đặt vấn đề trong bài giảng. - Đặc biệt luận văn của tôi sử dụng phần mềm phân tích video nhằm kiểm chứng kết quả suy ra từ lí thuyết và kết quả suy ra từ thực nghiệm. Quan điểm về năng lực sáng tạo 1. Năng lực sáng tạo “Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” (Sáng tạo, bách khoa toàn thư Liên Xô, tập 42, trang 54) [14].
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. Như vậy, sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng cách suy luận logic hay bắt chước làm theo mà nó là sản phẩm của tư duy trực giác [14]. Phát triển tư duy và năng lực sáng tạo của học sinh Sự sáng tạo xuất hiện trong quá trình tư duy trực giác. Trong sáng tạo, tri thức được thu nhận một cách nhảy vọt, một cách trực tiếp, các giai đoạn của nó không thể hiện một cách minh bạch và người suy nghĩ không thể chỉ ngay ra làm thế nào mà họ đi đến được quyết định đó, con đường đó, phải sau này mới xác lập được logic của phỏng đoán trực giác đó.
Đặc trưng tâm lí quan trọng của hoạt động sáng tạo là tính chất hai mặt chủ quan và khách quan: chủ quan theo quan điểm của người nhận thức mà 9 trong đầu họ đang diễn ra quá trình sáng tạo và khách quan theo quan điểm của người nghiên cứu quá trình sáng tạo xem như một quá trình diễn ra có quy luật, tác động qua lại giữa ba thành tố là tự nhiên, ý thức con người và sự phản ánh tự nhiên vào ý thức con người. Đối với người sáng tạo thì tính mới mẻ, tính bất ngờ, tính ngẫu nhiên của phỏng đoán đều là chủ quan. Đối với các nhà khoa học thì chỉ những phát minh mà loài người chưa từng biết đến mới được coi là sự sáng tạo. Còn đối với HS thì sáng tạo là tạo ra cái mới đối với bản thân mình, chứ GV và nhiều người khác có thể biết rồi.
Bởi vậy hoạt động sáng tạo của HS mang ý nghĩa là một hoạt động tập dượt sáng tạo hay sáng tạo lại. Điều quan trọng cần đạt được không phải là những sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ, khả năng này sẽ luôn được HS sử dụng trong hoạt động thực tiễn sau này, kể cả khi kiến thức mà họ thu nhận được đã bị lãng quên [14]. Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong học tập - Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới: tổ chức quá trình nhận thức của HS theo chu trình sáng tạo sẽ giúp cho HS dễ nhận biết được chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải xây dựng kiến thức mới, đưa ra giải pháp mới. Có như vậy mới giúp hoạt động sáng tạo của HS có hiệu quả, tiết kiệm công sức, rèn luyện tư duy trực giác nhạy bén, phong phú.
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết: dự đoán có vai trò quan trọng trên con đường khoa học, nó là sự khởi đầu của tất cả các phát minh mới, sáng tạo mới. Có thể có các cách dự đoán sau đây trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức Vật lí của HS: + Dựa vào sự liên tưởng với vốn kiến thức đã có. + Dựa trên sự tương tự. + Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán chúng có quan hệ nhân quả.
10 + Dựa trên sự thuận nghịch của quá trình biến đổi. + Dựa trên sự mở rộng phạm vi áp dụng một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác. + Dự đoán về mối quan hệ định lượng. - Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán: trong nghiên cứu Vật lí, một dự đoán, một giả thuyết thường là sự khái quát các sự kiện thực nghiệm nên nó có tính chất trừu tượng, thường không thể kiểm tra trực tiếp.
mà yêu cầu đặt ra là phải kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán, giả thuyết. Điều đó có nghĩa, từ dự đoán, giả thuyết ban đầu ta phải suy ra hệ quả có thể quan sát thực tế, sau đó tiến hành thí nghiệm rút ra các kết luận cần thiết. Vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo ở đây là đề xuất được phương án kiểm tra hệ quả đã rút ra được. - Giải các bài tập sáng tạo: với loại bài tập này, ngoài việc vận dụng một số kiến thức đã học, HS bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học.
