quá trình tổ chức dạy học học phần Hoá học Đại cương Vô cơ cho sinh viên ở trường Cao đẳng Y tế theo hướng phát triển năng lực tự học. Đối tượng nghiên cứu là năng lực tự học của sinh viên và hai biện pháp để phát triển năng lực tự học cho sinh viên ở trường Cao đẳng Y tế.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm: chương trình học phần Hoá học Đại cương Vô cơ ở trường Cao đẳng Y tế; năng lực tự học của sinh viên trong học phần này; địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm tại 6 trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ; thời gian nghiên cứu diễn ra từ tháng 11/2016 đến tháng 5/2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học trên thế giới từ thời cổ đại đến hiện đại:

  • Thời cổ đại, ở phương Tây, Heraclitus (530 - 475 TCN) khẳng định bản chất dạy học là thắp lên ngọn đuốc để người học tự nhận ra con đường và tự bước đi; Aristote (384 - 322 TCN) sử dụng câu hỏi để người học tự tìm ra chân lý và tự nhận ra chính mình. Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN) coi trọng việc tự tìm hiểu của học trò và yêu cầu tính tích cực chủ động ("Vật có 4 góc, dạy cho biết một góc mà không biết suy ra ba góc kia thì không dạy nữa").
  • Thời kì cận đại, J.A. Comenxki (1592 - 1670) khẳng định người thầy cần đưa ra các bài tập nghiên cứu để thúc đẩy người học tự đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời; John Dewey (1859 - 1952) khởi xướng quan điểm "Học bằng cách làm" (Learning by doing); A.S. Makarenko (1888 - 1939) nhấn mạnh giảng viên là người tổ chức, thiết kế và giao bài tập tình huống có vấn đề để kích thích người học độc lập tìm tòi; Piskunov và Okon chỉ ra kĩ năng lập kế hoạch và kĩ năng đọc sách là nòng cốt của tự học; Robert Fisher xác định người học thành công cần nắm vững các kĩ năng tư duy, lập kế hoạch, thảo luận và sơ đồ nhận thức.
  • Nền giáo dục hiện đại, Tsunesaburo Makiguchi (Nhật Bản) trong tác phẩm "Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo" nhấn mạnh động lực giáo dục là kích thích người học sáng tạo giá trị; Singh (Ấn Độ) xem quá trình nhận biết là người học tự giác nhận ra tiềm năng bản thân; Retxke (Đức) nghiên cứu tính độc lập và sáng tạo trong tự học đại học; Malcolm Shepherd Knowles định nghĩa tự học là quá trình tự thân xác định mục tiêu, thu thập tài liệu và đánh giá kết quả; Susan A. Turner (2010) đề xuất quy trình dạy tự học thông qua 6 yếu tố thiết kế chủ đề học tập; Spickler và cộng sự (1984) công bố công trình nghiên cứu khảo sát nhiệm vụ thí nghiệm trong các môn khoa học bậc đại học nhằm chuyển đổi từ thí nghiệm chứng minh sang thí nghiệm nghiên cứu.

Tại Việt Nam, qua các giai đoạn lịch sử:

