Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ Chương 2. Vận dụng một số cấu trúc dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học phần hoá học phi kim lớp 10 trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC THEO NHÓM NHỎ 1. Đổi mới phƣơng pháp dạy học hóa học ở trƣờng phổ thông [1], [2], [3], [8], [9], [19], [20], [35] 1.
Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học [1], [2], [3], [9] 1. Sự chuyển đổi nền kinh tế của đất nước đòi hỏi sự đổi mới giáo dục Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã có những sự chuyển biến mạnh mẽ cả về chất và lượng. Nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhiều thành phần dưới sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; cùng với mục tiêu đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, tăng cường hòa nhập với các nước trong khu vực và thế giới, đòi hỏi giáo dục phải đào tạo nên những con người lao động có tính sáng tạo, thích ứng với sự phát triển nhanh và đa dạng của xã hội. Nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO hướng tới xây dựng một xã hội tri thức, xã hội phát triển…phù hợp với sự phát triển, với tốc độ nhanh của thế giới trong giai đoạn hiện nay.
Xu hướng phát triển xã hội, kinh tế đất nước đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới để đáp ứng, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội phát triển, xã hội tri thức. Xã hội tri thức là một hình thái xã hội – kinh tế, trong đó tri thức trở thành yếu tố quyết định đối với nền kinh tế hiện đại và các quá trình sản xuất, quan hệ sản xuất của nó cũng như đối với các nguyên tắc tổ chức của xã hội. Xã hội tri thức là xã hội toàn cầu hóa, trình độ giáo dục trở thành yếu tố tranh đua quốc tế, mang lại lợi ích cho đất nước. Xã hội tri thức đã đặt ra cho giáo dục những yêu cầu cơ bản cần đạt được trong thời đại ngày nay.
Từ những nội dung và yêu cầu của xã hội tri thức đã dẫn đến nhu cầu cấp thiết của sự đối mới giáo dục nói chung và đổi mới PPDH các môn học trong nhà trường nói riêng, đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung, PPDH, phương tiện và hình thức tố chức dạy học. Thực trạng của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương pháp dạy học Nền giáo dục Việt Nam trong quá trình đổi mới của đất nước cũng đã có những bước chuyển mình đáng kể. Song thực trạng giáo dục trong giai đoạn hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, với sự phát triển ngày càng hiện đại của giáo dục thế giới. Các PPDH truyền thống, tuy đã khẳng định được những thành công nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.
Phổ biến vẫn là thuyết trình, thiên về truyền thụ kiến thức một chiều áp đặt. Theo điều tra nhận xét của một số nhà giáo dục thì thực trạng giáo dục hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề như : + HS học tập thụ động do còn thiếu động lực học tập, tâm lý ỷ lại nhà trường, gia đình… + GV còn dạy theo phương pháp thông báo, ít sử dụng các PPDH tích cực… + Tiêu cực trong xã hội ảnh hưởng đến nhận thức của HS… + Nhà trường chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng, linh hoạt, sở thích của người học cả về hệ thống, nội dung, PPDH, hình thức tổ chức dạy học. Như vậy, thực trạng giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đặt ra yêu cầu cơ bản cho việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Yêu cầu quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học.
Đó cũng, là những xu hướng của quốc tế trong đổi mới PPDH ở trường phổ thông hiện nay. Phương hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông [2], [8], [20], [35] Định hướng đổi mới giáo dục đã được pháp chế hóa trong Luật Giáo dục (điều 28.2): “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS”. Với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực và xu thế hội nhập hiện nay thì đổi mới PPDH hóa học có thể thực hiện theo các hướng sau: 7 z - Cải tiến, hoàn thiện các PPDH đang sử dụng để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học. - Bổ sung, phối hợp nhiều PPDH để khắc phục mặt hạn chế của các PPDH đang sử dụng nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra.