Có hai loại bài tập sáng tạo: bài tập nghiên cứu và bài tập thiết kế chế tạo [14]. Hoạt động nhận thức và tính tích cực hoạt động nhận thức của HS 1. Hoạt động nhận thức của học sinh Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn.Lênin đã chỉ rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là:“Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” 16. Đối với lứa tuổi học sinh, hoạt động nhận thức chủ yếu của các em là hoạt động học tập.
Hoạt động học tập của học sinh có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung, bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: Một bên là động cơ, mục đích, điều kiện và bên kia là hoạt động, hành động và thao tác [25]. 11 Động cơ Hoạt động Mục đích Hành động Phương tiện, ĐK Thao tác Hoạt động nào cũng có đối tượng. Thông thường, các hoạt động khác có đối tượng là một khách thể, hoạt động hướng vào làm biến đổi khách thể. Trong khi đó, hoạt động học lại làm cho chính chủ thể (người học) biến đổi và phát triển.
Đối tượng của hoạt động học là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần chiếm lĩnh. Nội dung của đối tượng này không hề bị thay đổi sau khi bị chiếm lĩnh, nhưng nhờ có sự chiếm lĩnh này mà các chức năng tâm lý của chủ thể mới được thay đổi và phát triển. Vật lí học là một môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu cũng như học tập đều dựa trên cơ sở quan sát, thí nghiệm để phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trìu tượng hóa thành các khái niệm, định luật, thuyết Vật lí… rồi từ lý thuyết vận dụng nghiên cứu các sự vật, hiện tượng ở phạm vi rộng hơn. Do vậy, để tổ chức hoạt động nhận thức, tạo điều kiện cho HS tự khám phá kiến thức, GV cần tổ chức tốt quá trình quan sát và tư duy cho HS.
Trong dạy học Vật lí có thể có nhiều loại quan sát như: quan sát thí nghiệm, quan sát hiện tượng tự nhiên, quan sát một bài thực nghiệm… 1. Tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh 1. Tính tích cực (TTC) Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội. Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, sáng tạo nền văn hóa ở mỗi thời đại, chủ 12 động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội.
Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng 7. Tính tích cực nhận thức (TTCNT) Tính tích cực nhận thức (TTCNT) là tính tích cực xét trong điều kiện, phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của HS. Theo giáo sư Trần Bá Hoành dẫn theo 13. “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức”.
TTCNT bao gồm: Sự lựa chọn đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng nhằm cải tạo nó. Tính tích cực trong hoạt động cải tạo đòi hỏi phải có sự thay đổi trong ý thức và hành động của chủ thể nhận thức, được thể hiện bằng nhiều dấu hiệu như sự tập trung chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích, tổng hợp sâu sắc… 1. Những biểu hiện của TTC hoạt động nhận thức Trong học tập, HS chỉ có thể chiếm lĩnh được kiến thức và phát triển được tư duy của mình khi họ tích cực hoạt động nhận thức. Hoạt động nhận thức là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình học tập của HS.
Để phát hiện xem HS có tích cực hoạt động nhận thức không ta có thể dựa vào các dấu hiệu: [16]. * Dấu hiệu bên ngoài (qua hành vi, thái độ, hứng thú): - Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng - Chú ý quan sát, chăm chú lắng nghe và theo dõi những gì thày cô làm. - Giơ tay phát biểu, nhiệt tình hưởng ứng, bổ sung ý kiến vào câu trả lời của bạn và thích tham gia vào các hoạt động cũng là một biểu hiện của hứng thú. Dấu hiệu bên trong có thể cụ thể hóa qua một số câu hỏi: - Học sinh có chú ý, tập trung tư tưởng học tập không? - Có hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập không? (Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép…).
13 - Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không? - Có thường xuyên hỏi thày cô, trao đổi với bạn bè, tích cực tham gia học nhóm, tổ không?