  • Thời kì phong kiến và thuộc Pháp, giáo dục mang tính chất tầm chương trích cú, học vẹt, sao chép máy móc theo nhận xét của Roger Gal.
  • Từ thập niên 1990, các chuyên gia giáo dục học đã xây dựng cơ sở lí luận vững chắc: Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự ("Quá trình dạy tự học", "Học và dạy cách học") đề xuất quy trình dạy tự học gồm 3 giai đoạn: Nghiên cứu tác nhân, Hợp tác, Tự kiểm tra và tự điều chỉnh; Thái Duy Tuyên nghiên cứu bản chất tự học gồm quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp và đề xuất quy trình tổ chức hoạt động tự học 3 bước; Nguyễn Quang Uẩn và Trần Quốc Thành chia kĩ năng tự học thành 4 nhóm: Định hướng, Lập kế hoạch, Thực hiện kế hoạch, Kiểm tra đánh giá; Đinh Quang Báo xác định phương pháp dạy đọc sách là cốt lõi của tự học đại học; Trần Bá Hoành khẳng định rèn luyện kĩ năng tự học giúp người học tự lực phát hiện và giải quyết vấn đề thực tiễn; Phạm Trung Thanh thiết lập mô hình học tập và nghiên cứu của sinh viên; Trịnh Quang Từ chỉ ra 3 hướng tổ chức hoạt động tự học; Nguyễn Thị Tính nghiên cứu biện pháp tổ chức hoạt động tự học môn Giáo dục học; Nguyễn Đức Thành đổi mới bài lên lớp lí thuyết theo hướng dạy tự học.
  • Trong lĩnh vực dạy học Hoá học: Đặng Thị Oanh, Dương Huy Cẩn, Nguyễn Thị Ngà, Nguyễn Thị Kim Ánh (2008) nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học cao đẳng, đại học tăng cường năng lực tự học; Dương Huy Cẩn (2009) bảo vệ luận án tiến sĩ về tăng cường năng lực tự học môn Hoá học bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo mô đun; Nguyễn Thị Nguyệt (2016) nghiên cứu phát triển năng lực tự học cho sinh viên qua thiết kế bài giảng điện tử và e-book; Nguyễn Thị Thanh (2016) vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Hoá học 10 nâng cao để phát triển năng lực tự học.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào đối tượng học sinh phổ thông hoặc sinh viên đại học sư phạm, sử dụng tài liệu mô đun hoặc công cụ điện tử. Chưa có công trình nào đi sâu giải quyết vấn đề phát triển năng lực tự học trong học phần Hoá học Đại cương Vô cơ cho sinh viên khối Cao đẳng Y tế – đối tượng đào tạo nghề nghiệp thực hành với chuẩn đầu ra gắn liền với các kĩ năng kiểm nghiệm, pha chế và phân tích dược học. Luận án xác định vị trí của mình là cầu nối lấp đầy khoảng trống này bằng cách kết hợp dạy học theo dự án và dạy học thí nghiệm theo Spickler.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lí luận dựa trên hệ thống các khái niệm và mô hình khoa học:

  • Tự học được tác giả định nghĩa là quá trình tự giác một cách tích cực của người học nhằm tự thực hiện các hoạt động học tập (tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra); trong tiến trình đó có thể không cần hoặc cần sự hỗ trợ của người khác (với vai trò trọng tài, tổ chức, hướng dẫn). Hoạt động tự học được phân chia thành tự học không có hướng dẫn và tự học có hướng dẫn.
  • Cơ sở khoa học của tự học bao gồm: cơ sở triết học về quy luật nhận thức duy vật biện chứng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và đến thực tiễn; cơ sở sinh lí học thần kinh cấp cao về quá trình truyền tín hiệu và hình thành khái niệm ở các vùng phân tích của vỏ não; cơ sở tâm lí học nhận thức của J. Piaget về sự phát triển các sơ đồ nhận thức; và cơ sở lí luận dạy học đại học dựa trên mô hình POWER của Robert Feldman (Prepare, Organize, Work, Evaluate, Rethink/Recreate) được tác giả hoàn thiện bằng việc bổ sung giai đoạn vận dụng kiến thức vào các dự án học tập và đời sống.
  • Năng lực được luận án định nghĩa là khả năng vận dụng một cách hợp lí hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện thành công một công việc trong một bối cảnh nhất định. Cấu trúc năng lực hành động bao gồm 4 thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể (tương ứng với 4 trụ cột giáo dục của UNESCO). Luận án cũng vận dụng mô hình cấu trúc 7 thành tố của T. Lobanova và Yu. Shunin, khung phát triển năng lực 7 bước của Schneckenberg và Johannes Wildt, cùng khung năng lực thế kỉ XXI. Đối với sinh viên ngành Dược, năng lực được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ giữa chuẩn đầu ra và các môn học chuyên môn (bào chế, kiểm nghiệm, bảo quản, tư vấn, trình dược, tích hợp dược liệu, đảm bảo chất lượng).
  • Năng lực tự học của sinh viên được định nghĩa là khả năng sinh viên vận dụng linh hoạt, chủ động những kiến thức, kĩ năng hiện có để thực hiện thành công nhiệm vụ học tập bằng cách tự xây dựng kế hoạch học tập, thực hiện kế hoạch học tập và tự đánh giá, điều chỉnh quá trình học tập của bản thân nhằm đạt được mục tiêu học tập đề ra. Cấu trúc tổng thể của năng lực tự học gồm hai nhóm: nhóm năng lực trí tuệ (ý chí, thái độ, động cơ, hứng thú) và nhóm năng lực hành động (gồm 6 kĩ năng: tự xây dựng và thực hiện kế hoạch; tự làm việc với tài liệu; tự phát hiện và giải quyết vấn đề; tự ghi chép và thu thập thông tin; tự tìm kiếm tư liệu và khai thác phương tiện; tự kiểm tra, đánh giá, ôn tập và củng cố kiến thức).
  • Luận án ứng dụng hai lí thuyết học tập định hướng: Thuyết nhận thức (Cognitivism của J. Piaget) xem học tập là quá trình xử lý thông tin nội tại có cấu trúc; Thuyết kiến tạo (Constructivism của Brooks và Piaget) xem người học là chủ thể chủ động kiến tạo tri thức thông qua tương tác với môi trường theo chu trình: Câu hỏi của sinh viên $\rightarrow$ Khám phá $\rightarrow$ Phản ánh $\rightarrow$ Khảo sát cụ thể $\rightarrow$ Kiến tạo tri thức mới.
  • Về phương pháp dạy học cốt lõi: Dạy học theo dự án (Project Based Learning theo tư tưởng của Kilpatrick và Karl Frey) được triển khai qua 3 bước: Lập kế hoạch dự án (chọn chủ đề, lập kế hoạch bằng kĩ thuật 5WH); Thực hiện dự án (thu thập, xử lý thông tin, tổng hợp kết quả); Đánh giá dự án. Phương pháp dạy học thí nghiệm theo Spickler (1984) được lựa chọn nhằm thay thế lối dạy thực hành minh họa truyền thống, cho phép sinh viên tự vạch ra quy trình, tự chuẩn bị dụng cụ, tiến hành khảo sát và tự rút ra kết luận dưới sự giám sát của giảng viên.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu lí luận dạy học, các văn bản quy phạm pháp luật và chương trình đào tạo.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng bằng phiếu hỏi; phương pháp chuyên gia lấy ý kiến về khung cấu trúc năng lực và bộ công cụ đánh giá; phương pháp thực nghiệm sư phạm.
  • Nhóm phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu khảo sát và số liệu thực nghiệm thông qua các đại lượng thống kê: điểm trung bình ($\bar{X}$), kiểm định t-test độc lập, kiểm định t-test phụ thuộc, hệ số mức độ ảnh hưởng Effect Size (ES) theo tiêu chuẩn của Hopkins, bảng phân phối tần số, tần suất và đồ thị đường lũy tích.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: số liệu điều tra xã hội học giáo dục từ 24 giảng viên và 600 sinh viên tại 6 trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ trong thời gian từ ngày 01/09/2017 đến ngày 01/11/2017; các dữ liệu thực nghiệm sư phạm thu thập qua 2 vòng thực nghiệm tác động và thăm dò tại các trường thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho sinh viên

Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lí luận về tự học, năng lực tự học, các lí thuyết học tập nhận thức, kiến tạo, mô hình dạy học theo dự án và phương pháp thí nghiệm theo Spickler. Bên cạnh phần lí thuyết, trọng tâm của chương là báo cáo khảo sát thực trạng giáo dục tại khu vực Tây Nam Bộ.

Địa bàn Tây Nam Bộ gồm 12 tỉnh và 1 thành phố, tổng diện tích tự nhiên khoảng 360 nghìn $\text{km}^2$, dân số chiếm 18% cả nước với 4 dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Hoa, Khơme, Chăm). Đây là khu vực còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, tỷ lệ học sinh bỏ học cao (khoảng 20%), chất lượng giáo dục còn thấp so với mặt bằng chung.