- Thay đổi PPDH đang sử dụng bằng các PPDH mới tối ưu, kết hợp với việc sử dụng các phương tiện truyền thông đa phương tiện; từ đó hình thành nên các “kiểu dạy - học” mới với mong muốn đem lại hiệu quả cao hơn. Cơ sở phương pháp luận của việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông [3], [8], [9], [19], [20], [35] 1. Dạy học lấy học sinh làm trung tâm Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm được đánh giá là tích cực vì quan điểm này hướng việc dạy học chú trọng đến người học để tìm ra những PPDH hiệu quả. Bản chất của dạy học lấy HS làm trung tâm là: Về mục tiêu dạy học: Chuẩn bị cho HS thích nghi với đời sống xã hội.
Tôn trọng nhu cầu, hứng thú, khả năng và lợi ích của HS. Về nội dung: Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề học tập và thực tiễn, hướng vào sự chuẩn bị thiết thực cho HS hoà nhập với xã hội. Về phương pháp: Coi trọng rèn luyện cho HS phương pháp tự học, tự khám phá và giải quyết vấn đề. HS chủ động tham gia các họat động học tập.
GV là người tổ chức, điều khiển động viên, huy động tối đa vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học. Về hình thức tổ chức: Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp học linh hoạt phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học. Giáo án bài dạy cấu trúc linh hoạt và có sự phân hoá, tạo điều kiện cho sự phát triển năng khiếu của từng cá nhân. Về kiểm tra đánh giá: GV đánh giá khách quan, HS tham gia vào quá trình nhận xét đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau.
Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: tái hiện, vận dụng, suy luận và sáng tạo. Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi, HS được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc sống. 8 z Như vậy việc dạy học hướng vào người học đặt vị trí người học vừa là chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa tiềm năng của từng người học. Do đó vai trò tích cực, chủ động, độc lập sáng tạo của người học được phát huy.
Tuy nhiên, đổi mới theo hướng lấy HS làm trung tâm không có nghĩa là vai trò của người thầy trở nên mờ nhạt. Trong một tài liệu giới thiệu khá đầy đủ về PPDH lấy HS làm trung tâm, tác giả R. Baliner đã khẳng định ngay ở trang đầu: “GV là yếu tố chủ chốt quyết định việc dạy và học có chất lượng”. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học a.
Bản chất của việc đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học Nét đặc trưng cơ bản của định hướng hoạt động hoá người học là sự học tập tự giác và sáng tạo của HS. Theo định hướng đó, việc dạy học cần thực hiện: HS phải được hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động, đặc biệt là hoạt động tư duy. Các PPDH phải thể hiện được PP nhận thức khoa học bộ môn và khai thác đặc thù của bộ môn để tạo ra các hình thức họat động đa dạng, phong phú của HS trong giờ học. Chú trọng dạy HS phương pháp tự học, phương pháp tự nghiên cứu trong quá trình học tập.
Học tập và sáng tạo - vai trò mới của người GV Để hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo của HS, cách tốt nhất là đặt họ vào vị trí chủ thể hoạt động tự lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo, hình thành quan điểm đạo đức. Vì vậy cần phải coi xây dựng phong cách “Học tập sáng tạo” là cốt lõi của việc đổi mới PPDH. Trách nhiệm chủ yếu của GV là làm các công việc sau: Thiết kế: Lập kế hoạch, chuẩn bị kế hoạch dạy học, bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức (tức là soạn giáo án theo những yêu cầu mới, có chỉ rõ mục tiêu, nội dung, cách tổ chức và điều khiển hoạt động của HS, chỉ rõ hệ thống hoạt động của HS). Ủy thác, tạo động cơ: Biến ý đồ của dạy học của GV thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của HS.
9 z Điều khiển: Điều khiển và tổ chức hoạt động của HS theo cá nhân hay nhóm, kể cả điều khiển về mặt tâm lý, bao gồm sự động viên, trợ giúp, đánh giá. Thể chế hoá: Biến những kiến thức riêng của từng HS thành tri thức khoa học của xã hội mà HS cần tiếp thu, tạo điều kiện cho HS vận dụng tri thức thu được để giải quyết một số vấn đề liên quan trong đời sống và sản xuất.