Khảo sát thực trạng được tiến hành từ ngày 01/09/2017 đến ngày 01/11/2017 tại khoa Dược của 6 trường Cao đẳng Y tế trong khu vực:

Trường Giảng viên (người) Sinh viên (người) Ghi chú
Cao đẳng Y tế An Giang 4 80 2 lớp
Cao đẳng Y tế Đồng Tháp 4 140 4 lớp
Cao đẳng Y tế Bạc Liêu 4 140 4 lớp
Cao đẳng Y tế Cà Mau 4 70 2 lớp
Cao đẳng Y tế Kiên Giang 4 100 3 lớp
Cao đẳng Y tế Trà Vinh 4 70 2 lớp
Tổng cộng 24 600 17 lớp

Kết quả khảo sát đối với 24 giảng viên:

  • Khó khăn trong tổ chức tự học: 17 giảng viên (chiếm 70,8%) phản ánh không có đủ thời gian chuẩn bị kế hoạch dạy học theo hướng rèn kĩ năng tự học và quản lí tự học của sinh viên; 79,2% nhận định sinh viên chưa có tính tự giác học tập; 79,2% thừa nhận chưa xác định được đầy đủ năng lực tự học cần có để rèn luyện cho sinh viên cũng như lúng túng trong thiết kế giáo án.
  • Về phương pháp dạy học: 100% giảng viên sử dụng phương pháp thuyết trình; 75% thỉnh thoảng sử dụng dạy học theo dự án; 30% có hướng dẫn tự học theo sơ đồ tư duy; có tới 95,8% giảng viên hoàn toàn không sử dụng phương pháp dạy thí nghiệm theo hướng nghiên cứu Spickler.
  • Về nhận thức vai trò: 79,2% giảng viên đánh giá việc phát triển năng lực tự học có vai trò rất quan trọng và 16,7% đánh giá quan trọng.
  • Về công cụ đánh giá: 90% giảng viên chủ yếu sử dụng câu hỏi trắc nghiệm tự luận; các công cụ đánh giá quá trình bị bỏ ngỏ khi có tới 82% giảng viên không sử dụng phiếu đánh giá của giảng viên hoặc phiếu tự đánh giá của sinh viên.

Kết quả khảo sát đối với 600 sinh viên:

  • Nhận thức về tự học: 80% sinh viên hiểu tự học đơn thuần là học thuộc bài đã học trên lớp và hoàn thành yêu cầu do giảng viên đề ra; 51,6% đồng ý tự học là tự nghiên cứu mở rộng tri thức; 17,5% cho rằng tự học là học có hướng dẫn; chỉ có 26,3% nhận thức tự học là tự lập kế hoạch học tập và thực hiện kế hoạch đó.
  • Nhận thức ý nghĩa: 92,6% sinh viên đồng ý tự học giúp nắm vững, hiểu sâu kiến thức; tuy nhiên tỉ lệ nhận thức tự học giúp phát huy tính độc lập, sáng tạo chỉ đạt 44,7%; giúp phát hiện và giải quyết vấn đề đạt 44,2%; và giúp phát triển kĩ năng học suốt đời chỉ đạt 42,7%.
  • Quỹ thời gian dành cho tự học: 70% sinh viên chỉ dành trung bình từ 1 đến 2 giờ mỗi ngày cho việc tự học, mức thời gian này chỉ vừa đủ để xem lại bài giảng cũ mà không thể đào sâu hay nghiên cứu tài liệu mở rộng.
  • Mức độ thực hiện kĩ năng cơ bản: Kĩ năng ghi chép thông tin trong giờ học trên lớp có tỉ lệ thực hiện thường xuyên cao nhất với 81%; ngược lại, kĩ năng tóm tắt thông tin theo từng vấn đề chỉ đạt 21% thường xuyên; bổ sung tri thức sau khi đọc tài liệu đạt 29,5%; vận dụng lí thuyết vào thực tiễn đạt 29,5%; và tự kiểm tra đánh giá kết quả tự học chỉ đạt 20,8% thường xuyên.

Chương 2: Phát triển năng lực tự học cho sinh viên trong dạy học Hoá học Đại cương Vô cơ ở trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ

Trên cơ sở lí luận và dữ liệu thực trạng, Chương 2 thiết kế nội dung và các giải pháp sư phạm:

  • Phân tích chương trình Hoá học Đại cương Vô cơ: Đây là học phần cơ sở ngành vừa có tính lí thuyết vừa có tính thực nghiệm, giữ vai trò nền tảng để học tiếp các môn Hoá phân tích, Bào chế, Dược liệu, Dược lâm sàng và Kiểm nghiệm thuốc. Việc chuyển sang học chế tín chỉ làm giảm thời lượng tiếp xúc trực tiếp trên lớp xuống 70%, đòi hỏi việc tổ chức dạy học phải chuyển hướng sang phát triển năng lực tự học.
  • Xây dựng cấu trúc năng lực tự học cho sinh viên Cao đẳng Y tế: Tác giả xác lập quy trình 5 bước xây dựng khung năng lực, xác định cấu trúc gồm 3 năng lực thành phần và 8 tiêu chí hành vi cụ thể:
    1. Năng lực lập kế hoạch tự học: gồm tiêu chí xác định mục tiêu học tập và tiêu chí xây dựng kế hoạch tự học cá nhân/nhóm.
    2. Năng lực thực hiện kế hoạch tự học: gồm tiêu chí thu thập và xử lý thông tin từ tài liệu; tiêu chí phát hiện và giải quyết vấn đề học tập; tiêu chí thực hiện các thao tác tư duy và kĩ năng thực hành thí nghiệm; tiêu chí hợp tác và trao đổi thông tin.
    3. Năng lực đánh giá và điều chỉnh tự học: gồm tiêu chí tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập; tiêu chí tự điều chỉnh phương pháp và kế hoạch học tập. Luận án xây dựng bảng mô tả chi tiết các mức độ biểu hiện cho từng tiêu chí.
  • Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực tự học: Luận án thiết kế đồng bộ các công cụ đo lường gồm bảng kiểm quan sát năng lực tự học dành cho giảng viên, phiếu đánh giá năng lực tự học theo nhóm sinh viên, phiếu tổng hợp kết quả đánh giá trong lớp, phiếu tự đánh giá của sinh viên, ma trận đề kiểm tra và bài kiểm tra đặc biệt.
  • Xác định nguyên tắc và quy trình: Đảm bảo mục tiêu học phần, đảm bảo tính kế thừa nội dung kiến thức, xây dựng quy trình 4 giai đoạn tổ chức hoạt động tự học (chuẩn bị, định hướng, thực hiện nhiệm vụ, tổng kết và đánh giá).
  • Đề xuất 2 biện pháp sư phạm cụ thể:
    1. Biện pháp 1: Dạy học theo dự án trong dạy học Hoá học Đại cương Vô cơ. Tác giả thiết kế các dự án học tập gắn liền với thực tiễn y dược (như đề tài ô nhiễm môi trường không khí, vai trò của các kim loại trong y dược, tác động sinh học của ozon trong nha khoa...). Mỗi dự án được vận hành qua 3 giai đoạn: Lập kế hoạch (xác định chủ đề, phân nhóm, vận dụng kĩ thuật 5WH); Thực hiện kế hoạch (thu thập tài liệu, làm thí nghiệm, thảo luận, xử lý thông tin, chuẩn bị sản phẩm báo cáo); Đánh giá dự án (tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và giảng viên kết luận).
    2. Biện pháp 2: Dạy học thí nghiệm theo Spickler. Chuyển đổi căn bản so với cách dạy truyền thống:
Nội dung Thí nghiệm truyền thống Thí nghiệm Spickler
Loại thí nghiệm Thí nghiệm chứng minh, cung cấp cho sinh viên qua tài liệu. Thí nghiệm nghiên cứu, cho sinh viên tự khảo sát theo hướng dẫn của giảng viên.
Mục tiêu Sinh viên kiểm tra lại các nguyên lí, quá trình, hiện tượng đã được học trên lớp. Sinh viên tự vạch ra các bước tiến hành thí nghiệm, tự thu thập số liệu, phân tích và rút ra kết luận.
Quá trình học tập Tuân theo các bước cho sẵn trong tài liệu; giảng viên giảng trước khi làm. Quá trình tự tìm tòi, khám phá; giảng viên hướng dẫn sinh viên tự nhận xét, đánh giá và củng cố kiến thức.
Kết quả Sinh viên làm theo hướng dẫn thụ động; khoảng 50% sinh viên đạt yêu cầu. Sinh viên chủ động, biết cách khám phá; 100% sinh viên hoàn thành tốt thí nghiệm.

Tiến trình thí nghiệm Spickler được vận hành qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chuẩn bị (giảng viên nêu nguyên tắc, giao nhiệm vụ; sinh viên tự tìm tài liệu và đề xuất phương án tiến hành); Giai đoạn 2: Thực hiện (sinh viên tự tiến hành thao tác thí nghiệm, quan sát hiện tượng, ghi chép số liệu, xử lý kết quả dưới sự giám sát an toàn của giảng viên); Giai đoạn 3: Báo cáo và thảo luận (sinh viên giải thích kết quả, đối chiếu giả thuyết ban đầu, tự đánh giá và giảng viên nhận xét).

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc tổ chức, phương pháp xử lý dữ liệu và kết quả thực nghiệm sư phạm:

  • Khái quát thực nghiệm: Thực nghiệm được tổ chức nhằm kiểm nghiệm tính đúng đắn của giả thuyết khoa học và tính hiệu quả, khả thi của 2 biện pháp dạy học đã đề xuất. Nhiệm vụ thực nghiệm là triển khai giáo án dạy học theo dự án và các bài thí nghiệm nghiên cứu theo Spickler tại các lớp thực nghiệm (TN), so sánh đối chứng với các lớp dạy học thông thường (ĐC).
  • Đối tượng và địa bàn: Tiến hành tại các trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ. Các cặp lớp TN và ĐC được lựa chọn tương đương nhau về sĩ số, trình độ đầu vào và điều kiện học tập.
  • Tiến trình thực nghiệm: Chia thành hai giai đoạn:
    1. Thực nghiệm thăm dò: Nhằm điều chỉnh nội dung các bài giảng dự án, phiếu hướng dẫn thí nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ đánh giá.
    2. Thực nghiệm tác động: Triển khai theo 2 vòng thực nghiệm độc lập cho Biện pháp 1 (dạy học theo dự án) và Biện pháp 2 (thí nghiệm theo Spickler).
  • Phương pháp xử lý kết quả:
    • Thống kê mô tả: Lập bảng phân phối tần số, bảng phân phối tần suất, bảng phân phối tần suất tích lũy lũy tích.
    • Thống kê suy luận: Sử dụng kiểm định t-test độc lập để so sánh điểm số giữa lớp TN và ĐC; kiểm định t-test phụ thuộc để so sánh sự tiến bộ của lớp TN qua các giai đoạn; tính toán hệ số mức độ ảnh hưởng Effect Size (ES) và so sánh theo thang phân loại mức độ ảnh hưởng của Hopkins.
  • Kết quả thực nghiệm:
    • Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra của các lớp thực nghiệm ở cả hai vòng thực nghiệm luôn nằm lệch về bên phải so với đồ thị của các lớp đối chứng, chứng minh tỉ lệ sinh viên đạt điểm khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm cao hơn rõ rệt nhóm đối chứng.
    • Phân tích năng lực tự học qua 3 dự án (DA1, DA2, DA3) ở cả Vòng 1 và Vòng 2 cho thấy điểm đánh giá các tiêu chí năng lực tự học của lớp TN tăng trưởng liên tục qua từng dự án, vượt trội so với lớp ĐC.
    • Phân tích năng lực tự học qua 3 bài thí nghiệm nghiên cứu (TH1, TH2, TH3) ở cả Vòng 1 và Vòng 2 khẳng định sinh viên nhóm thực nghiệm thể hiện sự tiến bộ rõ nét về kĩ năng tự lập quy trình, tự thao tác, giải quyết vấn đề và tự đánh giá kết quả thí nghiệm so với nhóm ĐC.
    • Kết quả kiểm định t-test độc lập và giá trị Effect Size (ES) giữa hai nhóm đạt mức độ ảnh hưởng lớn theo thang đánh giá của Hopkins, khẳng định các biện pháp tác động đã mang lại sự chuyển biến thực chất về năng lực tự học và kết quả học tập của sinh viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lí luận của luận án:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lí luận về tự học, hoạt động tự học, năng lực và năng lực tự học trong đào tạo cao đẳng y dược; chỉ ra mối liên hệ biện chứng giữa các thuyết nhận thức, thuyết kiến tạo với quá trình phát triển năng lực tự học.
  • Xác định căn cứ khoa học và xây dựng thành công quy trình 5 bước xác định cấu trúc khung năng lực tự học của sinh viên Cao đẳng Y tế, bao gồm 3 năng lực thành phần và 8 tiêu chí hành vi cụ thể kèm theo bảng mô tả chi tiết các mức độ biểu hiện.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và dữ liệu thực nghiệm về thực trạng tự học, mức độ thực hiện các kĩ năng tự học của sinh viên, cũng như thực trạng sử dụng các phương pháp và công cụ đánh giá của giảng viên trong dạy học Hoá học Đại cương Vô cơ tại 6 trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ (mẫu khảo sát 24 giảng viên và 600 sinh viên thuộc 17 lớp).
  • Đề xuất và vận dụng thành công 2 biện pháp sư phạm cụ thể trong dạy học Hoá học Đại cương Vô cơ: dạy học theo dự án và dạy học thí nghiệm theo Spickler, giúp chuyển đổi quá trình dạy học truyền thống thành quá trình tổ chức hoạt động tự học chủ động.
  • Thiết kế hệ thống bộ công cụ đánh giá năng lực tự học đa dạng, đồng bộ: phiếu đánh giá của giảng viên, phiếu tự đánh giá của sinh viên, phiếu đánh giá nhóm, bảng kiểm quan sát và ma trận bài kiểm tra.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Đối với các trường Cao đẳng Y tế: Cần điều chỉnh phân bổ kế hoạch đào tạo theo tín chỉ, bố trí quỹ thời gian hợp lí cho hoạt động tự học của sinh viên; đầu tư trang thiết bị, hóa chất và phòng thí nghiệm mở để sinh viên có không gian thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu.
  • Đối với giảng viên: Cần chuyển dịch từ vai trò truyền đạt kiến thức sang vai trò thiết kế, cố vấn và tổ chức hoạt động; chủ động xây dựng các bài tập dự án gắn với ngành nghề và áp dụng phương pháp thí nghiệm Spickler; thay đổi thói quen kiểm tra trắc nghiệm đơn thuần bằng việc phối hợp các công cụ đánh giá quá trình và đánh giá đồng đẳng.
  • Đối với sinh viên: Cần nâng cao ý thức tự giác học tập; dành tối thiểu nhiều hơn mức 1 - 2 giờ mỗi ngày cho việc tự học; rèn luyện kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng đọc sách, tóm tắt tài liệu và tích cực tham gia làm việc nhóm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung trong khuôn khổ học phần Hoá học Đại cương Vô cơ tại khoa Dược của 6 trường Cao đẳng Y tế trên địa bàn khu vực Tây Nam Bộ, chưa mở rộng ra các học phần khác hoặc các khu vực địa lí khác trên cả nước.
  • Việc áp dụng phương pháp thí nghiệm theo Spickler đòi hỏi sinh viên phải có nhiều kĩ năng xử lý thí nghiệm, đồng thời làm phát sinh chi phí tốn kém về hóa chất và dụng cụ thí nghiệm, điều này gây ra khó khăn nhất định khi triển khai tại các trường có điều kiện cơ sở vật chất phòng thực hành còn hạn hẹp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và ứng dụng quy trình dạy học theo dự án cùng phương pháp thí nghiệm Spickler sang các học phần hoá học chuyên ngành tiếp theo như Hoá học Phân tích, Hoá học Hữu cơ hoặc các môn cơ sở ngành Dược khác.
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, bài giảng điện tử và hệ thống học liệu mở để hỗ trợ sinh viên vùng sâu, vùng xa thuộc khu vực Tây Nam Bộ tự học và tự nghiên cứu ngoài giờ lên lớp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Giảng viên giảng dạy bộ môn Hoá học tại các trường Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Dược: Cung cấp trực tiếp các giáo án dạy học theo dự án, quy trình chuyển đổi thí nghiệm thực hành sang hướng khảo sát Spickler và hệ thống tiêu chí, phiếu đánh giá năng lực tự học.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hoá học: Cung cấp khung phương pháp luận về quy trình 5 bước xác định cấu trúc năng lực và kĩ thuật thiết kế bộ công cụ đo lường các thành tố năng lực hành động trong nghiên cứu khoa học giáo dục.
  • Cán bộ quản lý đào tạo tại các trường cao đẳng khối sức khỏe: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết kế chuẩn đầu ra, rà soát đề cương chi tiết học phần và điều chỉnh cơ cấu phân bổ giờ học lí thuyết - thực hành - tự học trong học chế tín chỉ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khảo sát thực trạng trong luận án được tiến hành trên những đối tượng nào và ở đâu? Khảo sát thực trạng được thực hiện từ ngày 01/09/2017 đến ngày 01/11/2017 tại khoa Dược của 6 trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ (gồm An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh) với tổng số 24 giảng viên và 600 sinh viên thuộc 17 lớp học.

  2. Cấu trúc khung năng lực tự học của sinh viên Cao đẳng Y tế do tác giả đề xuất gồm những thành tố nào? Khung cấu trúc được xây dựng qua quy trình 5 bước, bao gồm 3 năng lực thành phần với 8 tiêu chí cụ thể: Năng lực lập kế hoạch tự học (2 tiêu chí: xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch); Năng lực thực hiện kế hoạch tự học (4 tiêu chí: thu thập/xử lý tài liệu, phát hiện/giải quyết vấn đề, thao tác tư duy/thí nghiệm, hợp tác trao đổi); và Năng lực đánh giá, điều chỉnh tự học (2 tiêu chí: tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh quá trình học tập).

  3. Quỹ thời gian tự học của sinh viên Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ được ghi nhận như thế nào trong khảo sát? Số liệu khảo sát cho thấy 70% sinh viên chỉ dành trung bình từ 1 đến 2 giờ mỗi ngày cho hoạt động tự học. Đây là mức thời gian rất thấp, chỉ đủ để sinh viên xem lại bài giảng trên lớp mà không đủ để đào sâu nghiên cứu tài liệu hay mở rộng kiến thức khoa học.

  4. Hai biện pháp sư phạm cốt lõi được luận án lựa chọn và thực nghiệm là gì? Hai biện pháp sư phạm được luận án đề xuất và thực nghiệm là: Dạy học theo dự án (Project Based Learning) trong các bài học lí thuyết - ứng dụng y dược và Dạy học thí nghiệm theo hướng nghiên cứu Spickler trong các bài thực hành học phần Hoá học Đại cương Vô cơ.

  5. Phương pháp dạy học thí nghiệm theo Spickler khác biệt căn bản gì so với thí nghiệm truyền thống? Khác với thí nghiệm truyền thống là dạng thí nghiệm chứng minh với quy trình từng bước cho sẵn và giảng viên hướng dẫn trước, phương pháp Spickler là dạng thí nghiệm nghiên cứu, trong đó sinh viên tự vạch ra các bước tiến hành, tự thu thập dữ liệu, phân tích hiện tượng và rút ra kết luận dưới sự hướng dẫn, giám sát an toàn của giảng viên.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Huỳnh Gia Bảo đã giải quyết một vấn đề vừa mang tính cấp thiết lí luận vừa mang tính thực tiễn cao trong đào tạo nghề nghiệp khối ngành sức khỏe. Công trình đã làm rõ cơ sở lí luận, khảo sát chi tiết thực trạng tự học tại 6 trường Cao đẳng Y tế khu vực Tây Nam Bộ, xây dựng khung năng lực tự học gồm 3 thành phần, 8 tiêu chí cùng bộ công cụ đo lường tương ứng. Việc vận dụng thành công hai biện pháp dạy học theo dự án và dạy học thí nghiệm theo Spickler qua hai vòng thực nghiệm sư phạm đã chứng minh tính hiệu quả trong việc phát triển năng lực tự học cho sinh viên học phần Hoá học Đại cương Vô cơ. Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng rõ ràng cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và quản lý đào tạo tại các trường cao đẳng y tế hiện nay.